Bá tước Monte Cristo

Lượt đọc: 324 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 32
Sự Tỉnh Giấc

❊ ❊ ❊

Khi Franz hoàn hồn, cậu có cảm giác mình vẫn đang chìm trong một giấc mơ. Cậu ngỡ mình đang ở trong một ngôi mộ đá, nơi một tia nắng yếu ớt vì thương hại mà rọi vào. Cậu duỗi tay chạm phải vách đá; rồi ngồi dậy và nhận ra mình đang nằm trên chiếc áo bành tô bournous trên một thảm thạch nam khô, vô cùng mềm mại và thơm ngát. Ảo ảnh đã tan biến; và tựa như những bức tượng chỉ là bóng ma từ cõi chết, chúng đã biến mất khi cậu tỉnh giấc.

Cậu bước đi vài bước về phía có ánh sáng, và mọi sự kích động của giấc mơ liền nhường chỗ cho sự tĩnh lặng của thực tại. Cậu nhận ra mình đang ở trong một hang động, bèn tiến về phía cửa hang, và qua một ô cửa sổ tò vò, cậu nhìn thấy một vùng biển xanh thẳm và bầu trời ngát xanh. Không khí và làn nước lấp đầy những tia nắng ban mai; trên bờ, các thủy thủ đang ngồi trò chuyện và cười đùa; cách họ tầm mười thước là chiếc thuyền đang thả neo, nhấp nhô uyển chuyển trên mặt nước.

Cậu đứng đó tận hưởng ngọn gió mát lành mơn man trên trán một lúc lâu, lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rào trên bãi cát, để lại trên các mỏm đá những dải bọt trắng tựa bạc ngời. Trong khoảnh khắc, cậu không hề suy nghĩ hay bận tâm đến vẻ đẹp diệu kỳ vốn có của thiên nhiên, nhất là sau một giấc mơ hoang đường; rồi dần dần, khung cảnh thế giới bên ngoài ấy, thật bình yên, thuần khiết và hùng vĩ, đã nhắc cậu nhớ về tính hư ảo của giấc mơ vừa qua, đồng thời đánh thức trí nhớ của cậu. Cậu nhớ lại lúc mình đặt chân lên đảo, cuộc diện kiến với một thủ lĩnh buôn lậu, một cung điện ngầm đầy lộng lẫy, một bữa tối tuyệt vời, và một thìa nhựa gai hashish.

Thế nhưng, dẫu đứng giữa ban ngày thanh thiên bạch nhật, cậu vẫn có cảm giác như đã ít nhất một năm trôi qua kể từ khi tất cả những chuyện đó xảy ra, sâu sắc thay là ấn tượng mà giấc mơ để lại trong tâm trí cậu, và mãnh liệt thay là sự chi phối của nó đối với trí tưởng tượng của cậu. Do đó, chốc chốc cậu lại tưởng tượng ra giữa đám thủy thủ, đang ngồi trên một mỏm đá, hoặc nhấp nhô theo nhịp sóng trên thuyền, bóng dáng một trong những giai nhân từng cùng chia sẻ giấc mơ với những cái nhìn và nụ hôn. Ngoài ra, đầu óc cậu vô cùng minh mẫn và cơ thể thì sảng khoái; cậu không hề cảm thấy một cơn đau đầu nhẹ nào; trái lại, cậu cảm thấy nhẹ nhõm lạ thường, một khả năng hấp thụ bầu không khí trong lành và tận hưởng ánh nắng rực rỡ một cách sống động hơn bao giờ hết.

Cậu vui vẻ tiến về phía các thủy thủ, những người liền đứng dậy ngay khi trông thấy cậu; và viên thuyền trưởng tiến lại gần, cất lời:

“Ngài Sinbad xin gửi lời thăm hỏi tới quý ngài, và bày tỏ sự tiếc nuối khôn nguôi vì không thể trực tiếp từ biệt quý ngài; nhưng ngài ấy mong quý ngài lượng thứ, bởi có những công việc hết sức quan trọng buộc ngài phải đi gấp đến Malaga.”

“Vậy ra, hỡi Gaetano,” Franz nói, “tất cả những điều này đều là sự thật ư? Rằng có một con người đã tiếp đón ta trên hòn đảo này, chiêu đãi ta vô cùng vương giả, rồi lại ra đi khi ta đang say ngủ?”

“Ngài ấy tồn tại chắc chắn như việc ngài có thể nhìn thấy chiếc du thuyền nhỏ với đầy đủ buồm căng gió kia; và nếu ngài dùng ống nhòm, rất có thể ngài sẽ nhận ra chủ nhân của mình giữa đám thủy thủ.”

Nói đoạn, Gaetano chỉ về hướng một con thuyền nhỏ đang giương buồm hướng về mũi phía nam của đảo Corsica. Franz chỉnh lại ống nhòm và hướng về phía chiếc du thuyền. Gaetano không hề đoán sai. Ở đuôi thuyền, vị lữ khách bí ẩn đang đứng thẳng, ngước nhìn về phía bờ biển và cầm trên tay một chiếc ống nhòm nhỏ. Ông ăn mặc y hệt như buổi tối hôm trước, và đang vẫy chiếc khăn tay để chào từ biệt vị khách của mình. Franz đáp lại bằng cách vẫy chiếc khăn tay của mình như một tín hiệu giao ước. Chỉ một giây sau, một làn khói mờ ảo xuất hiện ở đuôi tàu, uốn lượn duyên dáng khi lan tỏa trong không khí, rồi Franz nghe thấy một tiếng nổ nhỏ.

“Kia đấy, ngài có nghe thấy không?” Gaetano lên tiếng nhận xét; “ngài ấy đang từ biệt ngài đấy.”

Chàng thanh niên nhặt khẩu súng trường lên và bắn một phát lên trời, dù chẳng hề nghĩ rằng tiếng súng có thể nghe thấy ở khoảng cách xa ngút ngàn giữa du thuyền và bờ biển.

“Quý ngài có sai bảo gì không?” Gaetano hỏi.

“Trước hết, hãy châm cho ta một ngọn đuốc.”

“À, vâng, tôi hiểu rồi,” viên thuyền trưởng đáp, “để tìm lối vào căn phòng huyền bí. Rất sẵn lòng, thưa quý ngài, nếu điều đó làm ngài vui; tôi sẽ kiếm cho ngài ngọn đuốc mà ngài cần. Nhưng thú thực, tôi cũng từng có ý định giống ngài, và đôi ba lần tâm tư ấy cũng trỗi dậy trong tôi; thế nhưng tôi luôn từ bỏ. Giovanni, hãy châm một ngọn đuốc,” hắn nói thêm, “rồi đưa cho ngài ấy.”

Giovanni tuân lệnh. Franz cầm ngọn đèn, bước vào hang động ngầm dưới sự dẫn dắt của Gaetano. Cậu nhận ra nơi mình đã thức dậy nhờ bãi thạch nam vẫn còn ở đó; nhưng mọi nỗ lực mang ngọn đuốc đi khắp các bề mặt bên ngoài của hang động đều trở thành công cốc. Cậu chẳng thấy gì ngoài những vết khói cho thấy trước cậu cũng từng có kẻ khác thử nghiệm điều tương tự, và rồi cũng giống như cậu, đều hoài công vô ích. Mặc dù vậy, cậu không bỏ sót một bước chân nào trên vách đá hoa cương kiên cố như định mệnh ấy mà không soi xét kỹ càng; cậu không bỏ qua một kẽ nứt nào mà không nhét lưỡi gươm săn vào, hay một mỏm đá nhô ra nào mà không tì tay đẩy mạnh với hy vọng nó sẽ dịch chuyển. Tất cả đều vô ích; và cậu đã hoài phí hai tiếng đồng hồ cho những nỗ lực cuối cùng trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Cuối cùng, cậu đành từ bỏ việc tìm kiếm, và Gaetano mỉm cười.

Khi Franz xuất hiện trở lại trên bờ, chiếc du thuyền giờ đây chỉ còn giống như một hạt bụi trắng nhỏ xíu trên đường chân trời. Cậu lại nhìn qua ống nhòm, nhưng lúc này thì chẳng còn phân biệt được gì nữa.

Gaetano nhắc nhở cậu rằng mục đích ban đầu của chuyến đi là để săn dê, điều mà cậu đã hoàn toàn quên mất. Cậu cầm lấy khẩu súng săn và bắt đầu đi săn khắp hòn đảo với phong thái của một kẻ đang thi hành nhiệm vụ hơn là tận hưởng niềm vui; chỉ vỏn vẹn mười lăm phút sau, cậu đã hạ được một con dê mẹ và hai con dê con. Những con vật này, dẫu hoang dã và nhanh nhẹn chẳng khác nào sơn dương, lại quá giống dê nhà, và Franz không tài nào coi chúng là thú săn được. Hơn thế nữa, những ý nghĩ khác, có sức hút mãnh liệt hơn nhiều, đang chiếm ngự tâm trí cậu. Kể từ buổi tối hôm qua, cậu thực sự đã trở thành nhân vật chính trong một câu chuyện Nghìn Lẻ Một Đêm, và cậu bị thôi thúc một cách cưỡng không nổi phải quay lại hang động ấy.

Thế là, dẫu lần tìm kiếm đầu tiên đã thất bại, cậu vẫn bắt đầu lần thứ hai, sau khi đã bảo Gaetano quay chín một trong hai con dê con. Chuyến ghé thăm thứ hai kéo dài khá lâu, và khi cậu quay lại thì con dê đã được quay xong cùng bữa ăn đã sẵn sàng. Franz ngồi xuống đúng nơi cậu từng ngồi vào buổi tối hôm trước, khi vị chủ nhà bí ẩn mời cậu dùng bữa tối; và cậu nhìn chiếc du thuyền nhỏ, lúc bấy giờ trông tựa như một con hải âu trên sóng nước, đang tiếp tục hành trình bay về phía Corsica.

“Sao cơ,” cậu thắc mắc với Gaetano, “anh bảo với tôi là ngài Sinbad sẽ đi Malaga cơ mà, trong khi có vẻ như ngài ấy đang đi về hướng Porto-Vecchio.”

“Ngài không nhớ sao,” viên thuyền trưởng đáp, “tôi đã nói với ngài rằng trong số thủy thủ đoàn có hai tên cướp biển người Corsica cơ mà?”

“Đúng vậy; và ngài ấy định đưa chúng lên bờ,” Franz tiếp lời.

“Chính xác là thế,” Gaetano đáp. “À, ngài ấy là kẻ chẳng sợ Trời chẳng sợ đất, người ta bảo vậy, và sẵn sàng đi chệch đường năm mươi dặm bất cứ lúc nào chỉ để làm ơn cho một kẻ khốn khổ.”

“Nhưng những ân huệ kiểu này có thể khiến ngài ấy gặp rắc rối với nhà chức trách của vùng đất nơi ngài thực thi thứ lòng nhân đạo này,” Franz nói.

“Và ngài ấy thèm quan tâm đến điều đó hay sao,” Gaetano cười đáp, “hay bất kỳ nhà chức trách nào khác chứ? Ngài ấy coi thường họ hết. Cứ để họ thử truy đuổi xem nào! Trước hết, du thuyền của ngài ấy không phải là tàu bình thường, mà là một con chim, và ngài ấy có thể chấp cho bất kỳ chiếc khinh hạm nào ba hải lý trong mỗi chín hải lý; còn nếu ngài ấy có tạt vào bờ biển đi chăng nữa, chẳng phải ngài ấy chắc chắn sẽ tìm được bạn bè ở khắp mọi nơi sao?”

Hiển nhiên là ngài Sinbad, chủ nhà của Franz, có vinh hạnh giữ mối quan hệ cực kỳ tốt đẹp với những kẻ buôn lậu và cướp bóc dọc khắp bờ biển Địa Trung Hải, và nhờ đó được hưởng những đặc quyền phi thường. Về phần Franz, cậu chẳng còn lý do gì để ở lại Monte Cristo nữa. Cậu đã mất sạch hy vọng khám phá bí mật của hang động; vì thế cậu liền ngấu nghiến bữa sáng, và khi chiếc thuyền đã sẵn sàng, cậu hối hả bước lên boong, chẳng mấy chốc họ đã nhổ neo lên đường. Đúng khoảnh khắc chiếc thuyền khởi hành, họ khuất hẳn tầm nhìn về phía chiếc du thuyền, khi nó biến mất vào vịnh Porto-Vecchio. Cùng với nó, dấu vết cuối cùng của đêm hôm trước cũng phai mờ; và rồi bữa tối, Sinbad, nhựa gai hashish, những bức tượng — tất cả đều trở thành một giấc mơ đối với Franz.

Chiếc thuyền giương buồm suốt cả ngày lẫn đêm, và sáng hôm sau, khi mặt trời mọc, họ đã rời khỏi tầm nhìn của đảo Monte Cristo.

Một khi đã đặt chân lên bờ, Franz tạm thời quên bẵng đi những sự kiện vừa diễn ra, trong lúc cậu hoàn tất nốt những công việc riêng mang tính giải trí tại Florence, rồi sau đó chẳng nghĩ ngợi gì ngoài việc làm sao để hội ngộ với người bạn đồng hành đang chờ mình ở Rome.

Cậu lên đường, và vào tối thứ Bảy đã đến Quảng trường Hải quan bằng xe ngựa bưu điện. Một căn hộ, như chúng ta đã nói, đã được đặt trước từ lâu, và vì thế cậu chỉ việc đến khách sạn của Signor Pastrini. Nhưng chuyện đó không hề dễ dàng gì, bởi các con đường đều đông nghịt người, và Rome lúc bấy giờ đã chìm trong thứ âm thanh trầm đục và đầy sốt ruột vốn báo trước mọi sự kiện lớn; mà ở Rome thì mỗi năm có tới bốn sự kiện lớn — Lễ hội hóa trang Carnival, Tuần Thánh, Lễ Mình Máu Thánh Chúa, và Lễ Thánh Phêrô.

Khoảng thời gian còn lại trong năm, thành phố chìm trong trạng thái thờ thẫn đờ đẫn, lửng lơ giữa sự sống và cái chết, khiến nơi đây trông giống như một trạm trung chuyển giữa thế giới này với thế giới bên kia — một chốn siêu việt, một điểm dừng chân tràn ngập chất thơ và cá tính, nơi Franz từng dừng chân năm hay sáu lần, và lần nào cậu cũng thấy nó kỳ diệu và ấn tượng hơn trước.

Cuối cùng, cậu cũng lách qua được biển người đang không ngừng dâng cao và ngày càng hỗn loạn để đến được khách sạn. Vừa cất lời hỏi, cậu liền nhận được cái thái độ xấc xược vốn là đặc quyền của đám đánh xe thuê và mấy chủ khách sạn khi phòng ốc đã kín chỗ, rằng không còn phòng nào trống cho cậu tại Hôtel de Londres cả. Thế rồi cậu đưa danh thiếp cho Signor Pastrini và hỏi tìm Albert de Morcerf. Kế hoạch này đã thành công mỹ mãn; chính Signor Pastrini đã chạynha nhác đến chỗ cậu, rối rít xin lỗi vì đã để quý ngài phải đợi, mắng mỏ đám phục vụ, giật lấy cây nến từ tay gã gác cổng đang chực chờ chộp lấy vị lữ khách và chuẩn bị dẫn ngài đến chỗ Albert, thì chính Morcerf đã xuất hiện.

Căn hộ gồm có hai phòng nhỏ và một phòng khách. Hai căn phòng hướng ra mặt đường — một chi tiết mà Signor Pastrini không ngớt lời ca ngợi như một ưu điểm vô giá. Phần còn lại của tầng đó được thuê bởi một quý ông rất giàu có, được cho là người Sicilia hoặc người Malta, nhưng người chủ khách sạn không sao xác định được vị lữ khách ấy thuộc quốc tịch nào.

“Tốt lắm, Signor Pastrini,” Franz nói; “nhưng chúng ta phải có ngay bữa tối, và một chiếc xe ngựa cho ngày mai cũng như những ngày tiếp theo.”

“Về bữa tối,” người chủ khách sạn đáp, “quý ngài sẽ được phục vụ ngay lập tức; nhưng còn về xe ngựa thì ——”

“Xe ngựa thì sao chứ?” Albert kêu lên. “Nào nào, Signor Pastrini, đừng đùa giỡn nữa; chúng ta bắt buộc phải có xe ngựa.”

“Thưa ngài,” chủ khách sạn đáp, “chúng tôi sẽ làm mọi cách trong khả năng để kiếm cho quý ngài một chiếc — tôi chỉ có thể nói vậy thôi.”

“Và khi nào thì chúng ta biết kết quả?” Franz hỏi.

“Sáng mai ạ,” người chủ khách sạn đáp.

“Ồ, chết tiệt thật! Thế thì chúng ta sẽ phải trả đắt hơn thôi, tao thấy rõ mười mươi rồi. Ở chỗ Drake hay Aaron, người ta chỉ trả hai mươi lăm lire cho những ngày thường, và đắt hơn ba mươi hoặc ba mươi lăm lire vào các ngày chủ nhật và ngày lễ; cộng thêm năm lire mỗi ngày cho các khoản phụ phí, tổng cộng sẽ là bốn mươi, thế là hết chuyện.”

“Tôi e rằng dẫu chúng ta có trả gấp đôi số đó thì cũng chẳng tài nào thuê được xe đâu.”

“Vậy thì họ phải lắp ngựa vào xe của tôi. Có hơi hao mòn một chút cho chuyến đi, nhưng chẳng sao cả.”

“Không có ngựa đâu ạ.”

Albert nhìn Franz y hệt như một kẻ vừa nghe thấy câu trả lời mà hắn chẳng thể tài nào hiểu nổi.

“Cậu có hiểu nổi điều đó không, Franz thân mến — không có ngựa ư?” cậu nói, “nhưng chẳng lẽ chúng ta không thể thuê ngựa trạm hay sao?”

“Chúng đã bị thuê sạch từ nửa tháng nay rồi, và chẳng còn con nào ngoài số lượng bắt buộc phải giữ lại cho việc chạy trạm.”

“Chúng ta phải nói sao về chuyện này đây?” Franz hỏi.

“Tôi bảo rằng, khi một chuyện hoàn toàn vượt quá khả năng hiểu biết của tôi, tôi có thói quen không suy nghĩ về nó nữa mà chuyển sang chuyện khác. Bữa tối đã sẵn sàng chưa, Signor Pastrini?”

“Rồi thưa quý ngài.”

“Được rồi, vậy chúng ta đi ăn tối thôi.”

“Nhưng còn xe ngựa và ngựa kéo thì sao?” Franz hỏi.

“Cứ yên tâm đi, anh bạn quý mến của tôi; chúng sẽ đến đúng lúc thôi; vấn đề chỉ là chúng ta sẽ phải trả bao nhiêu tiền cho chúng mà thôi.” Thế rồi Morcerf, với triết lý đầy hoan hỉ rằng chẳng có gì là bất khả thi đối với một chiếc ví căng phồng hay một hầu bao rủng rỉnh, thản nhiên ăn tối, đi ngủ, ngủ một giấc say nồng và mơ thấy mình đang phóng như bay khắp thành phố Rome trong mùa hội hóa trang bằng một cỗ xe sáu ngựa kéo.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.