"Đúng là câu chuyện hợp ý tôi quá," Nhà Thơ kêu lên; "người ta có thể hiểu được vị anh hùng da ngăm đen Scanderbeg của anh, với găng tay sắt và ủng trên chân, và thành thạo mọi binh pháp chiến tranh, cưỡi ngựa qua các vùng đất Albania, và dõi theo vì sao may mắn đã chiếu rọi cho ông trên bầu trời Ak-Hissar."
Nhà Thần Học liền tiếp lời với một lời ca ngợi không kém phần chân thành, dẫu cho kết thúc bằng một câu châm chọc; "Người anh hùng của thơ ca và lãng mạn sinh ra," ông nói, "là để dẹp bỏ bất công; và tôi hoàn toàn tán thành; thế nhưng hành động phản bội nhỏ nhoi ấy với viên Thư Sách chẳng làm cho danh tiếng vị anh hùng của anh rạng rỡ thêm chút nào."
Cậu Sinh Viên ca ngợi những ngày xưa tốt đẹp và thích nhịp điệu rộn ràng của những vần thơ, dường như mang âm hưởng tiếng vó ngựa vang dội; nhưng lại khao khát được nghe thêm đôi điều về nhà biên sử già Ben Meir, và nơi có thể tìm thấy cuốn sách của ông. Người Nhạc Sĩ cao gầy đi đi lại lại trong phòng với đôi tay khoanh trước ngực và đôi mắt rực sáng, cứ như thể anh đang nhìn thấy những người Viking trỗi dậy, những cái bóng khổng lồ trong chạng vạng tối; và anh say sưa bàn luận về chiến công của họ, cùng những hiện tượng sao băng trên bầu trời phương Bắc, và tiếng kèn của Heimdal, cùng ngày tận thế. Thế nhưng chàng trai xứ Sicilia lại bật cười; "Đây chính là lúc để cười," anh nói, vì toàn bộ câu chuyện mà anh thừa biết chỉ là một sự bị đặt của người Do Thái, được dệt nên từ những sợi tơ nhện trong bộ óc hắn, và mang cùng một sắc đỏ rực rỡ như Câu chuyện về Kambalu.
Chỉ có Chủ Quán là không nói một lời; người ta hoài nghi không biết ông có nghe thấy câu chuyện nào không, bởi bận tâm quá mức về số phận đang lơ lửng trước mắt, giống như thanh gươm của Damocles, treo trơ trọi và lạnh lẽo trên đầu ông, chỉ được giữ lại bằng một sợi tóc mảnh mai, khiến ông chẳng thể ngồi yên nổi, mà cứ thở dài thườn thượt với vẻ mặt ủ rũ, trằn trọc không yên trên ghế, luẩn quẩn suy tính cách né tránh nhát chém đang giáng xuống.
Cậu Sinh Viên đến giải vây cho ông bằng cách cất giọng thoải mái hướng về phía Nhà Nhạc Sĩ: "Hãy dẹp nỗi buồn đi, chàng Apollo phương Bắc tuấn tú của tôi, Balder Đẹp Đẽ và vân vân; dẫu cho cây đàn lia hay đàn luýt thần kỳ của anh đang đứt dây nằm im lìm, thì anh vẫn có thể kể một câu chuyện sầu thảm nào đó về một vụ đắm tàu trong cơn bão nửa đêm, hoặc một chuyện tương tự để phù hợp với tâm trạng của chúng ta tối nay, vốn đang chuộng những điều kỳ lạ và huyền bí; thế nên hãy thả trí tưởng tượng bay bổng của anh ra, và chúng tôi sẽ cùng bay theo nó."
Nhưng Nhà Nhạc Sĩ lắc đầu; "Tối nay tôi chẳng kể câu chuyện nào đâu," anh nói, "khi mà nhạc cụ tội nghiệp của tôi đang nằm đó, giống như một đứa trẻ với ánh mắt ngây dại đang nằm chết trong chiếc quan tài nhỏ bé của nó."
Thế nhưng, trước những lời nài nỉ, cuối cùng anh cũng lên tiếng: "Từ Quá Khứ vọng về trong tôi một giọng ca, với những âm điệu ngọt ngào và hoang dại, cất lên một khúc ca tựa như thần thánh, ẩn chứa giọt nước mắt trong từng câu thơ; một bản ballad cổ, mà vú nuôi của tôi từng hát cho tôi nghe khi tôi còn là một đứa trẻ, với giọng điệu dịu dàng như câu thơ; và đôi khi bà khóc, đôi khi lại mỉm cười khi cất giọng ca, để nhìn thấy vẻ ngạc nhiên hiện lên trong đôi mắt tôi, và cảm nhận trái tim tôi đập rộn ràng. Bản ballad giản dị ấy vẫn còn khắc ghi rõ ràng trong tâm trí tôi, và giờ đây sẽ được kể lại như một câu chuyện."