Ngay lúc đó, giọng ông de Villefort vang lên từ phòng làm việc: “Có chuyện gì thế?”
Morrel nhìn Noirtier. Ông cụ đã lấy lại được bình tĩnh, và bằng một cái nhìn, ông ra hiệu hướng về chiếc tủ áo — nơi mà trước đây, trong hoàn cảnh hơi giống thế này, Morrel từng tìm được chỗ ẩn náu. Cậu chỉ kịp với lấy chiếc mũ và lao vào trong tủ với tiếng thở dốc đúng lúc tiếng bước chân của vị biện lý vang lên ngoài hành lang.
Villefort lao vào phòng, chạy đến bên Valentine và ôm trọn lấy cô vào lòng.
“Một vị y sĩ, mau gọi y sĩ — ngài d’Avrigny!” Villefort kêu lên, “Hay đúng hơn, tôi sẽ tự mình đi đón ông ấy.”
Ông phóng biến khỏi căn hộ, và cũng vào khoảnh khắc ấy, Morrel từ cánh cửa bên kia lao vụt ra ngoài. Một ký ức kinh hoàng vừa đâm thẳng vào tim cậu: cuộc trò chuyện cậu từng nghe lén giữa vị y sĩ và Villefort vào đêm bà de Saint-Méran qua đời bỗng dội về trong trí nhớ; những triệu chứng này, tuy nhẹ hơn đôi chút, nhưng hoàn toàn giống với những gì đã xảy ra trước cái chết của Barrois. Cùng lúc đó, giọng nói của Bá tước Monte Cristo như văng vẳng bên tai cậu với những lời mới chỉ hai tiếng trước thôi ông từng thốt lên: “Bất cứ điều gì anh cần, Morrel, cứ đến tìm tôi; tôi có quyền lực lớn lắm.”
Nhanh hơn cả ý nghĩ, cậu cắm cổ chạy xuống phố Rue Matignon, rồi từ đó hướng thẳng ra đại lộ Champs-Élysées.
Trong khi ấy, ông de Villefort đã đến trước cửa nhà ngài d’Avrigny trên một chiếc xe mui trần thuê. Ông giật chuông mạnh đến mức người gác cổng hoảng hốt. Villefort cứ thế chạy thẳng lên lầu không nói một lời. Người gác cổng vốn quen mặt ông nên để mặc ông qua, chỉ với với theo một tiếng:
“Ở phòng làm việc, thưa ngài Biện lý — ở phòng làm việc!” Villefort đẩy, hay đúng hơn là xô mạnh cửa bước vào.
“Ái chà,” vị y sĩ nói, “lại là anh ư?”
“Vâng,” Villefort vừa đóng sập cửa lại vừa đáp, “lại là tôi đây, người đến lượt mình xin hỏi ngài rằng chúng ta có đang ở một mình không. Y sĩ ơi, nhà tôi bị nguyền rủa rồi!”
“Gì cơ?” vị y sĩ điềm tĩnh đáp bằng một vẻ ngoài dường như bình thản, nhưng ẩn giấu sự xúc động sâu sắc, “anh lại có người bệnh nữa sao?”
“Vâng, thưa y sĩ,” Villefort gào lên, tay vò đầu bứt tai, “vâng!”
Ánh mắt d’Avrigny như ngầm bảo: “Tôi đã nói trước với anh rồi mà.” Rồi ông chậm rãi thốt lên những từ này: “Ai lại đang hấp hối trong nhà anh thế? Nạn nhân mới nào lại sắp sửa đứng lên buộc tội sự yếu hèn của anh trước mặt Thượng Đế đây?”
Một tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ lồng ngực Villefort; ông bước đến gần y sĩ, nắm chặt lấy cánh tay ông: “Valentine,” ông thốt lên, “đến lượt Valentine rồi!”

“Con gái anh ư!” d’Avrigny kêu lên đầy đau đớn và kinh ngạc.
“Anh thấy chưa, anh đã nhầm lẫn,” viên quan tòa thì thầm; “nào, hãy đến gặp con bé, và ngay trên chiếc giường quằn quại ấy, hãy cầu xin nó tha thứ vì đã từng hoài nghi nó.”
“Mỗi lần anh tìm đến tôi,” vị y sĩ nói, “thì mọi chuyện đã quá muộn; dẫu vậy tôi vẫn sẽ đi. Nhưng chúng ta phải mau lên, thưa ngài; đối mặt với những kẻ thù mà anh đang dây dưa, ta không còn một phút giây nào để lãng phí nữa đâu.”
“Ồ, lần này thì thưa y sĩ, ngài sẽ không phải trách mắng tôi vì sự yếu hèn nữa đâu. Lần này tôi sẽ tìm cho ra kẻ sát nhân và truy cùng diệt tận hắn.”
“Trước tiên hãy cố cứu lấy nạn nhân đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện trả thù cho cô ấy,” d’Avrigny nói. “Đi thôi.”
Chính chiếc xe mui trần vừa chở Villefort đã đưa họ quay trở lại với tốc độ tối đa, và cũng chính lúc ấy, Morrel đang gõ cửa nhà Monte Cristo.
Bá tước đang ngồi trong phòng làm việc và đọc với vẻ mặt đầy giận dữ một thứ gì đó mà Bertuccio vừa hớt hải đem vào. Nghe nhắc đến tên Morrel, người vừa rời khỏi chỗ ông chỉ cách đó hai tiếng, vị bá tước ngẩng đầu lên, đứng phắt dậy và lao ra đón cậu.
“Có chuyện gì thế, Maximilian?” ông hỏi; “trông anh tái mét, mồ hôi vã ra như tắm trên trán kìa.” Morrel ngã vật xuống ghế.
“Vâng,” cậu đáp, “tôi chạy vội đến đây; tôi muốn nói chuyện với ngài.”
“Gia đình anh đều bình an cả chứ?” vị bá tước ân cần hỏi thăm bằng một vẻ nhân hậu chân thành mà không ai có thể hoài nghi dù chỉ một giây.
“Cảm ơn ngài, thưa bá tước — cảm ơn ngài,” chàng thanh niên đáp, rõ ràng đang lúng túng không biết phải bắt đầu câu chuyện từ đâu; “vâng, mọi người trong nhà tôi đều khỏe mạnh.”
“Thế thì tốt quá; nhưng hẳn anh có chuyện muốn nói với tôi phải không?” vị bá tước đáp, sự lo lắng trong lòng dường như tăng lên.
“Vâng,” Morrel nói, “đúng vậy; tôi vừa rời khỏi một ngôi nhà mà Thần Chết vừa đặt chân tới, để chạy đến bên ngài đây.”
“Anh vừa từ nhà ngài de Morcerf tới phải không?” Monte Cristo hỏi.
“Không,” Morrel đáp; “có ai chết ở nhà ông ấy à?”
“Viên tướng vừa tự bắn vào đầu mình rồi,” Monte Cristo lạnh lùng đáp.
“Ôi, thật là một tai họa khủng khiếp!” Maximilian kêu lên.
“Không hẳn là thế đối với phu nhân hay Albert,” Monte Cristo nói; “một người cha hoặc người chồng đã khuất vẫn còn hơn là một kẻ bị tước đoạt danh dự — máu mới rửa sạch được ô nhục.”
“Tội nghiệp phu nhân,” Maximilian nói; “tôi vô cùng thương xót bà ấy; bà ấy là một người phụ nữ thật cao quý!”
“Hãy thương xót cả Albert nữa, Maximilian; vì tin tôi đi, cậu ấy xứng đáng là đứa con trai của phu nhân. Nhưng hãy quay lại chuyện của chính anh đi. Anh đã hối hả tìm đến tôi — liệu tôi có vinh hạnh được giúp ích gì cho anh không?”

“Vâng, tôi cần sự trợ giúp của ngài: nghĩa là tôi đã cư xử như một kẻ điên khi nghĩ rằng ngài có thể giúp đỡ tôi trong một hoàn cảnh mà chỉ có Thượng Đế mới cứu rỗi nổi.”
“Hãy nói cho tôi nghe đó là chuyện gì đi,” Monte Cristo đáp.
“Ồ,” Morrel nói, “thú thật tôi cũng chẳng biết liệu mình có được phép thổ lộ bí mật này với tai phàm mắt thịt hay không, nhưng định mệnh đang thúc đẩy tôi, sự khẩn bách đang ép buộc tôi, thưa bá tước……” Morrel chần chừ.
“Anh có nghĩ rằng tôi quý mến anh không?” Monte Cristo nói, trìu mến nắm lấy bàn tay chàng thanh niên.
“Ồ, ngài đang khích lệ tôi, và có cái gì đó ở chỗ này,” cậu đặt tay lên ngực, “đang bảo tôi rằng mình không nên giấu giếm ngài bất cứ điều gì.”
“Anh nói đúng, Morrel; Thượng Đế đang lên tiếng trong tim anh, và trái tim anh đang trò chuyện với anh đấy. Hãy nói cho tôi nghe nó bảo gì nào.”
“Thưa bá tước, ngài có cho phép tôi cử Baptistin đi dò la tin tức về một người mà ngài quen biết không?”
“Tôi luôn sẵn sàng phục vụ anh, và các gia nhân của tôi cũng vậy.”
“Ồ, tôi không thể sống nổi nếu cô ấy không khá hơn.”
“Tôi bấm chuông gọi Baptistin nhé?”
“Không, để tôi tự ra nói chuyện với anh ấy.” Morrel bước ra ngoài, gọi Baptistin và thì thầm vài câu với anh ta. Người đầy tớ lập tức cắm cổ chạy đi.
“Nào, anh đã phái người đi chưa?” Monte Cristo hỏi khi thấy Morrel quay lại.
“Vâng, và giờ thì tôi sẽ bình tĩnh hơn một chút.”
“Anh biết là tôi đang chờ mà,” Monte Cristo mỉm cười nói.
“Vâng, và tôi sẽ kể cho ngài nghe. Có một buổi tối, tôi đang ở trong một khu vườn; một lùm cây che khuất bóng tôi nên không ai hay biết sự có mặt của tôi ở đó. Hai người bước qua gần chỗ tôi — xin phép ngài cho tôi được giấu tên họ lúc này; họ đang nói chuyện nhỏ tiếng, nhưng tôi lại quá chăm chú vào câu chuyện của họ đến mức không sót một chữ nào.”
“Đó là một lời mở đầu ảm đạm đấy, nếu tôi có thể đoán qua sắc diện tái nhợt và cái rùng mình của anh, Morrel.”
“Ồ, vâng, rất ảm đạm, thưa bạn tôi. Vừa có người qua đời trong ngôi nhà thuộc về khu vườn ấy. Một trong hai kẻ mà tôi nghe lén chuyện trò chính là chủ nhân của ngôi nhà; người kia là y sĩ. Người chủ đang giãi bày với vị y sĩ nỗi đau đớn và sự sợ hãi của ông ta, bởi vì đó là lần thứ hai chỉ trong vòng một tháng, Thần Chết đường đột và bất ngờ bước vào căn nhà vốn dường như bị định mệnh phó mặc cho sự hủy diệt của một thiên thần giận dữ, như thể nó là mục tiêu cho cơn thị nộ của Chúa.”
“Thế cơ à?” Monte Cristo nói, đăm đăm nhìn chàng thanh niên, và bằng một cử động không ai nhận ra, ông xoay chiếc ghế của mình sao cho bản thân vẫn nằm trong bóng râm trong khi ánh sáng chiếu trọn lên gương mặt Maximilian.
“Vâng,” Morrel tiếp lời, “Thần Chết đã đột nhập vào ngôi nhà đó hai lần chỉ trong một tháng.”
“Và vị y sĩ đã đáp lại thế nào?” Monte Cristo hỏi.
“Ông ấy đáp — ông ấy đáp rằng cái chết đó không phải là cái chết tự nhiên, và phải quy cho”—
“Quy cho cái gì?”
“Chất độc.”
“Thật ư!” Monte Cristo thốt lên kèm theo một tiếng ho khẽ — thứ giúp ông che giấu một chút đỏ mặt trong những khoảnh khắc xúc động cực độ, hoặc che đi vẻ tái nhợt, hay sự quan tâm tột độ mà ông dành để lắng nghe; “thật ư, Maximilian, anh đã nghe thấy thế thật sao?”
“Vâng, thưa bá tước thân mến, tôi đã nghe thấy; và vị y sĩ còn nói thêm rằng nếu có thêm một cái chết nữa xảy ra theo cách tương tự, ông ấy buộc lòng phải nhờ đến công lý can thiệp.”
Monte Cristo lắng nghe, hoặc tỏ ra lắng nghe, với vẻ bình thản tột cùng.
“Rồi,” Maximilian nói, “cái chết lại đến lần thứ ba, và cả chủ nhân ngôi nhà lẫn vị y sĩ đều chẳng thốt ra một lời nào. Giờ thì Thần Chết có lẽ đang giáng đòn thứ tư rồi. Thưa bá tước, tôi phải làm gì khi đang nắm giữ bí mật này đây?”
“Bạn thân mến của tôi,” Monte Cristo nói, “anh có vẻ đang kể lại một câu chuyện mà tất cả chúng ta đều đã nằm lòng. Tôi biết ngôi nhà nơi anh nghe được câu chuyện ấy, hoặc một nơi rất giống thế; một ngôi nhà có khu vườn, một người chủ, một vị y sĩ, và nơi đã xảy ra ba cái chết bất ngờ đột ngột. Nào, tôi chưa hề ngắt lời tâm sự của anh, và dẫu vậy tôi cũng biết tất cả những điều đó rõ như anh vậy, thế nhưng tôi chẳng hề bị cắn rứt lương tâm chút nào cả. Không, chuyện đó chẳng dính dáng gì đến tôi. Anh bảo có vẻ như một thiên thần hủy diệt đã giáng cơn giận của Chúa xuống ngôi nhà ấy — ừ thì, ai bảo giả thuyết của anh không phải là hiện thực cơ chứ? Đừng để tâm đến những chuyện mà những kẻ có lợi ích trong việc che đậy lại phớt lờ đi. Nếu đó là công lý của Chúa, thay vì cơn thị nộ của Ngài, đang bước đi trong ngôi nhà ấy, Maximilian, hãy quay mặt đi và để công lý của Ngài hoàn thành sứ mệnh của nó đi thôi.”
Morrel rùng mình. Có cái gì đó tang tóc, trang nghiêm và đáng sợ ẩn trong thái độ của vị bá tước.
“Hơn nữa,” ông tiếp tục với một giọng điệu đã thay đổi hoàn toàn đến mức chẳng ai có thể nhận ra đó vẫn là con người vừa nói chuyện khi nãy — “hơn nữa, ai bảo rằng nó sẽ lặp lại lần nữa cơ chứ?”
“Nó đã quay lại rồi, thưa bá tước!” Morrel kêu lên; “đó là lý do tôi phải hối hả tìm đến ngài.”
“Nào, thế anh muốn tôi phải làm gì? Chẳng hạn như anh muốn tôi đi tố cáo với quan biện lý à?” Monte Cristo thốt lên những từ cuối cùng với ý tứ sâu xa đến mức Morrel giật mình đứng phắt dậy, lớn tiếng kêu lên:
“Ngài biết tôi đang nói về ai mà, đúng không thưa bá tước?”
“Hoàn toàn biết chứ, bạn tốt của tôi ạ; và tôi sẽ chứng minh cho anh thấy bằng cách chấm câu cho trót, hay nói đúng hơn là gọi thẳng tên những kẻ đó ra. Anh từng đi dạo vào một buổi tối trong khu vườn của ông de Villefort; qua những gì anh kể, tôi đoán đó chính là buổi tối bà de Saint-Méran qua đời. Anh đã nghe ông de Villefort trò chuyện với ngài d’Avrigny về cái chết của ông de Saint-Méran, và cả cái chết bất ngờ không kém của phu nhân. Ngài d’Avrigny đã nói rằng ông tin cả hai cái chết đó đều bắt nguồn từ chất độc; và anh, một con người chính trực, từ đó đến nay vẫn luôn day dứt hỏi trái tim mình và dằn vặt lương tâm xem có nên phơi bày hay che giấu bí mật này. Chúng ta giờ không còn sống trong thời Trung Cổ nữa; chẳng còn tòa án Vehmgericht hay Tòa án Tự do nào nữa cả; anh còn muốn chất vấn những con người đó làm gì? ‘Lương tâm ơi, mi có can hệ gì đến ta?’ như Sterne từng nói. Bạn thân mến của cứ để họ ngủ yên, nếu họ đang ngủ; cứ để họ tái mặt đi trong cơn u mê, nếu đó là điều họ muốn, và xin anh hãy cứ an tâm, bởi anh chẳng có chút hối hận nào để mà phải bận lòng.”
Nỗi buồn sâu sắc hằn rõ trên nét mặt Morrel; anh nắm lấy bàn tay Monte Cristo. “Nhưng tôi bảo là nó đang lặp lại rồi cơ mà!”
“Thế thì,” vị Bá tước nói, tỏ vẻ ngạc nhiên trước sự kiên trì mà ông không sao tài nào hiểu nổi, đồng thời càng đăm đăm nhìn Maximilian bằng ánh mắt dò xét, “cứ để nó lặp lại đi — nó cũng giống như dòng họ Atreidae vậy;[19] Chúa đã kết án họ, và họ phải cúi đầu chịu đựng hình phạt của mình. Họ sẽ biến mất hết, giống như những lâu đài bài lá do lũ trẻ dựng lên, rồi đổ sụp từng chiếc một chỉ bằng một hơi thở của kẻ tạo ra chúng, dẫu cho chúng có cao đến hai trăm tầng đi nữa. Ba tháng trước là ông de Saint-Méran; bà de Saint-Méran hai tháng trước; cách đây dạo nọ là Barrois; còn hôm nay, là cụ già Noirtier hay cô tiểu thư Valentine trẻ tuổi.”
“Ngài biết cả rồi ư?” Morrel kêu lên trong một cơn hoảng loạn tột độ khiến Monte Cristo — con người mà ngay cả khi trời sập xuống cũng chẳng mảy may dao động — phải giật mình; “ngài biết hết mà vẫn làm thinh sao?”
“Rồi điều đó thì can hệ gì đến tôi?” Monte Cristo nhún vai đáp; “tôi có quen biết gì những con người đó đâu? Và tôi có bắt buộc phải hy sinh người này để cứu người kia không? Thề có Chúa là không, bởi giữa kẻ thủ ác và nạn nhân, tôi chẳng có gì phải lựa chọn cả.”
“Nhưng còn tôi,” Morrel rên rỉ trong nỗi đau đớn tột cùng, “tôi yêu cô ấy!”
“Anh yêu ư — yêu ai cơ?” Monte Cristo hét lên, vùng đứng phắt dậy và chộp lấy đôi bàn tay mà Morrel đang giơ lên hướng về phía thiên đàng.
“Tôi yêu tha thiết — tôi yêu đến điên dại — tôi yêu như một kẻ sẵn sàng hiến dâng cả máu trong lăng ngực để đổi lấy việc che chở cho cô ấy khỏi một giọt nước mắt — tôi yêu Valentine de Villefort, người đang bị sát hại ngay vào giờ phút này đây! Ngài có hiểu tôi đang nói gì không? Tôi yêu cô ấy; và tôi đang cầu xin Thượng Đế cùng ngài chỉ cho tôi cách cứu lấy cô ấy!”
Monte Cristo thốt lên một tiếng thét mà chỉ những ai từng nghe thấy tiếng gầm của một con sư tử bị thương mới có thể hình dung nổi. “Đồ ngốc nghếch bất hạnh,” ông gào lên, đến lượt mình vặn vẹo đôi bàn tay; “anh yêu Valentine — đứa con gái của một dòng giống bị nguyền rủa!”
Chưa bao giờ Morrel phải chứng kiến một biểu cảm nào như thế — chưa bao giờ có một ánh mắt khủng khiếp đến thế lóe lên trước mặt anh — chưa bao giờ thần thái của sự kinh hoàng mà anh từng chứng kiến biết bao lần, dù là trên chiến trường hay trong những đêm giết chóc ở Algérie, lại gieo rắc quanh anh một ngọn lửa hãi hùng đến vậy. Cậu lùi lại đầy khiếp sợ.
Về phần Monte Cristo, sau cơn bộc phát ấy, ông nhắm nghiền mắt lại như thể bị lóa mắt bởi thứ ánh sáng nội tâm nào đó. Chỉ trong chốc lát, ông tự kìm chế mạnh mẽ đến mức cáiồng ngực đang phập phồng dữ dội bỗng dịu xuống, giống như những con sóng dữ đang sủi bọt trắng xóa bỗng ngoan ngoãn chùng xuống dưới ánh nắng ấm áp khi mây đen đã tan đi. Sự im lặng, sự tự chủ và cuộc đấu tranh ấy kéo dài chừng hai mươi giây, đoạn vị bá tước ngẩng gương mặt tái nhợt của mình lên.
“Anh thấy đấy,” ông nói, “bạn thân mến của tôi ơi, Thượng Đế trừng phạt những kẻ vô tâm và hờ hững nhất vì sự dửng dưng của họ bằng cách phơi bày trước mắt họ những cảnh tượng hãi hùng nhường nào. Còn ta, kẻ vẫn đứng ngoài xem như một khán giả tò mò và háo hức — ta, kẻ vẫn đang quan sát diễn biến của vở bi kịch tang tóc này — ta, kẻ giống như một thiên thần độc ác đang cười cợt trước tội ác mà loài người gây ra dưới sự bảo hộ của vòng bí mật (một bí mật thật dễ dàng giữ kín đối với những kẻ giàu có và quyền lực), giờ đây đến lượt mình lại bị cắn rẫy bởi con rắn mà ta vẫn đang đứng rình đường đi nước bước của nó, và bị cắn thẳng vào tận trái tim!”
Morrel rên rỉ.
“Nào, nào,” vị bá tước tiếp lời, “than vãn cũng chẳng ích gì đâu, hãy là một người đàn ông, hãy mạnh mẽ lên, hãy tràn đầy hy vọng, vì đã có ta ở đây và ta sẽ canh chừng giúp anh.”
Morrel buồn bã lắc đầu.
“Ta bảo anh hãy hy vọng cơ mà. Anh có hiểu lời ta nói không?” Monte Cristo hét lên. “Hãy nhớ rằng ta chưa từng thốt ra lời dối trá nào và chưa bao giờ bị lừa dối cả. Bây giờ là mười hai giờ rồi, Maximilian; hãy tạ ơn trời đất vì anh đã đến vào lúc giữa trưa thay vì buổi tối hay sáng ngày mai. Lắng nghe ta đây, Morrel — bây giờ là đúng trưa; nếu Valentine hiện giờ vẫn chưa chết, thì cô ấy sẽ không chết đâu.”
“Sao lại thế được?” Morrel kêu lên, “khi mà lúc tôi rời đi, cô ấy đang hấp hối cơ mà?”
Monte Cristo áp hai tay lên trán. Điều gì đang diễn ra trong bộ óc đó — một bộ óc đang oằn mình gánh chịu biết bao bí mật kinh hoàng? Thiên thần ánh sáng hay thiên thần bóng tối đang thì thầm gì với tâm trí vừa bất dung vừa hào hiệp ấy? Chỉ có Thượng Đế mới biết được.
Monte Cristo ngẩng đầu lên một lần nữa, và lần này ông điềm tĩnh như một đứa trẻ vừa thức giấc sau giấc ngủ ngon.
“Maximilian,” ông nói, “hãy về nhà đi. Ta ra lệnh cho anh không được cựa quậy — không được làm bất cứ điều gì, không được để nét mặt phản chủ một ý nghĩ nào, và ta sẽ cho người đem tin tức đến cho anh. Đi đi.”
“Ôi, thưa bá tước, sự điềm tĩnh đó của ngài làm tôi ngợp thở. Ngài thực sự có quyền năng chống lại cái chết sao? Ngài là siêu nhân ư? Hay ngài là một vị thiên thần?” Và chàng thanh niên vốn chưa từng chùn bước trước bất kỳ hiểm nguy nào, giờ đây lại lùi bước trước Monte Cristo với một nỗi khiếp sợ không sao tả xiết. Nhưng Monte Cristo nhìn cậu bằng một nụ cười vừa đượm buồn vừa ngọt ngào đến mức Maximilian cảm thấy nước mắt đang dâng ngập khóe mi.
“Ta có thể làm được rất nhiều điều cho anh, bạn của ta ạ,” vị bá tước đáp. “Đi đi; ta cần phải ở một mình.”
Morrel, bị khuất phục bởi uy quyền phi thường mà Monte Cristo áp đặt lên vạn vật xung quanh ông, đã chẳng dám nỗ lực kháng cự thêm nữa. Cậu xiết chặt tay vị bá tước rồi bước ra ngoài. Cậu dừng lại một lát ở cửa để gặp Baptistin — người mà cậu nhìn thấy đang hớt hải chạy tới ở đường Rue Matignon.
Trong khi đó, Villefort và d’Avrigny đã nhanh chân hết mức có thể. Valentine vẫn chưa tỉnh lại sau cơn ngất lịm khi họ vừa về tới nơi, và vị y sĩ tiến hành thăm khám cho người bệnh với toàn bộ sự cẩn trọng mà hoàn cảnh đòi hỏi, kèm theo một mối quan tâm được nhân đôi khi ông đã tường tận bí mật. Villefort, dán chặt mắt vào nét mặt và đôi môi của y sĩ, thấp thỏm chờ đợi kết quả. Cụ Noirtier, thậm chí còn tái nhợt hơn cả cô thiếu nữ, sốt sắng ngóng chờ phán quyết của y sĩ hơn cả Villefort, cũng đang đăm đăm dõi theo với tất cả niềm trìu mến.
Cuối cùng d’Avrigny mới chậm rãi thốt ra những từ này: “Con bé vẫn còn sống!”
“Vẫn còn sao?” Villefort kêu lên; “ôi, thưa y sĩ, một từ mới đáng sợ làm sao.”
“Vâng,” vị y sĩ đáp; “tôi xin nhắc lại lần nữa; con bé vẫn còn sống, và bản thân tôi cũng phải kinh ngạc vì điều đó.”
“Nhưng liệu nó đã qua cơn nguy kịch chưa?” người cha gặng hỏi.
“Vâng, chừng nào nó còn thở.”
Vừa lúc đó, ánh mắt d’Avrigny chạm vào đôi mắt của Noirtier. Nó lóe lên một niềm vui sướng phi thường đến mức giàu có và tràn ngập tâm tư, khiến vị y sĩ vô cùng sửng sốt. Ông đặt cô thiếu nữ tựa trở lại chiếc ghế — đôi môi cô gần như không thể nhận ra vì quá nhợt nhặc và trắng bệch, y hệt như toàn bộ khuôn mặt — và đứng bất động, đăm đăm nhìn Noirtier, kẻ dường như đã đoán trước và hết lời ca ngợi mọi việc ông làm.
“Thưa ngài,” d’Avrigny quay sang Villefort, “làm ơn gọi người hầu phòng của tiểu thư Valentine giúp tôi.”
Villefort tự mình đi tìm cô ta; và d’Avrigny bước đến gần Noirtier.
“Ngài có điều gì muốn nói với tôi phải không?” ông hỏi. Cụ già chớp mắt đầy biểu cảm — mà chúng ta đều nhớ đó là cách duy nhất để ông bày tỏ sự đồng tình.
“Nói riêng ư?”
“Vâng.”
“Được, tôi sẽ ở lại với ngài.” Ngay lúc đó, Villefort quay trở lại, theo sau là người hầu phòng; và nối gót cô ta là phu nhân de Villefort.
“Thế rốt cuộc đứa trẻ tội nghiệp này bị làm sao thế? Nó vừa rời khỏi chỗ tôi và có phàn nàn là hơi khó ở, nhưng tôi lại chẳng mảy mai nghĩ đó là chuyện nghiêm trọng.”
Người phụ nữ trẻ tuổi với đôi mắt ngấn lệ và mang mọi biểu hiện trìu mến của một người mẹ thực thụ, bước đến bên Valentine và cầm lấy tay cô. D’Avrigny tiếp tục quan sát Noirtier; ông thấy đôi mắt cụ già mở trừng trừng và tròn xoe, má tái đi và run rẩy; những giọt mồ hôi rịn ra chi chít trên trán.
“Ái chà,” ông thốt lên, vô thức dõi theo hướng nhìn của Noirtier đang dán chặt vào phu nhân de Villefort — người lúc này đang lặp lại:
“Con bé tội nghiệp này nằm trên giường sẽ đỡ hơn đấy. Nào Fanny, chúng ta đưa con bé lên giường thôi.”
Ngài d’Avrigny, nhận ra rằng đó sẽ là cơ hội để ông được ở lại một mình với Noirtier, liền bày tỏ quan điểm rằng đó là việc tốt nhất nên làm; nhưng ông nghiêm cấm không được cho cô uống bất cứ thứ gì ngoài những loại do chính tay ông kê đơn.
Họ khiêng Valentine đi; cô đã tỉnh lại nhưng hầu như không thể nhúc nhích hay cất lời, bởi cơ thể cô đã bị cơn ác mộng kia tàn phá đến kiệt quệ. Dù vậy, cô vẫn kịp dồn chút sức lực cuối cùng để trao một cái nhìn tiễn biệt cho người ông của mình — người mà qua việc mất đi cô, dường như cũng đang trút bỏ cả phần linh hồn khỏi xác thịt. D’Avrigny đi theo người bệnh, viết đơn thuốc, ra lệnh cho Villefort phải lấy xe mui trần, đích thân đến hiệu thuốc lấy loại thuốc được chỉ định, tự tay mang về và đợi ông trong phòng con gái. Sau đó, một lần nữa nhấn mạnh lệnh cấm không được cho Valentine uống bất cứ thứ gì, ông quay xuống dưới nhà gặp Noirtier, cẩn thận khép kín các cánh cửa lại và sau khi chắc chắn rằng chẳng có ai đang nghe lén: “Ngài,” ông cất lời, “có biết gì về căn bệnh của tiểu thư này không?”
“Vâng,” cụ già đáp.
“Chúng ta không còn thời gian để lãng phí đâu; tôi hỏi gì, ngài hãy trả lời nấy.” Noirtier ra hiệu rằng ông đã sẵn sàng. “Ngài đã lường trước được tai họa giáng xuống cháu gái mình ư?”
“Vâng.” D’Avrigny trầm ngâm trong giây lát; rồi tiến lại gần Noirtier:
“Xin tha thứ cho những điều tôi sắp sửa nói đây,” ông nói thêm, “nhưng trong hoàn cảnh khủng khiếp này, ta không được phép bỏ sót bất kỳ manh mối nào. Ngài có chứng kiến cảnh Barrois tội nghiệp qua đời không?” Noirtier ngước đôi mắt lên nhìn tận trời xanh.
“Ngài có biết ông ấy chết vì cái gì không?” d’Avrigny hỏi, đặt tay lên vai Noirtier.
“Vâng,” cụ già đáp.
“Ngài nghĩ ông ấy chết một cái chết tự nhiên chứ?” Một nụ cười thoáng hiện trên đôi môi bất động của Noirtier.
“Vậy ra ngài vẫn nghĩ Barrois đã bị đầu độc ư?”
“Vâng.”
“Ngài có nghĩ rằng thứ độc dược cướp đi sinh mạng ông ấy vốn không nhắm vào ông ấy không?”
“Không.”
“Ngài có nghĩ rằng chính bàn tay vô tình hạ sát Barrois nay lại đang ra tay với Valentine không?”
“Vâng.”
“Thế rồi con bé cũng sẽ chết sao?” d’Avrigny hỏi, đăm đăm dán ánh mắt dò xét vào Noirtier. Ông quan sát hiệu ứng của câu hỏi này đối với cụ già.
“Không,” lão đáp với một vẻ đắc thắng đủ sức làm bối rối cả những nhà tiên tri cự phách nhất.
“Vậy ra ngài vẫn còn hy vọng sao?” d’Avrigny ngạc nhiên thốt lên.
“Vâng.”
“Ngài hy vọng điều gì cơ chứ?” Cụ già ra hiệu bằng mắt để cho ông biết mình không thể trả lời được.
“À vâng, đúng thế rồi,” d’Avrigny thì thầm. Rồi quay sang Noirtier — “Ngài hy vọng kẻ sát nhân sẽ bị đem ra xét xử ư?”
“Không.”
“Vậy ngài hy vọng chất độc sẽ không tác dụng lên Valentine sao?”
“Vâng.”
“Chắc việc tôi báo tin có kẻ đang mưu toan đầu độc con bé không phải là điều gì mới mẻ với ngài nữa đúng không?” Cụ già ra hiệu rằng ông hoàn toàn không hoài nghi gì về chuyện đó. “Thế thì làm sao ngài lại hy vọng Valentine có thể thoát nạn được cơ chứ?”
Noirtier vẫn đăm đăm giữ chặt ánh mắt ở một vị trí nhất định. D’Avrigny dò theo hướng nhìn đó và nhận ra chúng đang cắm cả vào một cái lọ đựng thứ hỗn hợp thuốc mà ông uống mỗi sáng. “Ôi trời,” d’Avrigny thốt lên, bị chấn động bởi một ý nghĩ bất chợt, “chẳng lẽ ngài đã……” Noirtier không để ông kịp nói hết câu.
“Vâng,” cụ đáp.
“Để rèn luyện hệ miễn dịch cho con bé chống lại độc dược ư?”
“Vâng.”
“Bằng cách tập cho nó quen dần với ——”
“Vâng, vâng, vâng,” Noirtier nói, vô cùng mừng rỡ vì cuối cùng đã có người hiểu ý mình.
“Tất nhiên rồi. Tôi từng nói với ngài rằng trong hỗn hợp thuốc tôi pha cho ngài có chứa chất brucine mà.”
“Vâng.”
“Và bằng cách tập cho con bé quen dần với thứ độc chất đó, ngài đã tìm cách vô hiệu hóa tác dụng của một loại độc dược tương tự?” Niềm vui sướng của Noirtier vẫn tiếp tục dâng trào. “Và ngài đã thành công,” d’Avrigny kêu lên. “Nếu không có sự phòng bị đó, Valentine đã bỏ mạng trước khi người ta kịp cứu chữa rồi. Liều lượng vượt quá sức chịu đựng, nhưng con bé mới chỉ bị choáng váng vì nó thôi; và ít nhất là lần này, Valentine sẽ không chết đâu.”
Một niềm vui sướng siêu phàm bừng sáng trong đôi mắt cụ già, hướng thẳng lên bầu trời với vẻ biết ơn vô hạn. Đúng lúc đó, Villefort quay trở lại.
“Thưa y sĩ,” ông nói, “đây là thứ ngài sai tôi đi lấy.”
“Thứ này được bào chế dưới sự chứng kiến của anh chứ?”
“Vâng,” viên biện lý đáp.
“Anh có để nó rời khỏi tầm kiểm soát của mình không?”
“Không.”
D’Avrigny cầm lấy cái lọ, rót vài giọt dung dịch bên trong vào lòng bàn tay rồi nuốt lấy.
“Được rồi,” ông nói, “chúng ta hãy quay lại phòng Valentine thôi; tôi sẽ đưa ra những chỉ dẫn cho tất cả mọi người, và riêng anh, ngài de Villefort, hãy tự mình giám sát để không ai dám làm trái những điều đó.”
Vào khoảnh khắc d’Avrigny quay trở lại căn phòng của Valentine, đi cùng với Villefort, một vị linh mục người Ý với dáng vẻ nghiêm cẩn cùng chất giọng bình tĩnh và kiên quyết đã thuê căn nhà nằm sát bên cạnh dinh thự của ông de Villefort. Chẳng ai rõ ba vị khách thuê cũ của ngôi nhà đó đã rời đi từ bao giờ. Khoảng hai tiếng sau, người ta đồn rằng phần móng của nó không còn an toàn nữa; nhưng lời đồn ấy chẳng thể ngăn cản vị tân chủ nhân dọn vào đó sinh sống cùng những món đồ đạc khiêm tốn của ông ta ngay vào lúc năm giờ chiều hôm đó. Bản hợp đồng thuê nhà được ký kết với thời hạn ba, sáu hoặc chín năm bởi vị khách thuê mới — người, theo đúng quy định của chủ nhà, đã thanh toán trước sáu tháng tiền nhà.

Vị khách thuê mới này, như chúng ta đã biết, là một người Ý, có tên là Il Signor Giacomo Busoni. Các thợ xây lập tức được triệu đến, và ngay trong đêm hôm đó, những người qua đường ở đoạn cuối khu ô-rô đã không khỏi kinh ngạc khi thấy thợ mộc và thợ xây đang tất bật sửa chữa phần chân của ngôi nhà sắp đổ sụp ấy.