Khi nghĩ về bản thân mình cùng tất cả những bí mật rực rỡ và những điều tưởng tượng ẩn giấu bên trong, khi bước đi bên cạnh lão Siddons và lơ đễnh lắng nghe bài giảng đầy tính giáo dục của ông, tôi thấy mình như thể một hình ảnh tượng trưng cho toàn nhân loại đang được thụ huấn cho đời sống xã hội.
Tôi viết "lão Siddons," bởi vì lúc đó ông có vẻ là như vậy trong mắt tôi. Thật ra ông chỉ lớn hơn tôi độ chục tuổi, và cách đây không lâu, khi tôi chào hỏi cái bóng dáng bận quần tất của ông ở phố Haymarket, có lẽ lúc bang trên đường tới câu lạc bộ Athenæum, tôi chợt nhận ra rằng chính ông mới là người trẻ hơn bây giờ. Nhưng ở Burnmore, ông cao hơn đầu tôi đến mười tám inch hoặc hơn thế nữa, và đi trước tôi cả một chặng đường dài ở trường học lẫn đại học; ông tràn ngập thứ thế giới mà họ đã nhào nặn ông để thích ứng và rất hăng hái truyền đạt những giáo lý của nó. Ông sải bước trong bộ đồ vải tuýt có vẻ cẩu thả một cách có chủ ý, chiếc áo khoác Norfolk bằng một thứ vải xám như tu sĩ và chiếc quần dài bằng một kiểu vải khác nhạt màu hơn một chút, đi đôi bốt dày, mang cổ áo của chức sắc tu hành và chiếc mũ phóng khoáng, ngẩng mặt hướng lên trời khi nói chuyện, chẳng mấy để ý đến tôi mà chỉ đang tận hưởng những điều chính mình đang nói. Và đôi khi, rõ ràng là ông đang tự nói chuyện một mình và trưng bày thế giới quan của ông. Ông chống một chiếc gậy đi đường, một chiếc gậy đi đường nam tính, mộc mạc, sần sùi, mang phong cách nhà hàn lâm.
Ông ép nhịp đi bộ nhanh hơn một chút, bởi vì đôi chân ông dài và ông đã nhiễm thói quen đi bộ bền bỉ ở Oxford cùng bao thứ khác; ông buộc tôi phải đi theo kiểu bước kiễng chạy bước một, và ông thích những con đường cái hướng về Wickenham cho những buổi dạo chơi của chúng tôi, bởi vì chúng bằng phẳng hơn và có rất ít xe cộ qua lại vào những ngày trước khi có xe hơi, và chúng tôi có thể đi sánh vai nhau và tiếp tục trò chuyện không gián đoạn. Phải nói chính xác là, ông có thể.
Thật là một cuộc trò chuyện biết bao!
Bàn về tất cả các đức tính mà người trẻ nên có. Ông nói về lòng dũng cảm và việc tập cho quen đến mức không còn cảm thấy sợ hãi tuyệt vời nhường nào; về chân lý, và những trường hợp hóc búa khi người ta có thể làm tổn thương người khác bằng cách nói ra sự thật và do đó có lẽ, có lẽ làm giảm bớt sự nghiêm ngặt trong sự chính trực của một người, nhưng người ta không bao giờ được do dự làm tổn thương chính bản thân mình trong vấn đề đó. Rồi ở một khía cạnh khác, ông bàn về niềm tin—và sự khó ưa của những kẻ ly giáo. Nhưng ở điểm này, tôi nhớ là đã có một cuộc tranh luận. Tôi đã quên mất mình diễn đạt ý đó thế nào, nhưng bằng một thứ ngôn từ ngây ngô nào đó của tuổi thiếu niên, chắc hẳn tôi đã ném ra ý tưởng rằng tư duy thì tự do và niềm tin thì không thể kiểm soát nổi. Sẽ thế nào với sự tuân thủ, nếu sự thật là bạn đang hoài nghi? "Không phải vậy nếu cậu cố gắng," tôi nhớ ông đã nói, "không phải vậy nếu cậu cố gắng. Ta đã từng phải đấu tranh. Nhưng nếu cậu kiên quyết tự nhủ với bản thân rằng, Giáo hội dạy điều này. Nếu cậu gạt bỏ những lời bắt bẻ vụn vặt và nói điều đó."
Cứ cho là bạn không thể đi, chắc hẳn tôi đã nài nỉ.
Cậu có thể nếu cậu muốn, ông nói với một giọng điệu gần như nhiệt tình. Ta đã trải qua tất cả những điều đó rồi. Ta đã làm thế. Ta đã gạt bỏ những mối nghi ngờ. Ta không thèm lắng nghe. Ta cảm thấy, Thế này không ổn đâu. Tất cả những điều này chẳng dẫn đến đâu cả.
Và chính ông là người đã kể cho tôi nghe câu chuyện kinh điển về cậu học sinh ngạo mạn nọ đến gặp Hiệu trưởng trường mình và tuyên bố hắn ta là kẻ vô thần. Chẳng có màn biện luận nào cả mà là một trận đòn roi ngựa tơi bời. Về sau trong đời, ông Siddons nói với vẻ mãn nguyện đầy vẻ đạo mức, cậu ta đã nhận ra trận đòn roi đó là điều tuyệt vời nhất từng xảy đến với cậu ta. Là điều tử tế nhất.
Vâng, kẻ nổi loạn cứng đầu trong tôi nài nỉ, nhưng—còn Chân lý, sự kiên quyết không sợ hãi đối với Chân lý thì sao?
Tuy nhiên, tôi chẳng thể tìm được lời nào hiệu quả để thốt lên thành tiếng, và Siddons đã lấn át tôi. Câu chuyện đó khiến máu trong người tôi sôi lên, nó lấp đầy tôi bằng một sự căm ghét mang tính dự phần và sự thù địch đối với các vị Hiệu trưởng, đồng thời có một điều gì đó trong câu chuyện ấy, mang tính chân thực một cách tàn nhẫn đối với các điều kiện của sự giao du nhân thế hơn bất kỳ lý lẽ nào.
Tôi không nhớ những bước đường khác nhau đã đưa tôi đến chỗ bàn về những mối hoài nghi từ khi còn quá trẻ như vậy. Chắc hẳn tôi không lớn hơn tuổi trói gà là mấy khi cuộc trò chuyện đó diễn ra. Tôi nghĩ có lẽ mình là một kẻ cực kỳ thiếu ý thức về bản thân. Tôi nhận ra mình có thể hồi tưởng những lời nói và thậm chí cả cử chỉ của người khác một cách rõ ràng hơn nhiều so với những điều chính tôi đã nói và đã làm. Ngay cả những giấc mơ và tưởng tượng của tôi cũng còn hoạt bát hơn những suy nghĩ và hành động thực tế của tôi. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, tôi đã được kích thích rất nhiều bởi văn liệu nằm rải rác quanh nhà cùng những mẩu nhặt nhạnh và tiếng vang của những cuộc tranh luận cứ lượn lờ như chớp hè quanh quẩn chân trời thế giới của tôi. Trên đầu tôi và sau khi tôi đã đi ngủ, cha tôi và Siddons đang trò chuyện, anh họ tôi đang lắng nghe với nỗi e sợ căng thẳng, có một luồng gió mới trong các bài giảng của cha tôi; đó là cơn bão của những cuộc tranh luận Huxley-Darwin cuối cùng đã chạm đến Burnmore. Tôi là một đứa trẻ lắng nghe đầy thông minh, một độc giả háo hức với bất cứ thứ gì vớ được trong tay, ông Siddons lại có xu hướng tái diễn những trận chiến của mình qua những độc thoại hướng về tôi; và xét cho cùng ở tuổi mười ba thì người ta đâu còn là em bé. Cậu bé con tầng lớp hạ lưu vào thời đó thường bắt đầu cuộc đời tự lập từ lâu trước tuổi ấy.
Thật là một giai đoạn đầy kịch tính trong lịch sử tư duy nhân loại khi khoa học đột ngột bước vào các nhà xứ, vào tất cả các phòng nghiên cứu và chốn yên tĩnh từng là pháo đài của sự xác tín và các lý tưởng của chúng ta, rồi phủ nhận—với toàn bộ sức mạnh của bằng chứng mà nó đã tích lũy trong suốt thời gian dài, một cách thật mơ hồ và không hề hung hăng, bằng hóa thạch và các tầng địa chất, bằng phôi thai học và giải phẫu so sánh—học thuyết về Sự sa ngã trong lịch sử và toàn bộ hệ thống chính thống hiện hành được xây dựng dựa trên nền tảng đó! Thật là một cú sốc thúc đẩy biết bao trong vô số cuộc đời có học thức! Và cha tôi sau một hồi chống cự thành thật một cách gian nan cuối cùng đã bị thuyết phục theo thuyết Darwin, ý tưởng về Tiến hóa đã chiếm lấy tâm trí ông, ý tưởng cho rằng bản thân sự sống vốn không dung thứ cho những sự lặp lại vô ích; và ông đã phải xem xét lại vị trí của mình trong giáo hội. Đối với ông cũng như đối với vô số những người đàn ông trung niên chân thật, thoải mái khác, thuyết Darwin đến như một lời mời gọi đầy sợ hãi bước ra chốn hoang dã. Trên đầu tôi và ngay ngoài tầm tai tôi, ông đang tranh luận vấn đề đó với Siddons đóng vai trò làm nền và anh họ tôi trong vai một kẻ đối kháng hoảng hốt. Chậm rãi, ông đang phát triển quan niệm của mình về sự thỏa hiệp. Và trong khi đó, ông hoàn toàn chẳng bước ra chốn hoang dã nào cả, mà vẫn đều đặn đi qua đi lại, dọc theo mép bãi cỏ bên luống hoa thúng và qua cánh cửa xanh nhỏ ở bức tường vườn, rồi băng qua góc nghĩa trang để đến phòng áo lễ cùng những nghi lễ và bí tích trường tồn của giáo hội.
Nhưng ông chưa bao giờ nói chuyện riêng với tôi về tôn giáo. Ông để mặc việc đó cho anh họ tôi và ông Siddons muốn làm gì thì làm tùy theo cảm nhận của họ, và trong những khoảng lặng đó của ông, tôi có lẽ đã tìm thấy một sự xác nhận khác cho cảm giác ngày càng lớn dần trong tôi rằng tôn giáo từ một góc độ nào đó là một thứ gì đó xa vời và phi thực tế một cách kỳ lạ, đòi hỏi những sự can thiệp vô lý vào cung cách hành xử chi tiết trong đời tôi, và từ một góc độ khác lại là mối quan tâm đặc biệt của cha tôi và ông Siddons, nơi mà họ đi đến—thông qua phòng áo lễ, thay những bộ trang phục kỳ lạ trên đường đi.