Ôm chầm lấy người bạn bấy lâu hằng ao ước, Dantès suýt kéo ông về phía cửa sổ để nhìn rõ nét mặt hơn dưới thứ ánh sáng lờ mờ lọt qua song sắt.
Đó là một người đàn ông vóc người nhỏ nhắn, mái tóc bạc đi vì đau khổ và muộn phiền nhiều hơn là vì tuổi tác. Ông có đôi mắt sâu thẳm, tinh anh, hầu như bị vùi lấp dưới cặp lông mày dày và xám bạc, cùng bộ râu dài (vẫn còn đen) buông xõa xuống ngực. Gương mặt hốc hác, chằng chịt những nếp nhăn vì lo âu, và những đường nét cương nghị trên khuôn mặt đậm chất biểu cảm cho thấy đây là một người quen dùng trí óc hơn là thể lực. Những giọt mồ hôi lớn giờ đây đang đọng trên ván trán ông, trong khi những y phục rách rưới trên người ông khiến người ta chỉ có thể đoán mò về kiểu dáng ban đầu của chúng.
Người lạ mặt có lẽ khoảng sáu mươi hoặc sáu mươi lăm tuổi, nhưng sự lanh lẹ và vẻ tráng kiện trong từng cử động cho thấy tuổi già của ông chủ yếu là do ngục tù mang lại chứ không phải do năm tháng. Ông đón nhận lời chào đón nhiệt tình của người bạn trẻ với vẻ hài lòng rõ rệt, như thể tâm hồn đang lạnh giá bỗng được sưởi ấm và tiếp thêm sinh lực nhờ sự gần gũi của một người nồng hậu và nhiệt thành như vậy. Ông chân thành cảm ơn sự đón tiếp niềm nở ấy, dẫu rằng vào lúc đó hẳn ông đang phải vô cùng đắng cay khi nhận ra mình lại lạc vào một ngục tối khác, trong khi ông hằng đinh ninh sẽ tìm ra con đường lấy lại tự do.
– Trước tiên, hãy xem, – ông nói, – liệu có thể xóa bỏ dấu vết tôi đột nhập vào đây hay không – sự yên bình sau này của chúng ta phụ thuộc vào việc đám lính canh hoàn toàn không hay biết gì về điều đó.
Bước tới chỗ cửa thông, ông cúi xuống và dễ dàng nhấc hòn đá lên bất chấp sức nặng của nó; đoạn, khớp nó vào vị trí cũ và bảo:
– Cậu tháo hòn đá này bất cẩn quá; nhưng chắc là cậu không có dụng cụ hỗ trợ nào rồi.
– Ồ, – Dantès kinh ngạc kêu lên, – ngài có dụng cụ cơ à?
– Tôi tự làm lấy vài thứ; trừ chiếc giũa ra, tôi có đủ mọi thứ cần thiết – một cái đục, cái kìm và một thanh bẩy.

– Ôi, tôi mới ao ước được tận mắt thấy những sản phẩm từ sự khéo léo và kiên nhẫn của ngài làm sao.
– Chà, trước hết, đây là chiếc đục của tôi.
Nói đoạn, ông trưng ra một lưỡi đục sắc và khỏe, có cán bằng gỗ dẻ gai.
– Thế ngài đã chế tạo nó bằng cái gì thế? – Dantès hỏi.
– Bằng một thanh nẹp giường của tôi; và chính công cụ này đã đủ để tôi khoét nên con đường dẫn đến đây, dài khoảng năm mươi thước.
– Năm mươi thước! – Dantès đáp, suýt hoảng hốt.
– Đừng nói lớn tiếng thế, thanh niên ạ – đừng nói lớn tiếng. Ở một nhà tù kiên cố thế này, người ta thường hay bố trí người đứng ngoài cửa phòng giam để cố ý nghe lén câu chuyện của các tù nhân lắm.
– Nhưng họ đinh ninh rằng tôi bị giam một mình ở đây mà.
– Điều đó chẳng thay đổi được gì đâu.
– Và ngài bảo rằng ngài đã đào một đoạn đường dài năm mươi thước để đến đây ư?
– Đúng vậy; đó là khoảng cách ngăn cách phòng giam của cậu và của tôi; chỉ tiếc là, vì thiếu các dụng cụ hình học cần thiết để tính toán tỷ lệ, thay vì tính một đường elip dài bốn mươi thước, tôi lại thành ra năm mươi. Như tôi đã nói, tôi cứ đinh ninh là sẽ chạm tới bức tường bên ngoài, đục thủng nó và lao mình xuống biển; thế nhưng, tôi lại đi dọc theo hành lang nơi có cửa phòng giam của cậu mở ra, thay vì đi xuống phía dưới nó. Công sức của tôi đổ sông đổ biển hết, vì tôi nhận ra hành lang ấy hướng ra một khoảng sân đầy lính gác.
– Đúng thế, – Dantès nói; – nhưng cái hành lang mà ngài vừa nhắc chỉ giáp có một mặt phòng giam của tôi thôi; vẫn còn ba mặt kia nữa – ngài có biết tình trạng của chúng thế nào không?
– Mặt này tựa vào tảng đá nguyên khối, và mười thợ mỏ lành nghề, được trang bị đầy đủ công cụ cần thiết, cũng phải mất chừng ấy năm mới đục thủng nổi. Mặt kia giáp với phần dưới căn hộ của viên giám thị, và nếu chúng ta có đục qua đó đi nữa, thì cũng chỉ chui vào mấy căn hầm giam giữ nào đó, nơi chúng ta thế nào cũng bị bắt lại. Mặt thứ tư và cũng là mặt cuối cùng của phòng giam cậu hướng ra... hướng ra... đợi chút nào, nó hướng ra đâu nhỉ?
Bức tường mà ông đang nhắc tới chính là nơi có trổ lỗ châu lơi để lấy ánh sáng cho căn phòng. Lỗ châu lơi này nhỏ dần về phía bên ngoài, đến mức một đứa trẻ cũng không chui qua nổi, và để đảm bảo an ninh hơn, nó còn được gắn ba thanh sắt, đủ để dập tắt mọi mối bận tâm ngay cả trong tâm trí của viên ngục trì đa nghi nhất về khả năng vượt ngục của tù nhân. Vừa hỏi, người lạ mặt vừa kéo chiếc bàn lại sát dưới cửa sổ.
– Trèo lên đi, – ông bảo Dantès.
Chàng thanh niên vâng lời, trèo lên bàn và, đoán được ý nguyện của bạn đồng hành, bèn dán chặt lưng vào tường rồi giơ cả hai tay ra. Người lạ mặt – mà đến lúc đó Dantès mới chỉ biết qua số hiệu phòng giam của ông – bỗng chồm lên với một sự nhanh nhẹn mà người ở tuổi ông khó lòng có được; nhẹ nhàng và vững chãi như một con mèo hay con thằn lằn, ông trèo từ chiếc bàn lên đôi bàn tay đang dang rộng của Dantès, rồi từ đó leo lên vai chàng; tiếp đến, uốn cong người lại vì trần nhà ngục quá thấp không cho phép đứng thẳng, ông khéo léo lách đầu qua những thanh sắt phía trên của cửa sổ để phóng tầm mắt quan sát từ trên xuống dưới.
Chỉ một thoáng sau, ông vội rụt đầu lại, thốt lên: "Ta đoán không sai mà!" rồi trượt khỏi vai Dantès khéo léo y như lúc trèo lên, nhẹ nhàng nhảy từ mặt bàn xuống đất.
– Ngài đã đoán ra điều gì thế? – chàng thanh niên lo lắng hỏi, đoạn cũng bước xuống khỏi bàn.
Vị tù nhân lớn tuổi trầm ngâm suy nghĩ. – Phải, – cuối cùng ông nói, – đúng là như vậy. Phía này phòng giam của cậu nhìn ra một dạng hành lang lộ thiên, nơi lính tuần tra đi lại liên tục và lính gác canh gác ngày đêm.
– Ngài chắc chắn chứ?
– Chắc chắn. Tôi thấy bóng dáng người lính và đầu khẩu súng hỏa mai của anh ta; chính điều đó khiến tôi phải rụt đầu lại thật nhanh, vì sợ anh ta cũng sẽ nhìn thấy mình.
– Thế thì sao? – Dantès hỏi.
– Cậu thấy rõ sự bất khả thi trong việc trốn thoát qua đường phòng giam của cậu rồi chứ?
– Vậy thì... – chàng thanh niên số sắng tiếp lời.
– Vậy thì, – vị tù nhân lớn tuổi đáp, – xin vâng theo ý Chúa! – Và khi cụ già chầm chậm thốt ra những lời đó, một vẻ cam chịu sâu sắc liền bao trùm lên gương mặt hốc hác của ông. Dantès ngước nhìn người đàn ông có thể điềm nhiên phó mặc những hy vọng đã ấp ủ bấy lâu và nồng cháy đến thế, lòng ngập tràn kinh ngạc lẫn ngưỡng mộ.
– Xin ngài hãy nói cho tôi biết, ngài là ai và như thế nào? – cuối cùng cậu cất lời. – Chưa bao giờ tôi gặp một con người đáng kinh ngạc đến thế.
– Sẵn sàng thôi, – người lạ mặt đáp; – nếu quả thực cậu có chút tò mò về một kẻ giờ đây, hỡi ôi, đã chẳng thể giúp gì cho cậu được nữa.
– Xin đừng nói thế; ngài có thể an ủi và nâng đỡ tôi bằng sức mạnh từ tâm trí vô cùng uyên bác của mình. Xin vui lòng cho tôi biết thực ra ngài là ai?
Người lạ mặt mỉm cười u sầu. – Vậy hãy lắng nghe, – ông nói. – Ta là Viện phụ Faria, và như cậu đã biết, ta bị giam giữ ở lâu đài Château d’If này từ năm 1811; trước đó ta đã bị giam ba năm ở pháo đài Fenestrelle. Vào năm 1811, ta bị chuyển đến Piemonte ở nước Pháp. Chính trong thời kỳ này, ta hay tin định mệnh vốn dường như chiều theo mọi mong muốn của Napoleon đã ban cho hắn một đứa con trai, được suy tôn làm vua xứ Roma ngay từ trong nôi. Lúc ấy ta còn cách rất xa việc chờ đợi sự thay đổi mà cậu vừa cho ta biết; đó là bốn năm sau, con khổng lồ quyền lực ấy sẽ bị lật đổ. Thế bây giờ kẻ nào đang trị vì nước Pháp – Napoleon Đệ nhị phải không?
– Không, là Louis XVIII.
– Người em của Louis XVI! Đường lối của Đấng Tối Cao thật khôn lường làm sao – vì mục đích lớn lao và huyền bí nào mà Trời cao lại hạ bấy kẻ từng một thời cao ngóng, và nâng dậy kẻ từng bị vùi dập đến thế?
Toàn bộ sự chú ý của Dantès đều hướng về con người có thể quên đi bất hạnh của chính mình để bận tâm đến vận mệnh của kẻ khác.
– Phải, phải, – ông tiếp lời, – Mọi chuyện sẽ giống như ở nước Anh vậy. Sau Charles Đệ nhất là Cromwell; sau Cromwell là Charles Đệ nhị, rồi đến James Đệ nhị, rồi tới một người con rể hay họ hàng nào đó, một Hoàng thân xứ Orange, một vị thống đốc kiêm vua chúa. Sau đó là những nhượng bộ mới cho nhân dân, rồi hiến pháp, rồi tự do. À, bạn của tôi ơi! – vị viện phụ quay sang Dantès, nhìn cậu bằng ánh mắt rực sáng của một nhà tiên tri, – cậu còn trẻ, cậu sẽ được chứng kiến tất cả những điều đó diễn ra.
– Họa may, nếu như tôi có thể thoát khỏi nhà tù này!
– Đúng vậy, – Faria đáp, – chúng ta là tù nhân; nhưng đôi khi ta quên mất điều đó, thậm chí có những khoảnh khắc nhãn quan tâm trí đưa ta vượt qua những bức tường này, và ta tưởng như mình đang được tự do.
– Nhưng tại sao ngài lại ở đây?
– Bởi vì vào năm 1807, ta từng mơ về chính cái kế hoạch mà Napoleon đã cố thực hiện vào năm 1811; bởi vì, giống như Machiavelli, ta muốn thay đổi bộ mặt chính trị của nước Ý, và thay vì để nó bị chia cắt thành vô số tiểu vương quốc, mỗi nơi do một kẻ cai trị yếu hèn hoặc bạo tàn nắm giữ, ta tìm cách tạo ra một đế chế lớn lao, thống nhất và hùng cường; và cuối cùng, bởi vì ta tưởng rằng mình đã tìm thấy một Cesare Borgia ở một tên vua khờ khạo đội vương miện, kẻ đã giả vờ hưởng ứng quan điểm của ta chỉ để phản bội ta. Đó là kế hoạch của Alexander Đệ lục và Clement Bảy, nhưng giờ đây nó sẽ chẳng bao giờ thành công đâu, bởi vì họ đã mưu sự vô ích, còn Napoleon thì không thể hoàn thành sự nghiệp của mình. Nước Ý có vẻ chịu định mệnh bất hạnh.
Cụ già gục đầu xuống. Dantès không tài nào hiểu nổi một người lại có thể đánh đổi cả tính mạng vì những chuyện như thế. Về Napoleon thì cậu có biết chút ít, bởi cậu từng nhìn và trò chuyện với ông ta; nhưng còn Clement Bảy hay Alexander Đệ lục thì cậu hoàn toàn mù tịt.
– Chẳng phải ngài là vị linh mục mà ở lâu đài Château d’If này người ta thường nghĩ là... bị bệnh đó sao? – cậu hỏi.
– Ý cậu là điên chứ gì?
– Tôi không dám nói thế, – Dantès mỉm cười đáp.
– Ồ, thế thì, – Faria vừa nói vừa nở nụ cười cay đắng, – để ta trả lời trọn vẹn câu hỏi của cậu bằng cách thừa nhận rằng ta chính là tên tù nhân khốn khổ điên rồ của lâu đài Château d’If, kẻ bao năm nay được phép làm trò giải trí cho các vị khách bằng cái gọi là chứng điên của mình; và theo mọi xác suất, ta sẽ sớm được cất nhắc lên vinh dự làm trò hề cho lũ trẻ, nếu như có thể tìm thấy những sinh linh ngây thơ ấy ở một chốn chuyên dành cho đau khổ và tuyệt vọng thế này.
Dantès lặng đi một lát, bất động; cuối cùng cậu cất lời:
– Thế là ngài từ bỏ mọi hy vọng trốn thoát ư?
– Ta nhận thấy sự bất khả thi tột cùng của nó; và ta coi việc mưu toan điều mà Đấng Tối Cao rõ ràng không chuẩn y là một tội ác nghịch thiên.
– Không, xin đừng nản lòng. Chẳng phải là quá kỳ vọng khi mong mỏi thành công ngay trong lần thử sức đầu tiên sao? Sao ngài không thử tìm một lối đi ở hướng khác với hướng đã thất bại đầy tiếc nuối ấy?
– Hỡi ôi, cậu nói chuyện làm lại từ đầu thế là đủ biết cậu chẳng thể hình dung nổi ta đã phải trả giá đắt thế nào để thực hiện một mục đích cuối cùng lại tan thành mây khói một cách bất ngờ như vậy. Trước tiên, ta mất bốn năm để chế tạo những dụng cụ mình đang có, và đã hai năm cào múc đất đá, thứ đất đá cứng như đá hoa cương; rồi thì biết bao nhọc nhằn mệt mỏi mới dịch chuyển được những khối đá khổng lồ mà có lúc ta từng tưởng chẳng đời nào lay chuyển nổi. Ta đã trải qua cả những ngày trời đày đọa mình trong các nỗ lực tựa titan ấy, và coi như công sức được đền đáp xứng đáng nếu đến khi trời tối mà ta xoay xở khoét đi được một tấc vuông xi măng cứng đặc đã bị năm tháng biến thành một khối bền chắc chẳng kém gì đá; rồi để che giấu khối lượng đất đá vụn đào lên, ta buộc phải đập thủng một bậc cầu thang và ném thành quả lao động của mình vào khoảng rỗng bên dưới đó; nhưng cái giếng nay đã bị lấp kín đến mức ta nghĩ chẳng thể nhét thêm nổi một nhúm bụi nào mà không bị phát hiện. Lại hãy nghĩ xem, ta từng đinh ninh mình đã hoàn thành mục tiêu và đích đến của công cuộc, thứ mà ta đã kiềm chế sức lực chuẩn xác đến mức vừa vặn chấm dứt vào thời điểm hoàn thành đại sự; thế mà giờ đây, ngay khoảnh khắc ta đếm chờ thành công, mọi hy vọng lại vĩnh viễn tan tành. Không, ta xin nhắc lại rằng không gì có thể lay chuyển ta lặp lại những nỗ lực rõ ràng trái với ý muốn của Đấng Tối Cao.
Dantès cúi gằm mặt xuống để người kia không nhận ra niềm vui vì có bạn đồng hành đang lấn át nỗi đồng cảm cậu dành cho thất bại trong kế hoạch của vị viện phụ.
Vị viện phụ ngả người xuống chiếc giường của Edmond, trong khi bản thân Edmond vẫn đứng lặng. Ý nghĩ vượt ngục chưa từng xuất hiện trong đầu cậu. Quả thực có những việc trông có vẻ bất khả thi đến mức tâm trí ta chẳng buồn bồi hồi dù chỉ một thoáng. Đào hầm dưới đất suốt năm mươi thước – cống hiến ba năm trời cho một công lao mà nếu thành công sẽ dẫn đưa bạn đến một bờ vực cheo leo nhìn xuống biển – lao mình xuống sóng nước từ độ cao năm mươi, sáu mươi, có khi cả trăm thước, dối mặt với nguy cơ tan xác vào vách đá nếu may mắn thoát được làn đạn của lính gác; và ngay cả khi giả định đã qua hết ngút ngàn hiểm nguy ấy, bạn vẫn phải bơi giữ mạng một quãng đường ít nhất ba dặm mới tới được bờ – đó là những thử thách quá ư kinh hoàng và gai góc khiến Dantès chưa từng dám mơ tới một kế hoạch như thế, thà rằng phó mặc cho cái chết còn hơn.
Nhưng hình ảnh một cụ già bấu víu lấy sự sống với lòng dũng cảm tuyệt vọng ấy đã mang lại một ngã rẽ mới cho tư tưởng của cậu, truyền cho cậu thêm can đảm. Một người khác, lớn tuổi hơn và kém sức hơn cậu, đã dám mưu toan điều mà cậu không đủ kiên quyết để thực hiện, và chỉ thất bại vì một sai lầm trong tính toán. Cũng chính con người ấy, với sự kiên nhẫn và bền bỉ phi thường đến khó tin, đã xoay xở tự trang bị cho mình những công cụ cần thiết cho một nỗ lực vô tiền khoáng hậu. Người khác đã làm được tất cả những điều ấy; vậy thì cớ gì đối với Dantès lại là bất khả thi? Faria đã đào thông năm mươi thước, Dantès sẽ đào một trăm; Faria ở tuổi năm mươi đã cống hiến ba năm cho nhiệm vụ; còn cậu, tuổi trẻ chưa bằng nửa, sẽ hy sinh sáu năm; Faria, một giáo sĩ kiêm nhà bác học, đã chẳng hề chùn bước trước ý định liều mạng bơi một quãng đường ba dặm tới một trong các hòn đảo – Daume, Rattonneau hay Lemaire; lẽ nào một thủy thủ gan dạ, một thợ lặn kỳ cựu như cậu lại chịu chùn bước trước một nhiệm vụ tương tự; lẽ nào một kẻ từng bao lần vì dăm ba trò giải trí thuần túy mà lao mình xuống tận đáy biển vớt lấy nhánh san hô sáng ngời lại chần chừ không dám ôm ấp cùng một dự án ấy? Cậu có thể hoàn thành nó trong vòng một tiếng đồng hồ, và đã bao lần chỉ để tiêu khiển, cậu ngâm mình dưới nước lâu gấp đôi thế! Ngay lập tức, Dantès quyết định noi theo tấm gương dũng cảm của người bạn đồng hành đầy nghị lực, và ghi nhớ rằng điều gì đã từng làm được thì nay vẫn có thể làm lại.
Sau một hồi trầm ngâm sâu sắc, chàng thanh niên bỗng thốt lên:
– Tôi đã tìm ra thứ ngài đang tìm kiếm rồi!
Faria giật mình: – Thật thế chứ? – ông kêu lên, ngẩng đầu lên với nỗi lo âu dồn dập; – xin hãy cho tôi biết cậu vừa khám phá ra điều gì nào?

– Cái hành lang mà ngài đã đục thông từ căn phòng ngài đang ở trải dài theo cùng hướng với hành lang bên ngoài, phải thế không?
– Đúng vậy.
– Và nó cách đó không quá mười lăm thước chứ?
– Khoảng chừng ấy.
– Vâng, thế thì tôi sẽ bảo ngài chúng ta phải làm gì. Chúng ta sẽ đục thủng hành lang đó bằng cách trổ một lối đi ngang ở khoảng giữa, tựa như phần trên của một cây thánh giá. Lần này ngài sẽ vạch kế hoạch chuẩn xác hơn; chúng ta sẽ thoát ra được cái hành lang mà ngài vừa miêu tả; tiêu diệt tên lính gác canh giữ nó, và tẩu thoát. Tất cả những gì chúng ta cần để đảm bảo thành công chỉ là lòng dũng cảm, mà ngài thì có thừa, cùng sức mạnh, thứ mà tôi không thiếu; còn về sự kiên nhẫn, ngài đã chứng minh quá đủ rồi – giờ thì ngài sẽ thấy tôi chứng minh sự kiên nhẫn của mình.
– Khoan đã, người bạn thân mến của tôi, – vị viện phụ đáp; – rõ ràng là cậu chưa hiểu bản chất của lòng dũng cảm mà tôi được phú cho, và ý định sử dụng sức mạnh của tôi ra sao. Còn về sự kiên nhẫn, tôi cho rằng mình đã thực hành nó một cách dư dả khi mỗi buổi sáng lại bắt đầu lại công việc của đêm hôm trước, và mỗi đêm lại tiếp nối nhiệm vụ của ban ngày. Nhưng khi đó, hỡi chàng thanh niên (và tôi cầu xin cậu hãy chú ý lắng nghe cho kỹ), khi đó tôi tưởng rằng mình chẳng làm điều gì trái ý Đấng Tối Cao khi mưu cầu trả lại tự do cho một sinh linh vô tội – kẻ chưa hề phạm lỗi và không đáng phải chịu án phạt.
– Thế quan điểm của ngài đã thay đổi rồi sao? – Dantès vô cùng ngạc nhiên hỏi; – ngài tự cho rằng mình tội lỗi hơn khi mưu sự trót lọt từ lúc gặp tôi à?
– Không; và tôi cũng chẳng muốn chuốc lấy tội lỗi. Cho đến nay tôi vẫn tưởng mình chỉ đang gây chiến với hoàn cảnh chứ không phải con người. Tôi không cho là tội lỗi khi đục thủng một bức tường hay phá hủy một chiếc cầu thang; nhưng tôi không dễ dàng thuyết phục nổi bản thân đâm thủng một trái tim hay tước đoạt một sinh mạng.
Một thoáng ngạc nhiên khẽ lướt qua Dantès.
– Liệu có thể được không, – cậu nói, – khi tự do của ngài đang bị đe dọa mà ngài lại để cho những điều mâu thuẫn kiểu ấy cản trở việc giành lấy nó?
– Nói cho tôi nghe, – Faria đáp, – điều gì đã ngăn cản cậu đánh gục tên ngục trì bằng một thanh gỗ bẻ ra từ giường, mặc lấy quần áo của hắn và tìm đường tẩu thoát?
– Đơn giản là vì ý tưởng đó chưa từng xẹt qua đầu tôi, – Dantès đáp.
– Bởi vì, – cụ già nói, – sự chán ghét tự nhiên đối với việc phạm một tội ác như thế đã ngăn cậu nghĩ đến nó; và sự việc vẫn luôn là thế, bởi trong những điều đơn giản và được phép, bản năng tự nhiên ngăn chúng ta chệch khỏi ranh giới nghiêm ngặt của bổn phận. Con hổ, với bản tính ưa thích việc đổ máu, chỉ cần khướu giác mách bảo khi nào con mồi nằm trong tầm với, và nhờ tuân theo bản năng ấy mà nó ước lượng được cú nhảy cần thiết để chồm tới nạn nhân; trái lại, con người ghê tởm ý niệm về máu me – chẳng phải chỉ vì luật lệ đời sống xã hội truyền cho họ nỗi sợ hãi chùn bước trước việc tước đoạt mạng sống; cấu trúc tự nhiên và hình hài sinh lý của họ...

Dantès bối rối và im lặng trước lời giải thích về những suy nghĩ bấy lâu vẫn ngấm ngầm vận hành trong tâm trí, hay đúng hơn là tâm hồn cậu; bởi có hai loại tư tưởng hoàn toàn khác biệt, những thứ xuất phát từ cái đầu và những thứ bắt nguồn từ trái tim.
– Kể từ khi bị giam cầm, – Faria nói, – ta đã ngẫm nghĩ về tất cả những vụ vượt ngục nổi tiếng nhất từng được ghi chép lại. Chúng hiếm khi thành công. Những vụ đạt được thành công viên mãn đều là những kế hoạch được suy ngẫm lâu dài và sắp đặt chu đáo; chẳng hạn như cuộc trốn thoát của Công tước xứ Beaufort khỏi lâu đài Vincennes, của Viện phụ Dubuquoi khỏi For l’Evêque; của Latude khỏi ngục Bastille. Rồi cũng có những cuộc trốn thoát do may mắn tình cờ mang lại cơ hội, và đó mới là những vụ tuyệt vời nhất. Do đó, hãy kiên nhẫn chờ đợi một thời điểm thuận lợi, và khi nó hiện diện, hãy tận dụng nó.
– À, – Dantès bảo, – ngài có thể chịu đựng được sự chậm trễ tẻ nhạt ấy; ngài liên tục bận rộn với nhiệm vụ tự đặt ra, và khi mệt mỏi vì lao nhọc, ngài lại có những niềm hy vọng để vực dậy và khích lệ bản thân.
– Ta đảm bảo với cậu rằng, – cụ già đáp, – ta không hề tìm kiếm sự khuây khỏa hay điểm tựa từ nguồn đó.
– Thế ngài đã làm gì?
– Ta viết lách hoặc nghiên cứu.
– Thế ra ngài được phép sử dụng bút, mực và giấy ư?
– Ồ, không, – viện phụ đáp; – ta chẳng có thứ gì ngoài những thứ tự tay làm lấy.
– Ngài tự làm cả giấy, bút và mực cơ à?
– Phải.
Dantès nhìn đăm đăm đầy ngưỡng mộ, nhưng cậu vẫn có chút hoài nghi. Faria nhận ra điều đó.
– Khi nào cậu đến thăm phòng giam của ta, bạn trẻ ạ, – ông nói, – ta sẽ cho cậu xem toàn bộ một tác phẩm, là thành quả từ những suy ngẫm và chiêm nghiệm của cả cuộc đời ta; nhiều phần trong đó được ngẫm nghĩ dưới bóng râm của Đấu trường Colosseum ở Roma, dưới chân cột cờ thánh Mark ở Venice, và bên bờ sông Arno ở Florence, lúc bấy giờ ta đâu có ngờ rằng chúng lại được sắp xếp gọn gàng bên trong những bức tường của lâu đài Château d’If. Tác phẩm mà ta đang nhắc tới có tựa đề là Khảo luận về Khả năng thiết lập một Chế độ Quân chủ Chung ở Ý, và sẽ thành một tập sách khổ lớn.
– Thế ngài đã viết tất cả những điều ấy lên cái gì?
– Lên hai chiếc áo sơ mi của ta. Ta đã phát chế ra một thứ dung dịch làm cho vải lanh mịn màng và dễ viết lên như da cừu vậy.
– Thế ra ngài là nhà hóa học ư?
– Hơi hơi thôi; ta quen biết Lavoisier, và là bạn tâm giao của Cabanis.
– Nhưng để làm nên một tác phẩm như thế, hẳn ngài phải cần đến sách vở – ngài có sách không?
– Ta có gần năm ngàn cuốn sách trong thư viện ở Roma; nhưng sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần, ta nhận ra rằng chỉ với một trăm năm mươi cuốn sách được chọn lọc kỹ càng, một con người dẫu không nắm giữ một bản tổng kết toàn diện về mọi tri thức nhân loại, thì ít ra cũng có được tất cả những gì thực sự cần thiết phải biết. Ta đã dành ba năm cuộc đời để đọc và nghiên cứu một trăm năm mươi tập sách ấy đến mức thuộc lòng gần hết; thế nên từ khi vào tù, chỉ một chút gắng sức nhỏ của trí nhớ cũng đủ để ta gợi lại nội dung của chúng dễ dàng như thể những trang sách đang mở ra trước mắt. Ta có thể ngâm nga toàn bộ tác phẩm của Thucydides, Xenophon, Plutarch, Titus Livius, Tacitus, Strada, Jornandes, Dante, Montaigne, Shakespeare, Spinoza, Machiavelli và Bossuet. Ta chỉ kể ra những tên tuổi quan trọng nhất thôi đấy.
– Hẳn ngài phải thông thạo nhiều thứ tiếng thì mới đọc được ngần ấy sách chứ?
– Đúng vậy, ta nói được năm thứ tiếng hiện đại – tức là tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha; nhờ sự hỗ trợ của tiếng Hy Lạp cổ, ta đã học tiếng Hy Lạp hiện đại – ta nói nó không được trôi chảy như mong muốn, nhưng vẫn đang cố gắng tự trau dồi.
– Tự trau dồi cơ á! – Dantès lặp lại; – chà, sao ngài có thể làm được điều đó chứ?
– Thì ta lập một cuốn từ vựng gồm những từ mình biết; xoay sở, lật đi lật lại và sắp xếp chúng sao cho có thể diễn đạt suy nghĩ của mình qua trung gian đó. Ta biết gần một nghìn từ, đó là tất cả những gì thực sự cần thiết, dẫu ta tin trong các từ điển có tới gần một trăm nghìn từ. Ta không dám hy vọng mình sẽ rất lưu loát, nhưng chắc chắn ta chẳng gặp khó khăn gì trong việc diễn tả những nhu cầu và mong muốn của mình; và bấy nhiêu thôi cũng đã quá đủ cho những gì ta cần đến rồi.
Sự kinh ngạc của Dantès càng lúc càng lớn, cậu suýt tưởng mình đang đối mặt với một kẻ được phú cho những năng lực siêu nhiên; vẫn ôm ấp hy vọng tìm thấy một tì vết nào đó để kéo người này xuống ngang hàng với con người phàm tục, cậu nói thêm: – Thế nếu ngài không được cung cấp bút, ngài đã xoay sở thế nào để viết tác phẩm mà ngài vừa nhắc đến?
– Ta tự làm cho mình vài cây bút tuyệt hảo, thứ mà nếu ai biết thì chắc chắn sẽ chuộng hơn mọi loại bút khác trên đời. Cậu biết người ta thường dọn cho chúng ta những con cá whiting to đến thế nào vào những ngày ăn chay rồi đấy. Vâng, ta đã chọn phần sụn trên đầu những con cá ấy, và cậu khó mà tưởng tượng nổi niềm vui mừng khôn xiết của ta mỗi khi thứ Tư, thứ Sáu và thứ Bảy đến, bởi chúng mang lại cho ta phương tiện để bổ sung nguồn bút của mình; vì ta phải thành thật thừa nhận rằng những công trình nghiên cứu lịch sử chính là niềm an ủi và khuây khỏa lớn nhất đời ta. Khi ngược dòng quá khứ, ta quên đi hiện tại; và khi dạo bước tùy thích trên nẻo đường lịch sử, ta thôi không còn nhớ mình là một tù nhân nữa.
– Còn mực thì sao? – Dantès hỏi; – ngài làm mực bằng gì thế?
– Trước kia trong phòng giam của ta có một cái lò sưởi, – Faria đáp, – nhưng nó đã bị trát kín từ lâu trước khi ta đặt chân vào nhà tù này. Dù vậy, hẳn nó đã được sử dụng nhiều năm, bởi nó phủ một lớp bồ hóng dày đặc; ta hòa tan lớp bồ hóng ấy vào một phần rượu được mang tới cho ta vào mỗi Chủ nhật, và ta đảm bảo với cậu không thể tìm đâu ra thứ mực nào tốt hơn thế. Đối với những ghi chú cực kỳ quan trọng, những thứ đòi hỏi sự chăm chú sát sao hơn, ta đã chích một ngón tay của mình và viết bằng chính máu của mình.
– Và khi nào, – Dantès hỏi, – tôi mới được xem tất cả những thứ này?
– Bất cứ lúc nào cậu muốn, – vị viện phụ đáp.
– Ồ, thế thì đi ngay đi! – chàng thanh niên thốt lên.
– Vậy hãy theo ta, – vị viện phụ nói, rồi bước trở lại vào đường hầm ngầm, nơi ông nhanh chóng biến mất, theo sau là Dantès.