Dantès phải trải qua tất cả các cung bậc tra tấn tinh thần vốn tự nhiên xảy ra với những tù nhân đang sống trong cảnh thấp thỏm chờ đợi. Ban đầu, anh được nâng đỡ bởi niềm kiêu hãnh của một lương tâm trong sạch vốn đi liền với hy vọng; rồi anh bắt đầu hoài nghi cả sự trong trắng của chính mình, điều ấy phần nào biện minh cho niềm tin của ngục tốt rằng anh đã hóa điên; và rồi, buông bỏ niềm kiêu hãnh ấy, anh cất lời van xin, không phải với Chúa, mà với con người. Chúa luôn là chỗ bám víu cuối cùng. Những kẻ bất hạnh, đáng lẽ ra phải bắt đầu từ Chúa, lại chẳng hề đặt hy vọng nơi Ngài cho đến khi đã cạn kiệt mọi phương cứu rỗi khác.
Dantès xin được chuyển khỏi ngục thất hiện tại sang một nơi khác, dù cho nó có tối tăm và sâu thẳm hơn, bởi một sự đổi thay, dẫu có bất lợi đi chăng nữa, vẫn là một sự đổi thay và sẽ mang lại cho anh đôi chút tiêu khiển. Anh khẩn nài được phép đi lại, được hít thở không khí trong lành, có sách vở và dụng cụ viết. Các thỉnh cầu của anh không được chấp thuận, nhưng anh vẫn cứ tiếp tục xin. Anh tập làm quen với việc nói chuyện với tên ngục tốt mới, dẫu cho kẻ này, nếu có thể, còn kiệm lời hơn cả người cũ; nhưng dẫu sao, được nói chuyện với một con người, dẫu kẻ đó câm lặng đi nữa, cũng là một điều gì đó. Dantès nói để được nghe chính tiếng nói của mình; anh đã từng thử nói chuyện khi ở một mình, nhưng âm thanh giọng nói ấy lại khiến anh khiếp sợ.
Thường thì, trước quãng thời gian bị giam cầm, tâm trí Dantès từng nổi giận trước ý nghĩ về những đám đông tù nhân, bao gồm những kẻ trộm cắp, lưu manh và kẻ sát nhân. Giờ đây, anh lại khao khát được ở giữa bọn họ, để được nhìn thấy một gương mặt nào khác ngoài bộ dạng của tên ngục tốt; anh khao khát những chiếc thuyền tù khổ sai, với bộ quần áo rách rưới đầy nhơ nhuốc, xiềng xích, và vết sắt nung trên vai. Những tên tù khổ sai còn được hít thở bầu trời trong lành, và được nhìn thấy nhau. Bọn họ mới hạnh phúc làm sao.
Có hôm, anh nài nỉ tên ngục tốt cho mình một người bạn đồng hành, dẫu đó chỉ là vị tu viện trưởng điên khùng đi chăng nữa. Tên ngục tốt, dẫu thô lỗ và chai sạn vì ngày ngày chứng kiến biết bao đau khổ, vẫn là một con người. Sâu thẳm trong tim, hắn từng nhiều lần cảm thấy xót xa cho người thanh niên bất hạnh phải chịu đựng xiết bao đớn đau ấy; và hắn đã trình bày thỉnh cầu của số 34 lên viên ngục trưởng; nhưng vị này lại suy diễn một cách khôn ngoan rằng Dantès muốn mưu phản hoặc tìm đường tạt tạt tẩu thoát, nên đã từ chối yêu cầu đó. Dantès đã cạn kiệt mọi phương kế của con người, và bấy giờ anh quay về với Chúa.
Mọi ý niệm thành kính vốn đã bị lãng quên từ lâu bỗng quay trở lại; anh hồi tưởng những lời kinh mà người mẹ từng dạy, và khám phá ra ý nghĩa mới mẻ trong từng câu chữ; bởi trong lúc thịnh vượng, những lời kinh dường chỉ là một mớ từ ngữ hỗn độn, cho đến khi tai ương ập xuống và kẻ bất hạnh mới thấu hiểu được ý nghĩa của thứ ngôn ngữ siêu việt ấy, thứ ngôn ngữ mà qua đó anh cầu xin lòng thương xót từ thiên đàng! Anh cầu nguyện, và cất tiếng cầu nguyện thành lời, không còn hãi sợ trước âm thanh giọng nói của chính mình nữa, bởi anh đã chìm vào một trạng thái xuất thần. Anh bày tỏ mọi hành động trong đời mình trước Đấng Toàn Năng, tự đặt ra những nhiệm vụ phải hoàn thành, và ở cuối mỗi lời kinh lại lồng vào câu van xin vốn thường hướng đến con người nhiều hơn là với Chúa: “Xin tha tội lỗi cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có tội với mình.” Thế nhưng, bất chấp những lời cầu nguyện thiết tha ấy, Dantès vẫn hoàn tù nhân.
Rồi sự u ám trùm phủ nặng nề lên tâm hồn anh. Dantès là một người có tư duy vô cùng đơn giản và thiếu sự học thức; vì thế, trong chốn ngục tù cô quạnh, anh không thể dùng tâm trí để trải dài qua dòng lịch sử của các thời đại, làm hồi sinh những quốc gia đã lụi tàn, và dựng lại những thành phố cổ đại rộng lớn và kỳ vĩ dưới ánh sáng của trí tưởng tượng, những nơi lướt qua trước mắt rực rỡ sắc màu thiên giới như trong các bức tranh Babylon của Martin. Anh không thể làm thế, một kẻ có quá khứ quá đỗi ngắn ngủi, hiện tại u sầu và tương lai đầy rẫy bất định. Mười chín năm ánh sáng để ngẫm ngợi trong cõi tối tăm vĩnh hằng! Chẳng có sự tiêu khiển nào đến cứu rỗi anh; tâm hồn đầy nhiệt huyết vốn từng hào hứng quay về quá khứ ấy nay bị giam cầm như một con đại bàng trong lồng. Anh bấu víu lấy một ý niệm duy nhất—về hạnh phúc của mình, đã bị tus phá mà không rõ nguyên do bởi một định mệnh kỳ quái; anh nghiền ngẫm ý niệm ấy hết lần này đến lần khác, ngấu nghiến nó (có thể nói là vậy), hệt như tên Ugolino bất kham gặm nhấm hộp sọ của Tổng giám mục Roger trong cõi Hỏa ngục của Dante.
Sự cuồng nộ thay thế cho sự nhiệt thành tôn giáo. Dantès thốt ra những lời báng bổ khiến tên ngục tốt phải rụt tay lại vì kinh hãi, quăng mình một cách dữ dội vào những bức tường giam, trút cơn giận lên mọi thứ, và nhất là lên chính bản thân mình, để rồi dù chỉ là một điều nhỏ nhặt nhất,—một hạt cát, một cọng rơm, hay một hơi thở khiến anh chướng tai gai mắt,—cũng dẫn đến những cơn cuồng nộ tột độ. Rồi bức thư mà Villefort từng cho anh xem lại hiện về trong tâm trí, và từng dòng chữ rực lên sắc đỏ lửa trên bức tường hệt như câu chữ mene, mene, tekel upharsin của Belshazzar. Anh tự nhủ rằng chính sự thù hận của con người, chứ không phải sự trả thù của Thiên đàng, đã đẩy mình vào vũng bùn đau khổ sâu thẳm nhất ấy. Anh nguyền rủa những kẻ bức hại vô danh của mình vào những hình phạt khủng khiếp nhất mà anh có thể tưởng tượng ra, và thấy tất cả vẫn chưa đủ, bởi sau tra tấn là cái chết, và sau cái chết, nếu không phải sự bình yên, thì ít nhất cũng là đặc ân vô tri giác.
Do cứ mãi đắm chìm trong ý nghĩ rằng sự thanh thản chính là cái chết, và nếu mục đích hướng tới là sự trừng phạt thì phải nghĩ ra những kiểu tra tấn khác ngoài cái chết, anh bắt đầu suy tính đến chuyện tự sát. Khốn khổ thay cho kẻ nào, khi đứng bên bờ vực thẳm của tai ương, lại ấp ủ những ý nghĩ thế này!
Trước mặt kẻ ấy là một vùng biển chết trải dài trong sự tĩnh lặng xanh thẳm; nhưng ai vô ý bước vào vòng tay nó sẽ thấy mình đang vật lộn với một con quái vật sẵn sàng kéo hắn xuống vực sâu diệt vong. Một khi đã vướng vào cạm bẫy ấy, trừ phi bàn tay che chở của Chúa vớt hắn lên, mọi sự coi như chấm dứt, và những giãy giụa của hắn chỉ càng đẩy nhanh sự hủy diệt mà thôi. Trạng thái dằn vặt tinh thần này, dẫu vậy, vẫn ít đáng sợ hơn những nỗi thống khổ đi trước hoặc sự trừng phạt có thể sẽ theo sau. Vẫn có một chút an ủi nào đó khi ngắm nhìn vực thẳm ngáp dài, nơi đáy vực bao phủ bởi bóng tối và sự mù mịt.
Edmond tìm thấy đôi chút khuây khỏa trong những ý nghĩ đó. Mọi nỗi buồn, mọi đớn đau, cùng binh đoàn bóng ma ảm đạm của chúng, đã rời khỏi phòng giam khi thiên thần của cái chết dường như sắp bước vào. Dantès điềm tĩnh nhìn lại quá khứ của mình, và khi hướng về tương lai với nỗi sợ hãi, anh chọn con đường ở giữa dường như mang lại cho mình một chốn nương thân.
“Đôi khi,” anh tự nhủ, “trong những chuyến hải hành, khi tôi còn là một người đàn ông và chỉ huy những người khác, tôi từng chứng kiến bầu trời mây đen vần vũ, biển cả cuồng nộ gầm thét, bão táp nổi lên, và hệt như một con chim khổng lồ, vung đôi cánh đập vào hai đường chân trời. Khi ấy tôi cảm thấy con tàu của mình chỉ là một chốn nương thân vô vọng, run rẩy và chao đảo trước bão tố. Chẳng mấy chốc, sự cuồng nộ của sóng gió và cảnh tượng những mỏm đá nhọn hoắt báo hiệu sự cận kề của cái chết, và khi ấy cái chết khiến tôi khiếp sợ, và tôi đã dùng mọi kỹ năng cùng trí tuệ của một con người lẫn một thủy thủ để chống lại cơn thịnh nộ của Thượng đế. Nhưng tôi làm thế bởi vì tôi hạnh phúc, bởi tôi chưa từng cầu xin cái chết, bởi việc bị ném lên một thảm đá ngầm và rong rêu trông thật khủng khiếp, bởi tôi không muốn bản thân mình, một tạo vật được sinh ra để phụng sự Chúa, lại trở thành mồi cho lũ mòng biển và quạ đen. Nhưng giờ đây mọi chuyện đã khác; tôi đã mất đi mọi thứ níu giữ mình với sự sống, cái chết mỉm cười và mời gọi tôi về cõi nghỉ ngơi; tôi chết theo cách của riêng mình, tôi chết trong sự kiệt quệ và nát tan cõi lòng, hệt như khi tôi chìm vào giấc ngủ sau khi đã đi bộ ba nghìn vòng quanh xà lim của mình—nghĩa là ba mươi nghìn bước chân, hay khoảng mười dặm đường.”
Ngay khi ý nghĩ này chiếm lĩnh tâm trí, anh trở nên bình tĩnh hơn, tự sắp xếp chỗ nằm sao cho vừa ý nhất, ăn ít đi và ngủ ít hơn, và thấy sự tồn tại gần như có thể chịu đựng nổi, bởi anh cảm thấy mình có thể vứt bỏ nó bất cứ lúc nào tùy thích, tựa như một bộ y phục đã rách rưới. Có hai phương pháp tự kết liễu nằm trong tầm tay anh. Anh có thể treo cổ bằng chiếc khăn tay vào những chấn song cửa sổ, hoặc tuyệt thực cho đến chết. Nhưng cách đầu tiên khiến anh ghê tởm. Dantès vẫn luôn mang nỗi kinh hoàng tột độ đối với bọn cướp biển, những kẻ bị treo cổ trên xà ngang cột buồm; anh không muốn chết bởi một cái chết bị coi là nhơ nhuốc như thế. Anh quyết định chọn cách thứ hai, và ngay ngày hôm đó bắt đầu thực hiện quyết định của mình.

Gần bốn năm đã trôi qua; vào cuối năm thứ hai, anh đã ngừng việc đánh dấu sự trôi đi của thời gian. Dantès tự nhủ, “Tôi muốn chết,” và đã chọn phương thức ra đi cho mình, và vì sợ bản thân thay đổi ý định, anh đã thề sẽ chết. “Khi bữa ăn sáng và tối được mang tới,” anh nghĩ, “ta sẽ ném chúng ra ngoài cửa sổ, rồi chúng sẽ tưởng rằng ta đã ăn hết.”
Anh giữ đúng lời hứa; mỗi ngày hai lần, qua khe cửa có chấn song, anh ném ra ngoài phần ăn mà tên ngục tốt mang đến—ban đầu thì thản lui, sau đó với sự đắn đo, và cuối cùng là với niềm tiếc nuối. Không gì ngoài ký ức về lời thề mới cho anh sức mạnh để tiếp tục. Cơn đói khiến những món ăn từng bị ghê tởm nay trở nên dễ nuốt; anh cầm chiếc đĩa trên tay suốt cả tiếng đồng hồ, đăm chiêu ngắm nhìn mẩu thịt tồi tàn, con cá ươn, cùng khúc bánh mì đen mốc meo. Đó là niềm khát khao sự sống cuối cùng đang giằng xé với sự quyết tâm của nỗi tuyệt vọng; rồi xà lim của anh dường như bớt tối tăm hơn, viễn cảnh bớt phần tuyệt vọng. Anh vẫn còn trẻ—anh mới chỉ hai mươi bốn hoặc hai mươi lăm tuổi—anh còn gần năm mươi năm để sống. Biết đâu những biến cố bất ngờ nào đó sẽ mở toang cánh cửa ngục và trả lại cho anh sự tự do? Rồi anh đưa lên môi bữa ăn mà, tựa như một kẻ chịu hình phạt Tantalus do chính mình chọn lựa, anh đã từ chối; nhưng anh nhớ đến lời thề, và anh không chịu phá vỡ nó. Anh kiên trì cho đến tận khi, cuối cùng, anh chẳng còn đủ sức để đứng dậy và ném bữa tối của mình qua khe hở. Sáng hôm sau, anh không thể nhìn hay nghe thấy gì nữa; tên ngục tốt lo lắng rằng anh đang lâm trọng bệnh. Edmond lại hy vọng mình đang chết dần.
Cứ thế ngày trôi qua. Edmond cảm thấy một thứ trạng thái mê muội đang len lỏi bao trùm lấy mình, mang theo một cảm giác gần như là mãn nguyện; cơn đau quặn thắt ở dạ dày đã dứt; cơn khát đã dịu đi; khi nhắm mắt lại, anh nhìn thấy vô số đốm sáng nhảy múa trước mắt hệt như những ngọn trơi trơi rập rờn quanh các vùng đầm lầy. Đó chính là chạng vạng của xứ sở huyền bí mang tên Cái Chết!
Bất chợt, vào khoảng chín giờ tối, Edmond nghe thấy một âm thanh rỗng tuếch phát ra từ bức tường mà anh đang tựa lưng vào.
Có quá nhiều loài vật gớm ghiếc sinh sống trong ngục tối, nên tiếng động của chúng thường không làm anh thức giấc; nhưng chẳng rõ vì sự nhịn ăn đã làm các giác quan của anh trở nên nhạy bén hơn, hay vì tiếng động ấy thực sự lớn hơn bình thường, Edmond ngẩng đầu lên và lắng tai nghe. Đó là một tiếng cào liên hồi, tựa như được tạo ra bởi một chiếc vuốt khổng lồ, một hàm răng sắc bén, hay một thứ dụng cụ bằng sắt đang tấn công những hòn đá.
Dẫu đang suy kiệt, bộ não của người thanh niên vẫn lập tức hưởng ứng ý niệm vẫn luôn ám ảnh mọi tù nhân—sự tự do! Anh có1 cảm giác như thể thiên địa cuối cùng cũng rủ lòng thương xót, và đã gửi tiếng động này đến để cảnh báo anh ngay bên bờ vực thẳm. Biết đâu một trong những người thân yêu mà anh từng nghĩ đến bấy lâu nay đang nghĩ về anh, và đang cố gắng thu hẹp khoảng cách chia cắt giữa họ.
Không, không, chắc chắn là anh đang tự lừa mình, đó chỉ là một trong những giấc mơ hay báo hiệu cái chết mà thôi!
Edmond vẫn nghe thấy âm thanh ấy. Nó kéo dài gần ba tiếng đồng hồ; rồi anh nghe thấy tiếng vật gì đó rơi xuống, và mọi thứ chìm vào tĩnh lặng.
Vài giờ sau, tiếng động ấy lặp lại, gần hơn và rõ ràng hơn. Edmond vô cùng hứng khởi. Bất thình lình, tên ngục tốt bước vào.
Trong suốt một tuần kể từ khi quyết định tự vẫn, và suốt bốn ngày thi hành ý nguyện đó, Edmond chưa từng nói chuyện với kẻ hầu phòng, không buồn đáp lời khi hắn hỏi xem anh bị làm sao, và quay mặt vào tường mỗi khi hắn nhìn mình bằng ánh mắt đầy tò mò; nhưng giờ đây, tên ngục tốt có thể nghe thấy tiếng động kia và dập tắt nó, từ đó hủy hoại đi tia hy vọng tựa như chút an ủi le lói trong những giây phút cuối đời.
Tên ngục tốt mang bữa sáng đến cho anh. Dantès chồm dậy và bắt đầu huyên thuyên đủ thứ chuyện; về chất lượng tồi tệ của thức ăn, về cái lạnh buốt giá của ngục thất, vừa cằn nhằn vừa phàn nàn, cốt để kiếm cớ nói to hơn và làm mòn mỏi sự kiên nhẫn của tên ngục tốt, kẻ vì lòng trắc ẩn đã mang theo súp và bánh mì trắng cho người tù của mình.
May thay, hắn tưởng rằng Dantès đang lên cơn mê sảng; và đặt thức ăn lên chiếc bàn ọp ẹp, hắn rút lui. Edmond lắng tai nghe, và âm thanh ấy ngày một rõ ràng hơn.
“Không thể nhầm lẫn vào đâu được,” anh nghĩ thầm; “đó là một tù nhân nào đó đang cố gắng giành lấy tự do. Ồ, giá như tôi có mặt ở đó để giúp anh ta!”
Chợt một ý nghĩ khác chiếm lĩnh tâm trí anh, vốn đã quen với tai ương nên hầu như chẳng còn khả năng hy vọng—ý nghĩ rằng tiếng động đó do những người thợ do viên ngục trưởng sai đến để sửa chữa buồng giam bên cạnh tạo ra.
Thật dễ dàng để xác minh điều này; nhưng làm sao anh dám mạo hiểm cất lời hỏi? Thật dễ để thu hút sự chú ý của tên ngục tốt vào tiếng động và quan sát sắc mặt hắn khi lắng nghe; nhưng nhỡ đâu làm vậy anh lại tự tay hủy hoại những niềm hy vọng còn quan trọng hơn cả sự thỏa mãn nhất thời cho trí tò mò của chính mình thì sao? Không may thay, bộ não của Edmond vẫn quá yếu ớt để có thể tập trung tư tưởng vào bất cứ điều cụ thể nào. Anh chỉ nhìn thấy một cách duy nhất để khôi phục sự minh mẫn và sáng suốt cho phán đoán của mình. Anh quay mắt về phía bát súp mà tên ngục tốt vừa mang tới, đứng dậy, lảo đảo bước tới đó, nâng chiếc bát lên môi và uống sạch phần nước bên trong với một cảm giác khoái cảm không sao tả xiết.
Anh đã có đủ nghị lực để dừng lại ở đó. Anh từng nghe nhiều người kể rằng những kẻ đắm tàu đã thiệt mạng vì quá vội vã ngấu nghiến quá nhiều thức ăn. Edmond đặt lại lên bàn mẩu bánh mì định ăn dở và quay trở về giường—anh không muốn chết. Chẳng mấy chốc anh cảm thấy tư duy của mình đã tề tựu trở lại—anh có thể suy nghĩ, và củng cố các ý nghĩ bằng lý trí. Rồi anh tự nhủ:
“Ta phải kiểm chứng điều này, nhưng không được làm liên lụy đến ai. Nếu đó là một thợ xây, ta chỉ cần gõ vào tường, hắn sẽ ngừng làm việc để tìm xem ai đang gõ và tại sao lại thế; nhưng vì công việc của hắn được ngục trưởng cho phép, hắn sẽ sớm làm lại thôi. Ngược lại, nếu đó là một tù nhân, tiếng động ta gây ra sẽ khiến hắn hoảng sợ, hắn sẽ dừng lại và chỉ tiếp tục khi nghĩ rằng mọi người đã ngủ say.”
Edmond đứng dậy lần nữa, nhưng lần này đôi chân không còn run rẩy và tầm nhìn của anh đã rõ ràng; anh đi về một góc ngục tối, cạy lấy một hòn đá, và dùng nó gõ vào bức tường phát ra âm thanh. Anh gõ ba tiếng.
Ngay cú gõ đầu tiên, âm thanh liền ngưng bặt, tựa như có phép màu.
Edmond chăm chú lắng nghe; một tiếng trôi qua, hai tiếng trôi qua, và chẳng có âm thanh nào phát ra từ bức tường nữa—mọi thứ đều chìm trong tĩnh mịch.
Tràn ngập hy vọng, Edmond nuốt vài miếng bánh mì và nước, nhờ vào sức sống dẻo dai của cơ thể, anh thấy mình gần như đã hồi phục hoàn toàn.
Cả ngày trôi qua trong sự tĩnh lặng tuyệt đối—đêm xuống mà tiếng động vẫn không tái diễn.
“Đó là một tù nhân,” Edmond hân hoan thốt lên. Đại não anh đang bùng cháy, sự sống và năng lượng đã quay trở lại.
Đêm trôi qua trong sự tĩnh lặng hoàn toàn. Edmond không hề chợp mắt.
Sáng hôm sau, tên ngục tốt mang phần ăn tươi đến—anh đã ăn sạch phần của ngày hôm trước; anh vừa ăn vừa lo lắng lắng nghe tiếng động, đi vòng quanh buồng giam, lay mạnh các chấn song sắt của cửa sổ, rèn luyện cho các cơ bắp thêm phần dẻo dai, lanh lẹ bằng các bài tập thể dục, từ đó chuẩn bị sẵn sàng cho số phận tương lai của mình. Thỉnh thoảng anh lại lắng tai nghe xem tiếng động đã tái diễn chưa, và tỏ ra sốt ruột trước sự thận trọng của người tù bên kia, kẻ vốn chẳng hay biết mình vừa bị làm phiền bởi một bạn tù cũng khao khát tự do không kém.
Ba ngày trôi qua—bảy mươi hai tiếng đồng hồ đằng đẵng mệt mỏi mà anh đếm từng phút một!
Cuối cùng vào một buổi tối, khi tên ngục tốt đang thực hiện chuyến kiểm tra cuối cùng trong ngày, Dantès, với cái tai áp sát vào bức tường lần thứ sto, tưởng chừng nghe thấy một chuyển động gần như không thể nhận ra giữa những khối đá. Anh bước ra xa, đi dạo dọc buồng giam để tĩnh tâm lại, rồi lại quay về và lắng tai nghe.
Sự việc không còn gì phải nghi ngờ nữa. Có cái gì đó đang hoạt động ở phía bên kia bức tường; người tù kia đã nhận ra mối nguy hiểm và đổi chiếc đục sang dùng xà beng.
Được khích lệ bởi phát hiện này, Edmond quyết định hỗ trợ người lao động không biết mệt mỏi ấy. Anh bắt đầu dịch chuyển chiếc giường của mình, và đảo mắt tìm kiếm bất cứ thứ gì có thể dùng để đâm thủng bức tường, xuyên qua lớp vữa ẩm ướt và cạy bật một hòn đá ra.
Anh chẳng thấy gì cả, anh không có dao hay bất kỳ vật sắc nhọn nào, lưới sắt cửa sổ thì làm bằng sắt, nhưng anh đã quá nhiều lần tự kiểm chứng độ vững chắc của nó. Đồ đạc của anh chỉ vỏn vẹn một chiếc giường, một cái ghế, một cái bàn, một cái xô và một cái vò nước. Chiếc giường có những chiếc kẹp sắt, nhưng chúng được bắt vít chặt vào gỗ, và phải cần đến một chiếc tuốc nơ vít mới tháo ra được. Bàn và ghế chẳng có gì, chiếc xô từng có quai xách, nhưng nó đã bị tháo đi từ lâu.

Dantès chỉ còn lại một phương kế duy nhất, đó là đập vỡ cái vò, và dùng một trong những mảnh sắc nhọn để tấn công bức tường. Anh thả rơi chiếc vò xuống sàn, và nó vỡ tan tành.
Dantès giấu hai hoặc ba mảnh sắc nhất vào giường, để lại phần còn lại trên sàn nhà. Việc chiếc vò bị vỡ là một tai nạn quá đỗi tự nhiên nên sẽ chẳng khơi gợi sự nghi ngờ nào. Edmond có cả đêm để làm việc, nhưng trong bóng tối anh chẳng thể làm được bao nhiêu, và chẳng mấy chốc anh cảm thấy mình đang cày xới lên một thứ gì đó vô cùng cứng rắn; anh đẩy chiếc giường về chỗ cũ và chờ đợi trời sáng.
Suốt cả đêm anh nghe thấy tiếng người thợ dưới lòng đất vẫn đang tiếp tục đào bới đường hầm. Trời sáng, tên ngục tốt bước vào. Dantès bảo rằng chiếc vò đã tuột khỏi tay trong lúc anh đang uống nước, và tên ngục tốt lầm bầm bỏ đi lấy cái khác, chẳng màng bận tâm dọn dẹp những mảnh vỡ của chiếc vò hỏng. Hắn nhanh chóng quay lại, khuyên người tù nên cẩn thận hơn, rồi bỏ đi.
Dantès hân hoan lắng nghe tiếng chìa khóa cọ xát vào ổ khóa; anh đợi cho tiếng bước chân xa dần, rồi vội vã dịch chuyển chiếc giường, dưới ánh sáng leo lắt rọi vào buồng giam, anh nhận ra mình đã tốn công vô ích vào tối hôm qua khi đâm vào hòn đá thay vì cạo lớp vữa xung quanh nó.
Độ ẩm đã khiến lớp vữa trở nên tơi xốp, và Dantès có thể cạy nó ra—dù đúng là chỉ từng mẩu nhỏ, nhưng chỉ sau nửa tiếng anh đã cạo được cả một nắm đầy; một nhà toán học hẳn có thể tính toán rằng trong vòng hai năm, giả sử không gặp phải đá tảng, người ta hoàn toàn có thể tạo ra một đường hầm dài hai mươi feet và rộng hai feet.
Người tù tự trách bản thân vì đã không dùng những khoảng thời gian từng trôi qua trong vô vọng, cầu nguyện và chán nản này vào việc đó. Suốt sáu năm bị giam cầm vừa qua, anh đã có thể làm được biết bao nhiêu việc nhỉ?
Ý niệm này truyền cho anh nguồn năng lượng mới, và chỉ trong ba ngày, với sự cẩn trọng tột độ, anh đã thành công trong việc loại bỏ lớp vữa và làm lộ rõ phần tường đá. Bức tường được xây bằng những viên đá thô, đan xen giữa các khoảng trống là những khối đá đẽo gọt nhằm tăng cường độ vững chắc cho cấu trúc. Đó chính là một trong những viên đá mà anh đã làm lộ thiên, và anh phải cạy nó ra khỏi hốc của nó.
Dantès cố gắng làm điều này bằng móng tay, nhưng chúng quá yếu. Những mảnh vỡ của chiếc vò thì gãy sập, và sau một giờ đồng hồ lao động vô ích, Dantès khựng lại với nỗi thống khổ hằn trên trán.
Chẳng lẽ anh lại bị chặn lại ngay từ vạch xuất phát thế này sao, và chẳng lẽ anh phải khoanh tay chờ đợi cho đến khi người bạn đồng hành hoàn thành nhiệm vụ của mình hay sao? Chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu—anh mỉm cười, và những giọt mồ hôi trên trán bỗng khô đi.
Tên ngục tốt vẫn luôn mang súp cho Dantès trong một chiếc nồi sắt; chiếc nồi này chứa súp dành cho cả hai tù nhân, bởi Dantès nhận ra nó lúc thì đầy ắp, lúc lại vơi một nửa, tùy thuộc việc gã canh ngục đưa cho anh hay cho bạn tù của anh trước.
Quai của chiếc nồi này làm bằng sắt; Dantès sẵn sàng đánh đổi mười năm cuộc đời để lấy nó.

Tên ngục tốt có thói quen đổ nội dung trong nồi vào đĩa của Dantès, và sau khi ăn súp bằng chiếc thìa gỗ, Dantès rửa chiếc đĩa, và chiếc đĩa cứ thế dùng qua ngày này qua ngày khác. Thế rồi khi màn đêm buông xuống, Dantès đặt chiếc đĩa xuống sàn gần cửa ra vào; tên ngục tốt bước vào liền dẫm phải và làm vỡ nó.
Lần này thì hắn không thể trách Dantès được nữa. Anh sai khi để nó ở đó, nhưng tên ngục tốt cũng sai vì đã không nhìn ngó đường đi. Do đó, tên ngục tốt chỉ biết lầm bầm cằn nhằn. Rồi hắn đảo mắt tìm kiếm vật gì đó để đựng súp đổ vào; toàn bộ đồ dùng ăn uống của Dantès chỉ có độc một chiếc đĩa—chẳng còn lựa chọn nào khác.
“Cứ để lại cái nồi đi,” Dantès nói; “lúc mang bữa sáng anh hãy lấy lại cũng được.”
Lời đề nghị này rất hợp ý tên ngục tốt bởi nó giúp hắn đỡ phải đi lại thêm chuyến nữa. Hắn bỏ lại chiếc nồi.
Dantès sung sướng tột độ. Anh ngấu nghiến phần ăn của mình, và sau khi chờ đợi suốt một tiếng đồng hồ, sợ rằng tên ngục tốt đổi ý và quay lại, anh dịch chuyển chiếc giường, cầm lấy quai nồi, lướt phần mũi nhọn vào khe hở giữa viên đá đẽo và đá thô trên tường, rồi dùng nó làm đòn bẩy. Một độ rung nhẹ cho Dantès thấy mọi việc đang tiến triển tốt đẹp. Chỉ sau một giờ, viên đá đã được cạy ra khỏi tường, để lại một khoảng trống đường kính một feet rưỡi.
Dantès cẩn thận thu gom vữa, đem đổ vào góc xà lim và phủ đất lên. Rồi, với mong muốn tận dụng tối đa thời gian khi vẫn còn công cụ làm việc, anh tiếp tục cặm cụi không ngừng nghỉ. Khi ánh bình minh ló dạng, anh đặt lại viên đá, đẩy chiếc giường sát vào tường và nằm xuống. Bữa sáng là một mẩu bánh mì; tên ngục tốt bước vào và đặt bánh lên bàn.
“Này, anh không định mang cho tôi cái đĩa khác à?” Dantès cất lời hỏi.
“Không,” gã gác ngục đáp; “cậu phá hoại mọi thứ. Đầu tiên là vỡ vò, rồi lại làm tôi dẫm vỡ đĩa; nếu tù nhân nào cũng làm theo gương cậu chắc chính phủ phá sản mất. Tôi sẽ để lại cái nồi và đổ súp vào đó cho cậu. Thế nên từ nay hy vọng cậu đừng phá phách nữa.”
Dantès ngước mắt lên trời và chắp hai tay dưới lớp chăn. Anh cảm thấy lòng biết ơn khi có được mẩu sắt này còn lớn hơn bất cứ thứ gì trong đời. Tuy nhiên, anh nhận ra người tù ở phía bên kia đã ngừng làm việc; không sao cả, đây lại càng là lý do để anh tiến lên—nếu người hàng xóm không chịu đến với anh, anh sẽ sang với người hàng xóm. Suốt cả ngày anh miệt mài không mệt mỏi, và đến chiều tối đã cạy được mười nắm vữa cùng các mảnh đá vụn. Khi giờ thăm khám của ngục tốt đến, Dantès nắn thẳng quai nồi lại hết mức có thể và đặt nó về vị trí cũ. Gã gác ngục trút phần súp khẩu phần vào đó, kèm theo cả cá—bởi tuần ba lần các tù nhân bị cắt khẩu phần thịt. Đây vốn là một cách để tính thời gian, nếu như Dantès không từ bỏ việc đó từ lâu. Sau khi trút súp xong, gã gác ngục lui ra.
Dantès muốn xác định xem người hàng xóm thực sự đã ngừng làm việc chưa. Anh lắng nghe—mọi thứ tĩnh mịch hệt như ba ngày qua. Dantès thở dài; rõ ràng người hàng xóm vẫn còn hoài nghi anh. Dù vậy, anh vẫn tiếp tục làm việc suốt đêm không nản chí; nhưng sau hai ba tiếng anh đụng phải một vật cản. Thanh sắt không thể khoét sâu hơn mà chạm phải một bề mặt nhẵn nhụi; Dantès chạm vào và nhận ra đó là một thanh xà. Thanh xà này vắt ngang, hay nói đúng hơn là chắn ngang lỗ hỗng mà Dantès vừa đục; vì thế, anh buộc phải đào lên trên hoặc xuống dưới nó. Người thanh niên bất hạnh đã không tính đến chuyện này.
“Ôi Chúa tôi, Chúa tôi ơi!” anh thì thầm, “Con đã khẩn cầu Ngài thiết tha nhường nào, để rồi hy vọng những lời cầu nguyện đã được thấu suốt. Sau khi tước đoạt tự do của con, sau khi tước đoạt cái chết, sau khi kéo con trở lại cõi đời này, lạy Chúa, xin thương xót con và đừng để con phải chết trong tuyệt vọng!”

“Ai đang nhắc đến Chúa và sự tuyệt vọng cùng một lúc thế?” một giọng nói vang lên tưởng chừng phát ra từ lòng đất, bị khoảng cách làm cho nghẹt lại, nghe trầm đục và đầy vẻ âm u vọng vào tai người thanh niên. Tóc gáy Edmond dựng đứng cả lên, và anh quỳ rạp xuống.
“A,” anh thốt lên, “tôi nghe thấy tiếng người rồi.” Edmond đã chẳng nghe ai nói chuyện ngoài tên ngục tốt suốt bốn, năm năm trời; và với một tù nhân thì ngục tốt chẳng phải con người—hắn chỉ là một cánh cửa bằng xương bằng thịt làm tăng thêm sự vững chắc cho xiềng xích gỗ và sắt mà thôi.
“Nhân danh Trời cao,” Dantès kêu lên, “hãy nói nữa đi, dù âm thanh giọng nói của anh có làm tôi kinh sợ đi chăng nữa. Anh là ai?”
“Còn anh là ai?” giọng nói hỏi lại.
“Một kẻ tù tội bất hạnh,” Dantès đáp, chẳng chút ngần ngại.
“Người nước nào?”
“Người Pháp.”
“Tên anh?”
“Edmond Dantès.”
“Nghề nghiệp?”
“Thủy thủ.”
“Anh bị giam ở đây bao lâu rồi?”
“Từ ngày 28 tháng Hai năm 1815.”
“Tội danh của anh?”
“Tôi vô tội.”
“Nhưng anh bị buộc tội gì?”
“Âm mưu phò tá hoàng đế trở về.”
“Cái gì! Phò tá hoàng đế trở về?—vậy hoàng đế không còn ngai vị nữa sao?”
“Ngài đã thoái vị ở Fontainebleau năm 1814 và bị đày ra đảo Elba. Nhưng anh bị giam bao lâu rồi mà không hề hay biết những chuyện này?”
“Từ năm 1811.”
Dantès rùng mình; người này đã bị giam trong ngục lâu hơn anh tận bốn năm.
“Đừng đào nữa,” giọng nói vang lên; “chỉ cho tôi biết vị trí anh đang đục nằm ở độ cao nào so với mặt sàn?”
“Ngang bằng với mặt sàn.”
“Nó được ngụy trang thế nào?”
“Bằng chiếc giường của tôi.”
“Giường của anh từ lúc bị giam đến giờ chưa từng dịch chuyển sao?”
“Chưa.”
“Phòng giam của anh mở ra hướng nào?”
“Một hành lang.”
“Thế còn hành lang?”
“Hướng ra một khoảng sân.”
“Khổ thân tôi!” giọng nói thì thầm.
“Ôi, có chuyện gì thế?” Dantès hoảng hốt kêu lên.
“Tôi đã tính toán sai do nhầm lẫn trên sơ đồ. Tôi đã nhầm góc, và đục lệch ra tận mười lăm feet so với dự kiến. Tôi cứ tưởng bức tường anh đang đục là bức tường thành bên ngoài.”
“Nhưng thế thì anh sẽ ở sát biển à?”
“Đó là điều tôi vẫn hy vọng.”
“Và giả sử anh đã thành công?”
“Tôi sẽ gieo mình xuống biển, bơi đến một trong những hòn đảo gần đây—đảo Daume hoặc đảo Tiboulen—và khi ấy tôi sẽ an toàn.”
“Anh bơi được quãng đường xa thế cơ à?”
“Trời cao sẽ cho tôi sức mạnh; nhưng giờ thì mọi thứ tiêu tùng rồi.”
“Tất cả sao?”
“Đúng vậy; hãy trám lại lỗ đục thật cẩn thận, đừng đào bới nữa, và hãy chờ tin từ tôi.”
“Ít ra hãy nói cho tôi biết anh là ai chứ?”
“Tôi là—tôi là Số 27.”
“Vậy ra anh vẫn hoài nghi tôi,” Dantès nói. Edmond tưởng như nghe thấy một tiếng cười cay đắng vang vọng từ cõi sâu thẳm.
“Ồ, tôi là một tín đồ Cơ đốc,” Dantès kêu lên, bản năng mách bảo rằng người này có ý định bỏ rơi mình. “Tôi thề với danh Đấng đã chết vì chúng ta rằng không gì có thể ép tôi thốt ra dù chỉ một nửa lời với lũ ngục tốt; nhưng tôi cầu xin anh đừng bỏ rơi tôi. Nếu anh làm thế, tôi thề với anh, bởi tôi đã cạn kiệt sức lực lắm rồi, rằng tôi sẽ đập đầu vào tường cho đến chết, và khi ấy cái chết của tôi sẽ là nỗi dằn vặt suốt đời anh.”
“Anh bao nhiêu tuổi? Giọng của anh nghe như một thanh niên.”
“Tôi không rõ tuổi mình, bởi tôi đã ngừng đếm những năm tháng ở đây rồi. Tôi chỉ biết rằng mình vừa tròn mười chín tuổi khi bị bắt, vào ngày 28 tháng Hai, 1815.”
“Chưa đầy hai mươi sáu tuổi!” giọng nói thì thầm; “ở tuổi đó hắn không thể là kẻ phản bội.”
“Ồ, không, không,” Dantès kêu lên. “Tôi xin thề với anh lần nữa, thà chịu đứt từng khúc ruột còn hơn bán đứng anh!”
“Anh đã đúng khi nói chuyện với tôi và cầu cứu sự giúp đỡ, bởi tôi suýt nữa thì định vạch ra kế hoạch khác và bỏ rơi anh; nhưng tuổi trẻ của anh đã trấn an tôi. Tôi sẽ không quên anh đâu. Hãy chờ.”
“Bao lâu nữa?”
“Tôi phải tính toán các cơ hội của chúng ta; tôi sẽ ra hiệu cho anh.”
“Nhưng anh sẽ không bỏ tôi chứ? Anh sẽ đến với tôi, hoặc để tôi đến với anh. Chúng ta sẽ trốn thoát, và nếu không thoát được chúng ta sẽ trò chuyện; anh kể về những người anh yêu, và tôi kể về những người tôi yêu. Chắc chắn anh phải yêu ai đó chứ?”
“Không, ta cô độc trên cõi đời này.”
“Thế thì anh hãy yêu tôi. Nếu anh còn trẻ, tôi sẽ là chiến hữu của anh; nếu anh đã già, tôi sẽ là con trai anh. Tôi có một người cha nay đã bảy mươi tuổi nếu cụ còn sống; tôi chỉ yêu một mình cụ và một thiếu nữ tên là Mercédès. Cha tôi chắc chắn vẫn chưa quên tôi, tôi dám chắc điều đó; nhưng chỉ Chúa mới biết nàng ấy có còn yêu tôi không; tôi sẽ yêu anh như từng yêu cha mình.”
“Được rồi,” giọng nói đáp lại; “ngày mai.”
Những lời ngắn ngủi ấy được thốt lên với chất giọng không còn chút hoài nghi nào về sự chân thành; Dantès đứng dậy, dọn dẹp các mảnh vỡ với sự cẩn trọng như trước và đẩy chiếc giường sát lại bức tường. Rồi anh chìm đắm trong hạnh phúc. Anh sẽ không còn phải cô độc nữa. Có lẽ, anh sắp lấy lại được sự tự do; tệ nhất thì anh cũng có một người bạn đồng hành, và ngục tù được sẻ chia thì nỗi cô độc cũng vơi đi một nửa. Những lời than vãn cất lên chung với nhau tựa như những lời cầu nguyện, và những lời cầu nguyện có hai hoặc ba người tụ họp sẽ thỉnh cầu được lòng thương xót từ thiên đàng.
Suốt cả ngày Dantès đi đi lại lại trong buồng giam. Thỉnh thoảng anh ngồi xuống giường, đặt tay lên ngực. Chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến anh lao về phía cửa. Vài lần ý nghĩ xẹt qua tâm trí rằng anh có thể bị chia cắt khỏi người vô danh này, người mà anh đã yêu mến từ lúc nào; và thế là anh quyết định—khi tên ngục tốt dịch chuyển chiếc giường và cúi xuống kiểm sát lỗ hỗng, anh sẽ dùng vò nước giết chết hắn. Anh sẽ bị kết án tử hình, nhưng anh vốn dĩ cũng sắp chết vì đau khổ và tuyệt vọng khi tiếng động kỳ diệu này kéo anh trở về với sự sống.
Tên ngục tốt bước vào lúc chiều tối. Dantès đang nằm trên giường. Anh có cảm giác làm vậy sẽ che chắn tốt hơn cho lỗ hổng còn dang dở. Chắc chắn có một vẻ biểu cảm kỳ lạ nào đó trong ánh mắt anh, nên tên ngục tốt mới cất lời: “Này, định phát điên nữa à?”
Dantès không đáp; anh sợ sự xúc động trong giọng nói sẽ làm lộ tẩy bản thân. Tên ngục tốt lắc đầu bỏ đi. Đêm xuống; Dantès hy vọng người hàng xóm sẽ tận dụng sự tĩnh lặng để trò chuyện với mình, nhưng anh đã nhầm. Tuy nhiên, sáng hôm sau, ngay lúc anh vừa dịch chiếc giường ra khỏi tường, anh nghe thấy ba tiếng gõ; anh quỳ rạp xuống.
“Có phải anh không?” anh cất tiếng; “tôi đây.”
“Gã ngục tốt đi rồi chứ?”
“Rồi,” Dantès đáp; “hắn sẽ không quay lại cho đến tận tối; thế nên chúng ta có mười hai tiếng đồng hồ.”
“Vậy tôi có thể làm việc rồi chứ?” giọng nói cất lên.
“Ồ, có chứ, có chứ; ngay lúc này đi, tôi xin anh đấy.”
Chỉ trong chớp mắt, phần sàn nhà mà Dantès đang chống hai tay quỳ gối với phần đầu hướng vào lỗ hổng bỗng đột ngột sụp xuống; anh giật mình lùi phắt lại, trong khi cả một khối đá và đất cát trôi tuột vào cái lỗ mở toang ngay bên dưới cái khe do chính tay anh tạo ra. Rồi từ đáy đường hầm sâu thăm thẳm không tài nào đo đếm được ấy, anh nhìn thấy xuất hiện, đầu tiên là cái đầu, tiếp đến là đôi vai, và cuối cùng là thân hình của một người đàn ông, nhẹ nhàng tung mình nhảy phắt vào buồng giam của anh.
