Tôi rất muốn ghi lại những suy nghĩ và trải nghiệm trong cuộc đời mình. Tôi muốn làm điều đó ngay khi đã bước vào tuổi trung niên, khi mọi quan điểm đã rõ ràng và kịch bản cuộc đời đã an bài. Tôi cảm thấy nỗi nhọc nhằn của việc viết lách và nghiền ngẫm lại có thể giúp làm sáng tỏ và đúc kết nhiều điều hãy còn đôi chút mơ hồ trong tâm trí tôi, bởi chúng chưa bao giờ được bày tỏ trọn vẹn, và tôi muốn khám phá bất kỳ sự mâu thuẫn ẩn giấu hay khoảng trống bất ngờ nào. Hơn nữa, tôi có một câu chuyện. Tôi đã trải qua những biến cố từng thử thách tôi đến tận cùng. Tôi muốn kể lại câu chuyện ấy thật trọn vẹn trong khả năng của mình, khi tôi vẫn là một người minh mẫn, năng nổ, và khi nhiều chi tiết có lẽ chẳng bao lâu nữa sẽ trở nên mờ nhoạt và đổi thay vẫn còn tươi mới trong tâm trí. Và có một người đặc biệt mà tôi muốn nghĩ rằng mình đang viết cho, chính là con, đứa con trai duy nhất của ta. Ta muốn viết câu chuyện của mình không phải cho đứa trẻ mà con đang là lúc này, mà cho người đàn ông mà con sẽ trở thành trong tương lai.
Con mang một nửa dòng máu của ta và về mặt tính cách thì hoàn toàn là của ta. Sẽ đến một ngày con nhận ra điều này, và muốn biết cuộc đời đã đối xử với ta ra sao, và khi ấy có lẽ đã quá muộn để ta trả lời những thắc mắc của con. Ta có thể đã trở nên xa cách như những người già đôi khi vẫn thế. Thế nên ta nghĩ đến việc để lại cuốn sách này cho con—dù sao đi nữa, ta sẽ viết nó như thể ta định để lại cho con vậy. Sau đó ta có thể cân nhắc xem có thực sự nên để lại nó hay không...
Ý định viết một cuốn sách thế này đến với ta lần đầu tiên khi ta ngồi bên thi hài của ông nội con—tính là cha ta. Chính vì ta từng khao khát có được một cuốn sách như thế từ ông biết bao, nên giờ đây ta mới viết những dòng này. Chắc con cũng biết, ông chỉ mới qua đời cách đây vài tháng, và ta đã về nhà ông để lo liệu tang ma cũng như giải quyết mọi bề gia thất.
Đã có lúc ông là người bạn lớn nhất của ta. Quả thực, ông chưa từng bao giờ nói với ta về bản thân hay thời trẻ của mình, nhưng ông luôn tỏ ra vô cùng đồng cảm và sẵn sàng giúp đỡ ta trong mọi nỗi rối ren và hoang mang mà ta sa vào. Điều đó đã không kéo dài đến tận cuối đời ông. Ta là đứa con sinh ra khi ông đã ở tuổi trung niên, và rồi đột nhiên, chỉ trong vòng một năm hoặc ít hơn thế, bức màn của tuổi già và bệnh tật đã buông xuống giữa hai cha con. Một cơn bạo bệnh ập đến, một ca phẫu thuật, và ông gượng dậy với thân hình đau yếu, tàn tạ, còi cọc và đổi khác hoàn toàn. Trong tất cả những bóng tối đè nặng lên đời người, ta cho rằng sự biến đổi do bệnh tật và suy thoái thể chất nơi tâm tư, tinh thần của những người thân yêu và gắn bó với ta mới là điều tệ hại, đau đớn và khó hiểu nhất. Thoắt cái, ông đã thành một kẻ khác, một con người cáu kỉnh và đáng thương, cần được dung túng và hy sinh cho.
Chẳng bao lâu sau, một tình thế mới đã được thiết lập. Ta không còn coi ông là người mà ta có thể tâm sự mọi điều, hay người mà ta có thể mong đợi sự giúp đỡ hay lời khuyên. Tất cả chúng ta đều không còn coi ông theo cách đó nữa. Chúng ta chiều chuộng ông, bày biện những điều vui vẻ trước mặt ông, che giấu mọi thứ gai góc khó chịu. Quả thật, ông là một lão ông tội nghiệp trong những năm tháng cuối đời, yếu ớt chống lại lòng tốt kiên quyết của người chị họ ta, người vừa làm quản gia vừa là y tá chăm sóc ông. Con người từng một thời nhanh nhẹn ấy giờ đây có lúc lại tỏ ra dửng dưng đến ngạc nhiên. Đôi khi, một nét ác ý tinh quái mà ta chưa từng thấy ở ông trước kia lại lóe lên qua những hành động và lời nói nhỏ nhặt. Lời nói của ông lan man, và phần lớn xoay quanh những tranh chấpn nhỏ nhặt đã lùi vào dĩ vãng từ lâu. Giọng ông ngọng nghịu và khó nghe vì mới rụng răng, và ông thèm rượu mạnh để lấy lại dẫu chỉ trong chốc lát cảm giác mạnh mẽ và sung sức cứ thế cạn kiệt dần ở ông. Thế nên, khi cuối cùng ta ngắm nhìn gương mặt đã khuất của ông, ta đã kinh ngạc dường nào khi thấy ông thật trang nghiêm và đẹp đẽ—trang nghiêm và đẹp đẽ hơn cả khi ông còn đang ở thời kỳ sung mãn nhất của cuộc đời.
Mọi sự xa cách của những năm tháng cuối đời bỗng chốc tan biến khỏi tâm trí ta khi ta ngắm nhìn gương mặt ấy. Một dòng ký ức ùa về, về những nét dịu dàng, mạnh mẽ, kiên nhẫn và đầy tính người trong tình phụ tử của ông. Và ta nhớ lại—như bất kỳ người con nào cũng phải nhớ, ngay cả con, con yêu của ta, rồi một ngày nào đó cũng sẽ nhớ bởi đó chính là bản chất của đạo làm con—những lần bất tuân, những cuộc đấu tranh, sự vô ơn, những ơn nghĩa lớn lao đón nhận mà không biết ơn, những sự khinh miêt và hờ hững. Thứ ta cảm thấy không phải là sự cắn rứt hay hối hận, mà là một nỗi tiếc nuối vô hạn vì mọi chuyện đã diễn ra như thế và cuộc đời vốn dĩ là vậy. Tại sao lại thế nhỉ, ta đã nghĩ, khi một đứa con đã trưởng thành mà không thể coi cha mình là một bạn tâm giao? Ta mang một cảm giác kỳ lạ về sự hòa quyện chưa từng có khi đứng bên ông lúc bấy giờ. Ta cảm thấy như ông hiểu được suy nghĩ của mình; gương mặt ông dường như đáp lại bằng vẻ điềm tĩnh và đầy cảm thông kiên nhẫn.
Ta chợt nhận ra những khoảng trống đến kinh ngạc. Cha con ta chưa từng bao giờ trò chuyện với nhau về tình yêu, cũng chưa bao giờ nói về tôn giáo.
Đủ mọi thứ mà một thanh niên hai mươi tám tuổi không bao giờ mơ tới chuyện giấu giếm một người bạn cùng trang lứa thì ông lại giấu ta. Trong mấy ngày liền, ta phải ở lại nhà ông, phải lục lọi giấy tờ của ông, chạm vào tất cả những đồ đạc cá nhân riêng tư cứ tích tụ dần quanh một con người qua từng năm tháng—những bức thư, những mẩu báo ngả vàng, những kỷ vật được giữ lại, những dấu tích tình cờ, những đống giấy tờ lộn xộn mang nhiều ý nghĩa. Ta đã biết được nhiều điều mà ta chưa từng mơ tới. Có những lúc ta tự hỏi liệu mình có đang xía vào chuyện riêng tư không, liệu ta có nên liều lĩnh chịu mất đi những thông tin pháp lý cần thiết mà ta đang tìm kiếm để đem đốt hết những giấy tờ này mà không thèm đọc. Ở đó có những bức thư tình, và rất nhiều thứ cảm động như thế.
Ký ức của ta về ông không thay đổi vì những ánh sáng mới mẻ này, nhưng chúng trở nên rực rỡ một cách kỳ lạ. Ta hình dung ra ông thời trẻ, ta bắt đầu nhìn thấy ông khi còn là một thiếu niên. Ta tìm thấy một cuốn sách thực vật học đóng gáy một nửa với những hình minh họa tô bằng bản mẫu, một phần thưởng hạnh phúc mà cha ta từng giành được ở trường chuẩn bị; một tờ giấy cuộn tròn, bị than hóa, khô khốc và giòn tan, lộ nguyên hình là một bản tập viết, cứng nhắc vì những nỗ lực của tuổi thiếu nhi, được trang trí bằng những nét uốn lượn đầy tham vọng nhưng run rẩy và vẫn còn để lộ những đường kẻ bút chì mà lẽ ra cục tẩy của ông phải xóa sạch. Chữ viết của con bây giờ đã đẹp hơn thế rồi. Và ta tìm thấy một bức ảnh Đaguer (daguerreotype) chụp ông mặc quần lửng đứng dựa vào hàng rào kiểu nhà quê của thợ ảnh. Gương mặt ông hồi đó trông không khác con là mấy. Ta cầm vật ấy trên tay bên chiếc bàn làm việc nhỏ trong phòng ngủ của ông, và nhìn gương mặt đã khuất của ông.
Bức chân dung vẽ phẳng phiu của cha ông, tức ông cố của con, treo ở đó trong sự tĩnh lặng phía trên cỗ quan tài, phóng tầm mắt ra thế giới mà ông đã bỏ lại bằng đôi mắt xanh điềm đạm, hóm hỉnh cứ dõi theo người ta đi quanh phòng,—bức tranh ấy cũng được hồi sinh, được thổi hồn vào thực tại và sự hiện diện bởi cái này cái khác, trở thành một sự hiện diện sống động trong một hội nghị của những cuộc đời. Những đồ vật của ông cũng nằm ở đó giữa đống tích tụ của cuộc đời ấy...
Chúng ta ở đó, ba thế hệ nhà Stratton bên nhau, và ở dưới phòng ăn là những bức tranh khắc thép đưa chúng ta ngược về quá khứ thêm hai thế hệ nữa, và tất cả chúng ta đều đã sống những cuộc đời trọn vẹn, đã chịu đựng, đã mưu cầu, đã tạo nên dấu ấn. Ta chợt thoáng thấy chuỗi tiếp nối dài lâu của nhân loại. Ta thầm nghĩ, chúng ta đã tích lũy biết bao nhiêu là nhà kho tư tưởng và trải nghiệm đồ sộ không sao với tới nổi; chúng ta hiện hữu thật nhiều, nhưng truyền lại cho đời sau thật ít. Mỗi chúng ta chẳng qua chỉ là một biến thể, một cuộc thử nghiệm trên chủ đề nhà Stratton. Tất cả những gì ta đang cầm trong tay lúc này chỉ là những gợi ý và dấu vết mỏng manh nhất, dẫu có xúc động và đáng ngạc nhiên thật đấy, nhưng lại ngẫu nhiên và rời rạc về những sự lặp lại đã bị xóa nhòa ấy. Con người là sinh vật đang dần biết diễn đạt ý nghĩ của mình, và tại sao những người đàn ông ấy lại để lại phần lớn câu chuyện trong bóng tối—để rồi bị mai một và lãng quên? Tại sao tất cả chúng ta cứ phải lặp lại những điều đã làm, và lại phải trải qua những đớn đau cay đắng để đạt tới sự khôn ngoan mà các bậc cha chú đã đạt được trước chúng ta? Ông nội ta ở đó đáng lẽ phải để lại cho ta điều gì đó tốt đẹp hơn là sự bí ẩn tĩnh lặng từ ánh nhìn của ông. Toàn bộ cuộc đời ta cho đến nay đã trôi qua trong việc học hỏi một cách đầy đau đớn những điều mà bao người đã học trước ta; ta đã dành phần lớn khoảng thời gian của bốn mươi năm cuộc đời để tìm kiếm một thứ mục đích cho những thập niên bất định và suy tàn còn lại. Chẳng lẽ đã đến lúc các thế hệ xích lại gần nhau và giúp đỡ lẫn nhau rồi sao? Phải chăng ngay từ bây giờ, chúng ta không thể bắt đầu tận dụng tốt hơn những trải nghiệm cuộc đời để các con trai chúng ta không phải hoài phí bản thân quá nhiều, chẳng lẽ chúng ta không thể đúc kết thành sách những thực tế hỗn độn và đa dạng của một đời người để mọi người có thể đọc trong chừng một tiếng đồng hồ hay sao? Chắc chắn thời điểm cho điều đó đang đến, khi một nền văn học riêng tư mới ra đời, và các bậc cha mẹ đằng sau vai trò những người cai quản, bảo vệ và trụ cột, sẽ chuẩn bị những hồ sơ chân thực và thân tình về suy nghĩ cũng như cảm xúc của họ, kể lại như cách người ta trò chuyện với những người ngang hàng, không có sự bề trên, không dè dặt hay giữ kẽ, để rồi khi họ đã khuất, con cái họ có thể tái khám phá họ như những người bạn đồng trang lứa.
Khát vọng bộc lộ bản thân ấy thực ra đã gần như trở thành bản năng của rất nhiều người trong chúng ta. Con người vốn có khuynh hướng tạo ra một thứ trí tuệ truyền thống. Đối với ta, cuốn sách mà ta đang trăn trở này là một nhu cầu. Ta chỉ cách một thảm kịch đắng cay và sự mất mát một người bạn thân thiết như sinh mạng đối với mình mới chừng một năm rưỡi. Điều đó cứ hiện diện mãi trong tâm trí ta. Cô ấy đã mở lòng với ta như rất ít người chịu mở lòng với ai. Theo một cách nào đó, bé Stephen ơi, cô ấy đã chết vì con. Và hoàn cảnh của ta lúc này là chẳng có lấy một ai để trò chuyện thật cởi mở về cô ấy. Người duy nhất khác mà ta hay trò chuyện lại là người mà ta không thể nhắc đến cô ấy; thật kỳ lạ, dẫu chúng ta yêu thương và tin tưởng lẫn nhau nhường nào, nhưng sự việc lại là thế; con sẽ hiểu điều đó rõ hơn khi câu chuyện này dần mở ra. Trong suốt tám năm đằng đẵng trước cuộc khủng hoảng kết thúc bằng cái chết bi thảm của cô ấy, ta chưa từng gặp lại cô ấy; thế nhưng, hoàn toàn tách biệt khỏi cú sốc và những nỗi đau đớn của thời gian đó, sự kiện ấy đã để lại trong ta sự cô độc và hoang vắng đến kỳ lạ.
Và đã có một vẻ hùng tráng đầy kinh hoàng trong hành động cuối cùng ấy của cô ấy, thứ đã chiếm lĩnh sâu sắc trí tưởng tượng của ta; nó đã đan xen vào mọi thứ khác trong tâm trí ta, giờ đây nó chi phối mọi vấn đề. Ta không tài nào thoát khỏi nó, trong khi tâm sự vẫn còn bị kìm nén chưa thể thốt lên... Có lẽ khi đã viết những điều này cho con, ta sẽ chẳng bao giờ cho con xem hay để lại cho con thấy. Thế nhưng ta vẫn phải viết. Trong tất cả mọi người có thể hình dung được, khi con trưởng thành, con chính là người có khả năng thấu hiểu nhất.