Một ngày cuối tháng Hai, tôi thấy mình đang ở Vevey. Tôi từ Montana trở xuống khi thời tiết chuyển mùa bão bùng; ở đó, tôi từng gặp vài người quen thời học ở Oxford và đã học được cách trượt tuyết. Tôi cũng kịp làm quen dăm ba xã giao hời hợt vốn thường thấy tại các khách sạn thể thao mùa đông, nhưng giờ đây tất cả bọn họ đều đã trở về Anh quốc, bỏ lại tôi bơ vơ một mình. Tôi vẫn chán nản, giận dữ và bất hạnh, ngập chìm trong sự tự trách cùng nỗi uất hận ê chề, thế rồi — hệt như bầu trời đôi khi bất ngờ phá vỡ mây giông — một luồng tâm trạng mới bắt đầu nảy sinh trong tôi. Chúng đến thật bất ngờ. Một buổi chiều sáng sủa và quang đãng, tôi ngồi trên bức tường chạy dọc dưới hàng cây bạch dương ven bờ hồ, thầm ghen tị với tất cả những con người đang chuẩn bị trở về nước để làm việc và cống hiến. Tôi nghĩ về bản thân mình, về sự nghiệp đã lụi tàn, danh dự vấy bẩn, và phẩm giá khi bị thử thách thì lại chẳng ra gì. Xét về chính trị Anh quốc, cánh cửa tương lai của tôi đã khép lại vĩnh viễn. Ngay cả sau ba năm, thật khó mà tin các nhà lãnh đạo đảng phái còn buồn đoái hoài đến tôi thêm lần nữa. Hơn nữa, tôi cảm thấy mình chẳng khác nào một kẻ tàn phế. Bản ngã thứ hai của tôi, người bạn đồng hành và là chỗ dựa cho tâm trí tôi, đã rời xa. Tôi chẳng khác gì một kẻ cụt tay cụt chân. Cuộc đời tôi đã bị tuyên án tử; tôi đã gia nhập hàng ngũ những kẻ lưu vong người Anh lang thang, què quặt về mặt đạo đức.
Tôi ngẩng đầu lên. Mặt trời đang lặn, một thứ ánh sáng ấm áp bao trùm lên dãy núi Savoy đang mờ dần trong sương và trên tấm gương soi lấp lánh của mặt hồ. Không gian rộng lớn, yên bình và rực rỡ ấy đã thu hút và giữ chân tôi. "Đời ta tiêu thật rồi." Ánh sáng trên mặt hồ và trên những ngọn núi, dáng chim lao vút xuống mặt nước cùng một điều gì đó thắt thẻo trong tim đã phủ nhận hoàn toàn ý nghĩ đó.
“Thật vớ vẩn!” Tôi tự nhủ, và cảm thấy như thể một đám mây đen từng bao trùm lấy mình vừa bị đẩy lùi sang một bên.
Tôi đăm đăm nhìn sang bên kia xứ Savoy cứ như thể mảnh đất ấy vừa cất lời. Tại sao tôi lại để toàn bộ cuộc đời mình bị chi phối bởi những sai lầm và biến cố chỉ trong một năm ngắn ngủi đầy phiêu lưu ấy chứ? Tại sao tôi lại phải trở thành nô lệ cho một chuỗi hệ lụy? Suốt thời gian qua mình đã mơ mộng những gì thế này? Đằng kia là những vùng cao nguyên khổng lồ mà tôi chưa từng thấy và chưa từng đặt chân tới; xa hơn nữa là những đồng bằng và thành phố lớn, rồi xa hơn nữa là đại dương bao la, cứ thế mãi, những không gian rộng lớn và vô vàn điều kỳ diệu quanh khắp quả địa cầu này. Những gì tôi đã làm, những gì tôi đã không làm, những hy vọng bị bóp nghẹt, những giọt nước mắt và niềm phẫn nộ ấy, có nghĩa lý gì trước thế giới đó? Và bằng một cách thức kỳ lạ nào đó, suy nghĩ ấy chiếm lấy tâm trí tôi sâu sắc đến mức câu hỏi dường như kéo theo một hệ quả còn ngỡ ngàng hơn nhiều: vậy thì đối với tôi, chúng có nghĩa lý gì nữa? “Hãy bước ra khỏi cái vỏ bọc của chính mình,” những ngọn núi và vẻ đẹp của muôn loài vang lên. “Bất cứ điều gì anh đã làm hay đã chịu đựng đều chẳng thấm là bao so với nguồnân huệ vô tận mà cuộc sống ban tặng. Chúng tôi chính là anh, cũng như quá khứ chính là anh vậy.”
Cảm giác ấy tựa như tôi vừa chợt nhớ ra — sau bao ngày quên lãng — rằng cuộc sống này phong phú và vô tận biết nhường nào. Tựa như những lời răn dạy mà Tarvrille từng bỏ ngỏ dành cho tôi bỗng nảy mầm trong cõi u uất của tâm trí và giờ đây đã trổ sinh hoa trái...
Tôi không sao giải thích nổi tâm trạng ấy xuất phát từ đâu; tôi đang cố gắng hết sức để mô tả nó, dẫu việc miêu tả chẳng hề dễ dàng chút nào. Và tôi e rằng với bạn — những người mà tôi hy vọng chưa từng trải qua những bóng tối khổ đau như tôi từng đi qua — việc truyền tải niềm phấn khích tột độ ấy là điều bất khả thi... Tôi nhớ có lần tôi ngồi thuyền rời khỏi những hang động ở Han sau hai tiếng đồng hồ chìm trong bóng tối, để rồi bắt gặp ánh sáng ban ngày bình dị chẳng có gì là đặc biệt ấy, thế mà ánh sáng rực rỡ phía trước lúc bấy giờ trông cứ như tiếng kèn hòa vang và những tiếng reo hò, như những lá cờ bay phấp phới và như ánh bình minh ló dạng. Trạng thái giải thoát trong tôi lúc này cũng y như vậy.
Có một câu của Peter E. Noyes — kẻ vang bóng kỳ lạ gợi nhắc đến Emerson mà người ta cứ mãi tái phát hiện rồi lại lãng quên, một câu nói cứ bám rễ trong tâm trí tôi: — “Mỗi linh hồn sống đều là người thừa kế của một đế chế nhưng lại sa chân vào một cái hố.” Đó là một hình ảnh vô cùng thích hợp để diễn tả sự thay đổi trong thái độ tinh thần của tôi, đồng thời làm nổi bật sự tương phản giữa những vướng bận cá nhân đầy mãnh liệt từng kìm kẹp tôi với điền trang rộng lớn của cuộc đời vốn trải dài quanh tất cả chúng ta, rộng mở cho bất cứ ai biết nỗ lực thoát khỏi cái tôi cá nhân nhỏ bé để vươn tới một cái tôi bao la hơn. Tôi có cảm giác như mình đang bám lơ lửng ở miệng chiếc giếng cũ kỹ và đau khổ, ngắm nhìn sự vĩ đại chưa từng tưởng tượng nổi của thế giới, với một làn gió chưa từng dám hy vọng từ thiên đường thổi thốc vào mặt.
Tôi cho rằng dụng ý của cụm từ “tìm thấy ơn cứu độ” theo cách gọi của những người theo tôn giáo chính là trải nghiệm này đây. Nếu nó không phải là một thì cũng là điều gì đó vô cùng gần gũi. Tựa như có ai đó đang trèo lên khỏi một cái hố sâu để đến với sự khoáng đạt — một sự khoáng đạt mà bất kỳ ai cũng có thể vươn tới, miễn là họ nhận ra nó thực sự tồn tại.
Tôi xin nhường lại những sự phân định tinh tế ấy cho các nhà thần học. Chỉ biết rằng tôi đã quay trở lại khách sạn ở Vevey với một tâm hồn được chữa lành, ý chí đã phục hồi, và những ý tưởng trong đầu bắt đầu kết thành kế hoạch. Và tôi biết chắc rằng, ngày hôm ấy, tôi đã bước ra ngoài như một kẻ tan nát và rệu rã.