Chúng ta, những người Anh ở Ấn Độ, trông mới xa lạ làm sao, như một đồn binh nhỏ nhoi rải rác. Liệu chúng ta có là gì hơn ngoài sự tình cờ, có hơn gì một kẻ đưa thư đã mang sức sống của nỗ lực canh tân hướng tới nền văn minh vượt qua những cánh cổng của phương Đông chăng? Chúng ta là những kẻ kiến tạo hay chỉ là một phương tiện, bị các thế lực vĩ đại của Thượng Đế tình cờ nắm lấy và sử dụng?
Tôi không biết, chưa bao giờ tôi có thể cắt nghĩa được. Tôi chưa bao giờ có thể quyết định xem chúng ta là dân tộc vĩ đại nhất hay tẻ nhạt nhất.
Tôi nghĩ chúng ta là một dân tộc giàu trí tưởng tượng, với một trí tưởng tượng vừa vĩ đại, anh hùng lại vừa rụt rè, và đồng thời chúng ta cũng là một dân tộc mang sự kiềm chế và kỷ luật kỳ lạ nhưng lại chưa từng bị khuất phục hay lép vế... Đó là những mâu thuẫn rành rành khi phát biểu, thế nhưng còn cách nào khác để diễn tả nghịch lý của tính cách Anh và cảnh tượng này: một nhúm người câm lặng, hợm hĩnh, bề ngoài có vẻ không thông minh cho lắm và hoàn toàn dốt nát một cách hiển nhiên, lại đang cùng nhau duy trì vương quốc, ngôn ngữ và các chủng tộc, với ba trăm triệu con người, trong một nền hòa bình đầy sục sôi thao thức? Hết lần này đến lần khác ở Ấn Độ, tôi thấy mình chìm đominhtrong những vòng tròn nhỏ của giới chức trách người Anh – những con người kiêu kỳ, ra vẻ ta đây, câu nệ hình thức, được “tút tát” kỹ lưỡng, sống một cách vụng về, suy nghĩ một cách vụng về, chẳng nói gì ngoài thể thao và chuyện phiếm, chỉ thỉnh thoảng mới thả lỏng đôi chút vào sự đa cảm và phù phiếm rẻ tiền như một tiếng đàn banjo, và một thứ cảm giác ghê tởm pha lẫn tuyệt vọng sẽ bao trùm lấy tôi. Và rồi trong công việc của một ai đó, trong một dự án thủy lợi đồ sộ nào đó, trong một chiến công tầm nhìn chiến lược nào đó, trong một sự thấu hiểu giản dị và sâu sắc về những điều thâm trầm, tôi lại nhận ra một hiệu ứng, tựa như rút một thanh kiếm ra khỏi lớp vỏ bọc đã rỉ sét dày đặc để rồi nhận ra nó chính là – ngọn lửa...
Tôi nhớ lại một buổi tối ở một ga nhỏ tại Bengal, nằm giữa Lucknow và Delhi, một buổi tối dành riêng cho những vở kịch tư gia. Nhà hát là một chiếc lều khổng lồ, và sân khấu nhỏ được dựng lên một cách thô sơ được thắp sáng bằng một hàng đèn chiếu chân sân khấu chạy bằng dầu, nhỏ đến mức vừa đủ cho các nam thanh nữ tú đứng chân trên những cảnh đông đúc diễn viên. Xung quanh tôi là những nhân vật tai to mặt lớn, vợ viên đại tá, một thanh niên gia thế đang đi du lịch, các sĩ quan và phu nhân của giám đốc nhà máy đường lớn gần đó. Phía sau là những người Anh có địa vị xã hội mập mờ hơn, cũng có liên quan đến nhà máy đường, vài gia đình gốc Âu lai Á có vẻ chưng diện, hung hăng và bị hắt hủi tệ hại, rồi sau đó tôi nghĩ là cả những người Bồ Đào Nha và nhiều thành phần tạp nham khác cùng các nhóm hạ sĩ quan và binh lính, một vài người đi cùng vợ. Vở kịch, được chọn lọc rất tuyệt vời, chính là sự kết tinh của thứ chủ nghĩa hợm hĩnh tự do thời Victoria mang tên Caste, và tôi nhớ đã có một làn sóng ngầm thích thú bởi vì nam diễn viên trẻ thủ vai – tên của người bạn nhân vật chính là gì nhỉ? Tôi quên mất rồi – vì sự hấp tấp hời hợt đã đeo một bộ râu giả cứ chực rơi xuống và một chiếc kính một mắt cứ chực rớt ra.
Mọi người diễn xuất rất tồi, không ai nhớ nổi trọn vẹn lời thoại và một tay nhắc tuồng gắt gỏng cứ đọc chậm hơn nhịp lẽ ra phải thế; cảnh trí và lớp hóa trang đều nham nhở, và tôi tràn ngập sự ngạc nhiên rằng sau khi đã ngẫu hứng gánh vác việc này mà những con người đó lại có thể làm nó một cách chểnh mảng đến thế. Rồi một luồng ấm áp bất chợt trong tiếng vỗ tay xung quanh đã kéo sự chú ý của tôi lại, và tôi nhận ra dụng ý châm biếm của lão cha Eccles nát rượu, cùng ý đồ đạo đức của người con rể là thợ sửa ống nước. Cả hai đã cùng nhau diễn tả trọn vẹn bổn phận của người lao động theo quan niệm của những người thuộc tầng lớp trung lưu thịnh vượng thời Victoria. Anh ta phải làm việc chăm chỉ luôn tay với bất kỳ công việc nào tìm được và với bất kỳ mức lương nào kiếm được, và nếu không làm thế thì anh ta là một kẻ "trốn việc nát rượu" và là con rối của những "kẻ kích động được trả lương". Một thứ học thuyết an ủi nhưng đầy lừa dối. Và ở đây, những con người này đang sống ở thập niên thứ hai của thế kỷ XX, khi Thời Gian, Cái Chết và Sự Phán Xét đã cận kề bên họ, vẫn hào hứng vỗ tay, sốt sắng biện minh cho tâm trí họ bằng thứ rác rưởi một chiều, kém thanh nhã và lỗi thời này – thứ đã góp phần to lớn làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc đang đẩy chúng ta ở quê nhà đến bờ vực tan vỡ!
Thật kỳ lạ làm sao, dường như những con người ấy đã không hiểu và nhất quyết không chịu hiểu bất kỳ giai cấp nào ngoài giai cấp của họ, bất kỳ chủng tộc nào ngoài chủng tộc của họ, bất kỳ tập quán nào ngoài tập quán của họ! Tôi kín đáo quan sát góc nghiêng khuôn mặt của viên đại tá. Nó chẳng biểu lộ điều gì ngoài sự mãn nguyện tuyệt đối với những cách giải thích tai hại này. Thật là một bộ mặt phong trần, vô tư lự mà vị lão tướng sương gió ấy bày ra trước thế giới!
Tôi bị cuốn bởi một sự tò mò đột ngột muốn xem những binh sĩ thường ở đằng sau đang đón nhận lão Eccles ra sao. Tôi quay lại để bắt gặp những cái đầu hớt tóc ngắn và những khuôn mặt vô cảm như mặt nạ, và phía sau họ là những gương mặt ngăm đen đang dõi theo đầy cảnh giác, rồi những gương mặt ngăm đen khác, những kẻ lai Á, những kẻ bề dưới, gia nhân, người bản xứ.
Rồi ở một ranh giới sắc lẹm, thứ ánh sáng chói lọi của chúng tôi vụt tắt và những bức tường bằng vải bạt của thế giới ảo ảnh chật hẹp bỗng mở ra thành một không gian chạng vạng màu xanh bao la. Ngay lối mở đứng hai người lính Sikh mặc đồ trắng, rất đỗi bất động và chăm chú, đang dõi theo màn biểu diễn, và xa hơn họ là khoảng trời mênh mông trải dài trên bóng cây mờ ảo, những mái nhà và một ngọn tháp đền, một khoảng trời đang sẫm tối dần chìm vào ký ức đỏ rực – một ký ức ngắn ngủi làm sao ở Ấn Độ – của một ngày đã vĩnh viễn tàn phai.
Tôi thẫn thờ ngắm nhìn khung cảnh ấy một lúc lâu.
"Lão Eccles diễn hay thật phải không anh?" vợ viên đại tá ngồi bên khẽ thì thầm, kéo tôi trở lại với vở kịch...
Bằng cách nào đó, bức tranh về chiếc lều vải chật chội giữa muôn vàn la liệt sự mênh mông ấy đã trở thành biểu tượng cho toàn bộ cuộc sống của tầng lớp người Anh thống trị, những người Anh ở Ấn Độ, Thụy Sĩ, vùng Riviera, khu West End và các cơ quan công quyền...
Nhưng họ không phải nước Anh, họ không phải là thực tại của nước Anh; thực tại ấy là một điều vừa rực rỡ, soi sáng lại vừa chập chờn, một điều hài hước, khôn ngoan và đầy phiêu lưu – Shakespeare, Dickens, Newton, Darwin, Nelson, Bacon, Shelley – mỗi cái tên đều là người Anh – giống như ánh sáng rọi thấu của những chiếc đèn lồng đang đung đưa và chao lảo giữa những tán cây tối tăm trong đêm dài.