Cả bá tước lẫn Baptistin đều nói thật khi họ báo cho Morcerf biết về chuyến viếng thăm đã định trước của vị thiếu tướng, điều mà Monte Cristo đã dùng làm cái cớ để từ chối lời mời của Albert. Đồng hồ vừa điểm bảy giờ, và theo đúng mệnh lệnh đã giao, ngài Bertuccio đã lên đường đi Auteuil từ hai tiếng trước thì một chiếc xe thuê trờ tới trước cửa; sau khi thả vị khách xuống cổng, chiếc xe liền vội vã đánh đi ngay, như thể đang hổ thẹn vì cuốc xe vừa rồi. Vị khách trông độ năm mươi hai tuổi, khoác chiếc áo khoác xanh dài ngang gối viền những dải tua rua đen từng làm mưa làm gió khắp châu Âu suốt một thời gian dài. Ông mặc quần vải xanh, đi đôi ủng tương đối sạch nhưng không được đánh bóng cho lắm và có phần đế hơi dày, đeo găng tay da thuộc, đội chiếc mũ nom hơi giống loại mũ của hiến binh, và thắt chiếc cà vạt đen sọc trắng trông chẳng khác nào một chiếc thòng lọng nếu chủ nhân của nó không tự nguyện đeo vào. Đó là bộ trang phục kỳ quặc của vị khách vừa giật chuông cổng, hỏi xem đây có phải là số nhà 30 đại lộ Champs-Élysées, nơi Bá tước Monte Cristo ở hay không, và sau khi được người gác cổng trả lời phải, liền bước vào, khép cửa lại rồi thắt thẻo bước lên bậc thềm.
Mái đầu nhỏ và nhọn của người đàn ông này, mái tóc trắng cùng bộ ria mép xám dày đã giúp Baptistin nhận ra ông ta ngay lập tức, bởi anh đã nhận được mô tả chi tiết về vị khách được chờ đón và đang đứng đợi ông ở sảnh. Thế nên, vị khách còn chưa kịp xướng tên thì bá tước đã được báo tin ông tới. Ông được dẫn vào một phòng khách giản dị mà tao nhã, và vị bá tước mỉm cười đứng dậy đón tiếp.
“À, kính chào ngài, ngài đến thật đúng lúc; tôi đang đợi ngài đây.”
“Thật sao,” vị người Ý nói, “vậy ra điện hạ đã biết trước chuyến viếng thăm của tôi rồi ư?”
“Vâng; tôi đã được báo là sẽ gặp ngài vào lúc bảy giờ ngày hôm nay.”
“Thế ra ngài đã nhận được đầy đủ tin tức về chuyến đi của tôi rồi chứ?”
“Dĩ nhiên rồi.”
“À, thế thì quá hay, tôi cứ sợ là người ta quên mất chút ít thận trọng này chứ.”

“Thận trọng gì cơ chứ?”
“Là việc báo trước cho ngài hay về sự có mặt của tôi.”
“Ồ, không đâu, không quên đâu.”
“Nhưng ngài chắc chắn là mình không nhầm chứ?”
“Rất chắc chắn.”
“Quả thực là điện hạ đang mong đợi tôi vào lúc bảy giờ tối nay phải không?”
“Tôi sẽ chứng minh cho ngài thấy điều đó một cách không thể chối cãi.”
“Ồ, thôi, không cần thế đâu,” vị người Ý nói; “không đáng bận tâm vậy đâu.”
“Có chứ, có chứ,” Monte Cristo nói. Vị khách trông có vẻ hơi bất an. “Để tôi xem nào,” bá tước nói; “chẳng phải ngài là Hầu tước Bartolomeo Cavalcanti đó sao?”
“Bartolomeo Cavalcanti,” vị người Ý mừng rỡ đáp; “vâng, chính xác là tôi đây.”
“Cựu thiếu tướng trong quân đội Áo?”
“Tôi từng là thiếu tướng sao?” vị cược chiến binh rụt rè hỏi.
“Vâng,” Monte Cristo nói, “ngài là thiếu tướng; đó là danh hiệu mà người Pháp dùng để chỉ chức vụ ngài từng đảm nhiệm ở Ý.”
“Rất phải,” vị thiếu tướng nói, “tôi không đòi hỏi gì hơn, ngài hiểu cho——”
“Chuyến viếng thăm của ngài hôm nay không phải do ngài tự nghĩ ra, phải không?” Monte Cristo hỏi.
“Không, chắc chắn là không rồi.”
“Ngài được một người khác sai đến ư?”
“Vâng.”
“Bởi vị tu viện trưởng đáng kính Busoni chăng?”
“Đúng thế ạ,” vị thiếu tướng hớn hở đáp.
“Và ngài có một bức thư chứ?”
“Vâng, đây ạ.”
“Vậy đưa cho tôi nào.” Và Monte Cristo cầm lấy bức thư, mở ra đọc. Vị thiếu tướng trợn tròn mắt nhìn bá tước, đoạn đảo mắt quan sát căn phòng, nhưng cái nhìn của ông gần như ngay lập tức quay trở lại phía chủ nhân ngôi nhà.
“Vâng, vâng, tôi thấy rồi. ‘Thiếu tướng Cavalcanti, một nhà quý tộc đáng kính xứ Lucca, hậu duệ dòng họ Cavalcanti ở Florence,’” Monte Cristo tiếp tục đọc lớn, “‘có mức thu nhập nửa triệu.’”
Monte Cristo ngẩng đầu khỏi trang giấy và cúi đầu chào.
“Nửa triệu,” ông nói, “thật tuyệt vời!”
“Nửa triệu cơ á?” vị thiếu tướng thốt lên.
“Vâng, viết rành rành ra đấy; và chắc chắn phải thế, vì vị tu viện trưởng nắm rất rõ số tài sản của tất cả những gia tộc giàu có nhất châu Âu.”
“Thôi thì cứ cho là nửa triệu đi; nhưng thưa danh dự của tôi, tôi hoàn toàn không ngờ lại nhiều đến thế.”
“Đó là vì ngài bị tên quản gia gặm nhấm tài sản rồi. Ngài phải chấn chỉnh lại khoản đó thôi.”
“Ngài đã điểm nhãn cho tôi rồi,” vị người Ý nghiêm trang nói; “tôi sẽ tống cổ mấy tay đó ra khỏi nhà.”
Monte Cristo tiếp tục đọc dở bức thư:
“‘Và chỉ còn thiếu đúng một điều nữa để được hạnh phúc trọn vẹn.’”
“Thật vậy đấy, chỉ thiếu mỗi điều đó!” vị thiếu tướng thở dài nói.
“‘Đó là tìm lại được đứa con trai yêu dấu bị thất lạc.’”
“Một đứa con trai yêu dấu bị thất lạc!”
“‘Bị cướp mất từ thuở lọt lòng, hoặc bởi kẻ thù của dòng dõi quý tộc ấy, hoặc bởi bọn du mục.’”
“Lúc mới lên năm tuổi!” vị thiếu tướng thở dài sườn sượt, ngước mắt lên trời.
“Người cha bất hạnh,” Monte Cristo nói. Vị bá tước đọc tiếp:
“‘Tôi đã thắp lại cho anh ấy sinh khí và niềm hy vọng, với lời đảm bảo rằng ngài có khả năng trao trả lại đứa con trai mà anh ấy đã nhọc công tìm kiếm suốt mười lăm năm trời.’”
Vị thiếu tướng nhìn bá tước với vẻ lo âu khó tả.
“Tôi có khả năng làm được điều đó,” Monte Cristo nói. Vị thiếu tướng lấy lại bình tĩnh.
“Thế ra,” ông nói, “bức thư đã nói đúng đến tận câu cuối cùng sao?”
“Ngài lại nghi ngờ điều đó ư, thưa ngài Bartolomeo thân mến?”
“Không, thực tình là không; chắc chắn là không rồi; một người tốt, một người mang chức sắc tôn giáo như tu viện trưởng Busoni không thể hạ mình đi lừa gạt hay đùa cợt được; nhưng điện hạ vẫn chưa đọc hết mà.”
“À phải,” Monte Cristo nói, “còn một bút tích ở hậu thư.”
“Vâng, vâng,” vị thiếu tướng lặp lại, “vâng—có—một—lời—nhắn.”
“‘Để đỡ phiền cho Thiếu tướng Cavalcanti phải rút tiền từ ngân hàng của mình, tôi gửi kèm một hối phiếu trị giá 2.000 franc để trang trải chi phí dọc đường, cùng hạn mức tín dụng 48.000 franc nơi ngài, khoản tiền ngài vẫn còn nợ tôi.’”
Vị thiếu tướng hồi hộp chờ đợi đoạn kết của bức thư, trông có vẻ vô cùng lo lắng.
“Rất tốt,” vị bá tước nói.
“Ngài ấy bảo ‘rất tốt’,” vị thiếu tướng lẩm bẩm, “thế thì—thưa ngài——” ông đáp lời.
“Thế thì sao nào?” Monte Cristo hỏi.
“Thế thì phần bút tích cuối thư ấy——”
“Ừm; sao nào cái phần hậu thư ấy?”
“Thế thì phần hậu thư đó cũng được ngài tiếp nhận một cách tốt đẹp như phần còn lại của bức thư chứ?”
“Dĩ nhiên rồi; tu viện trưởng Busoni và tôi vẫn có một chút kiêm chi qua lại với nhau. Tôi không nhớ chính xác là mình còn nợ ngài ấy 48.000 franc hay không, nhưng tôi dám chắc chúng ta sẽ chẳng đôi co về dăm ba đồng chênh lệch ấy đâu. Ngài rất coi trọng phần hậu thư này phải không, thưa ngài Cavalcanti thân mến?”
“Tôi xin phép được giải thích,” vị thiếu tướng nói, “rằng vì hoàn toàn tin tưởng vào chữ ký của tu viện trưởng Busoni, tôi đã không mang theo nguồn quỹ nào khác; thế nên nếu nguồn này mà hỏng việc, tôi sẽ rơi vào hoàn cảnh vô cùng khốn đốn ở Paris.”
“Lẽ nào một người có địa vị như ngài lại có thể bị kẹt tiền ở bất cứ đâu sao?” Monte Cristo nói.
“Chà, thực tình là tôi chẳng quen ai cả,” vị thiếu tướng nói.
“Nhưng bù lại, bản thân ngài lại được người ta biết đến chứ?”
“Vâng, tôi có tiếng tăm, thế nên——”
“Xin mời ngài cứ nói tiếp, thưa ngài Cavalcanti.”
“Thế nên ngài sẽ trao lại cho tôi 48.000 franc này chứ?”
“Dĩ nhiên, ngay khi ngài cất lời.” Đôi mắt vị thiếu tướng mở to vì ngạc nhiên đến thích thú. “Nhưng xin mời ngài ngồi xuống đã,” Monte Cristo nói; “thật tôi chẳng biết mình đang nghĩ gì nữa—lại để ngài đứng suốt một phần tư tiếng đồng hồ qua.”
“Xin đừng bận tâm.” Vị thiếu tướng kéo một chiếc ghế bành lại gần rồi ngồi xuống.
“Bây giờ,” vị bá tước nói, “ngài dùng chút gì nhé—một ly rượu sherry, port hay Alicante?”
“Alicante đi ạ, nếu được thế; đó là loại rượu yêu thích của tôi.”
“Tôi có sẵn loại rất ngon đấy. Ngài dùng kèm một chiếc bánh quy nhé?”
“Vâng, tôi xin nhận bánh quy, vì ngài đã quá chu đáo.”
Monte Cristo giật chuông; Baptistin xuất hiện. Vị bá tước bước ra đón.
“Thế nào?” ông hỏi nhỏ.
“Cậu thanh niên đã ở đây rồi,” người đầy tớ đáp bằng giọng tương tự.
“Ngươi đã đưa cậu ta vào phòng nào thế?”
“Vào phòng khách xanh, theo đúng lệnh của điện hạ ạ.”
“Được rồi; bây giờ hãy mang rượu Alicante và ít bánh quy ra đây.”
Baptistin lui ra.
“Thật tình,” vị thiếu tướng nói, “tôi thấy vô cùng áy náy vì đã làm phiền ngài.”
“Xin đừng khách sáo như thế,” vị bá tước đáp. Baptistin quay lại mang theo ly, rượu và bánh quy. Vị bá tước rót đầy một ly, còn ly kia thì chỉ nhỏ vài giọt chất lỏng đỏ hồng. Cái chai bám đầy mạng nhện cùng mọi dấu hiệu cho thấy tuổi đời của rượu còn chuẩn xác hơn những nếp nhăn trên trán người. Vị thiếu tướng có một lựa chọn khôn ngoan; ông chọn ly đầy và một chiếc bánh quy. Vị bá tước bảo Baptistin đặt đĩa bánh trong tầm với của vị khách, và vị này bắt đầu nhấm nháp ly Alicante với vẻ mãn nguyện khôn tả, đoạn nhúng chiếc bánh quy vào rượu một cách đầy tao nhã.

“Thế đấy, ngài từng sống ở Lucca phải không? Ngài giàu có, quý phái, được mọi người kính trọng—có đủ mọi thứ để khiến một người hạnh phúc chứ?”
“Tất cả chứ ạ,” vị thiếu tướng nói, vừa vội vàng nuốt miếng bánh quy, “quả thực là có tất cả.”
“Và dẫu vậy vẫn còn thiếu một điều để trọn vẹn hạnh phúc?”
“Chỉ một điều duy nhất,” vị người Ý nói.
“Và điều duy nhất ấy chính là đứa con trai thất lạc.”
“À,” vị thiếu tướng nói, vừa với lấy chiếc bánh quy thứ hai, “đúng là hạnh phúc của tôi vẫn còn thiếu cái kết viên mãn ấy.” Vị thiếu tướng đáng kính ngước mắt lên trời thở dài.
“Vậy xin hãy kể tôi nghe,” vị bá tước nói, “người con trai được nuối tiếc khôn nguôi ấy là ai thế; vì trước nay tôi vẫninh đinh ngài là người độc thân cơ mà.”
“Đó là nhận định chung của mọi người, thưa ngài, còn tôi——”
“Vâng,” vị bá tước đáp, “và ngài đã xác nhận lời đồn đó. Chắc là một phút bồng bột thời tuổi trẻ mà ngài muốn giấu kín trước thiên hạ phải không?”
Vị thiếu tướng lấy lại bình tĩnh, khôi phục vẻ điềm đạm thường ngày, đồng thời hạ mi mắt xuống, hoặc là để có thời gian chỉnh đốn lại nét mặt, hoặc để hỗ trợ cho trí tưởng tượng, trong khi vẫn liếc nhìn bá tước bằng ánh mắt dò xét, nơi nụ cười vẫn đọng lại trên môi cho thấy sự tò mò lịch thiệp ấy vẫn chưa hề suy giảm.
“Vâng,” vị thiếu tướng nói, “tôi thực sự muốn che giấu lỗi lầm ấy trước mọi ánh mắt.”
“Chắc không phải vì bản thân ngài đâu nhỉ,” Monte Cristo đáp; “vì một người đàn ông vốn coi nhẹ những chuyện thế tục mà?”
“Ồ, không, chắc chắn không phải vì bản thân tôi rồi,” vị thiếu tướng mỉm cười và lắc đầu nói.
“Mà là vì người mẹ?” vị bá tước hỏi.
“Vâng, vì người mẹ—người mẹ đáng thương của nó!” vị thiếu tướng kêu lên, với lấy chiếc bánh quy thứ ba.
“Xin mời ngài dùng thêm chút rượu, ngài Cavalcanti thân mến,” vị bá tước nói, vừa rót thêm cho ông ly Alicante thứ hai; “sự xúc động đã làm ngài chao đảo rồi đấy.”
“Người mẹ đáng thương của nó,” vị thiếu tướng lẩm bẩm, cố gắng kích thích tuyến lệ để làm khóe mắt rớm lên một giọt nước mắt giả tạo.
“Bà ấy thuộc một trong những dòng tộc danh giá nhất nước Ý, tôi nhớ không lầm chứ?”
“Bà ấy xuất thân từ một gia đình quý tộc ở Fiesole, thưa bá tước.”
“Và tên bà ấy là——”
“Ngài muốn biết tên bà ấy ư——?”
“Ồ,” Monte Cristo nói, “ngài có kể ra cũng thừa, vì tôi biết hết rồi còn gì.”
“Bá tước đây đúng là thông tuệ mọi chuyện,” vị người Ý cúi đầu nói.
“Oliva Corsinari, có phải thế không?”
“Oliva Corsinari!”
“Một nữ hầu tước?”
“Một nữ hầu tước!”
“Và rốt cuộc ngài đã cưới bà ấy, bất chấp sự phản đối từ gia tộc?”
“Vâng, mọi chuyện kết thúc là thế.”
“Và chắc hẳn ngài đã mang theo tất cả giấy tờ tùy thân bên mình rồi chứ?” Monte Cristo hỏi.
“Giấy tờ gì cơ ạ?”
“Giấy chứng nhận kết hôn giữa ngài với Oliva Corsinari, và giấy khai sinh của đứa trẻ.”
“Giấy khai sinh của đứa trẻ ư?”
“Giấy khai sinh của Andrea Cavalcanti—con trai ngài; chẳng phải nó tên là Andrea sao?”
“Tôi tin là thế,” vị thiếu tướng đáp.
“Sao cơ? Ngài chỉ tin là thế thôi ư?”
“Tôi không dám khẳng định chắc nịch, vì nó đã thất lạc quá lâu rồi.”
“Thế thì,” Monte Cristo nói, “ngài có mang theo toàn bộ giấy tờ bên mình chứ?”
“Thưa điện hạ, tôi rất tiếc phải nói rằng, vì không biết là cần phải mang theo mấy loại giấy tờ này, nên tôi đã bỏ quên mất.”
“Thật là đáng tiếc,” Monte Cristo đáp.
“Chẳng lẽ chúng quan trọng đến thế sao?”
“Chúng là những thứ không thể thiếu.”
Vị thiếu tướng đưa tay gạt trán. “Á chà, perbacco, không thể thiếu thật cơ à?”
“Dĩ nhiên rồi; giả sử có người dấy lên nghi ngờ về tính hợp pháp trong cuộc hôn nhân của ngài hoặc tư cách hợp pháp của con trai ngài thì sao?”
“Đúng thế,” vị thiếu tướng nói, “người ta hoàn toàn có thể hoài nghi.”
“Trong trường hợp đó, con trai ngài sẽ rơi vào hoàn cảnh vô cùng bất lợi.”
“Sẽ là thảm họa cho tương lai nó mất.”
“Nó có thể làm hỏng cả một mối lương duyên môn đăng hộ đối nào đó.”
“O peccato!”
“Ngài phải hiểu rằng ở Pháp người ta cực kỳ soi mói những vấn đề này; ở đây không giống như Ý, cứ dắt nhau ra gặp cha xứ rồi bảo ‘Chúng con yêu nhau, xin ngài làm ơn thành hôn cho’, là xong đâu. Hôn nhân ở Pháp là một vấn đề dân sự, và để kết hôn một cách đàng hoàng, ngài bắt buộc phải có giấy tờ chứng minh minh bạch thân phận của mình.”
“Đúng là khổ thế đấy! Ngài thấy đấy, tôi lại chẳng có mấy thứ giấy tờ cần thiết ấy.”
“Nhưng may thay, tôi lại có chúng,” Monte Cristo nói.
“Ngài cơ á?”
“Vâng.”
“Ngài có chúng sao?”
“Tôi đang giữ chúng đây.”
“Ái chà, thật thế ư?” vị thiếu tướng thốt lên; khi thấy mục đích chuyến đi của mình sắp đổ bể vì thiếu giấy tờ, ông lại đâm ra sợ sự đã lãng trí của mình sẽ gây ra rắc rối cho khoản tiền 48.000 franc—“ôi chao, đúng là tình cờ may mắn quá; vâng, thật là may, vì tôi có bao giờ nghĩ đến chuyện mang theo chúng đâu cơ chứ.”
“Tôi hoàn toàn không lấy làm lạ đâu—đâu thể chu toàn mọi thứ được; nhưng may thay, tu viện trưởng Busoni đã nghĩ thay cho ngài.”
“Ngài ấy đúng là một con người tuyệt vời.”
“Ngài ấy cực kỳ cẩn trọng và chu đáo.”
“Ngài ấy là một bậc vĩ nhân,” vị thiếu tướng nói; “vậy ngài ấy đã gửi chúng cho ngài ư?”
“Đây thưa ngài.”
Vị thiếu tướng chắp hai tay lại bày tỏ vẻ khâm phục.
“Ngài đã cưới Oliva Corsinari tại nhà thờ San Paolo del Monte-Cattini; đây là giấy chứng nhận của cha xứ.”
“Đúng thế thật, chuẩn xác không sai vào đâu được,” vị người Ý vừa nói vừa nhìn với vẻ ngạc nhiên.
“Và đây là giấy khai sinh của Andrea Cavalcanti, do cha sở xứ Saravezza cấp.”
“Không chê vào đâu được.”
“Vậy ngài hãy cầm lấy những tài liệu này đi; chúng chẳng dính dáng gì đến tôi cả. Ngài sẽ trao lại chúng cho con trai ngài, và dĩ nhiên cậu ta sẽ phải giữ gìn chúng thật cẩn thận.”
“Đương nhiên rồi! Giả sử nó mà làm mất thì——”
“Nào, thế nếu nó làm mất thật thì sao?” Monte Cristo hỏi.
“Trong trường hợp đó,” vị thiếu tướng đáp, “thì sẽ phải viết thư xin bản sao khác từ cha sở, và phải mất một khoảng thời gian mới nhận được.”
“Sẽ là một rắc rối lớn đấy,” Monte Cristo nói.
“Gần như là bất khả thi ấy chứ,” vị thiếu tướng đáp.
“Tôi rất mừng vì ngài hiểu được giá trị của những giấy tờ này.”
“Tôi coi chúng là vô giá.”
“Bây giờ,” Monte Cristo nói, “còn về phần người mẹ của cậu thanh niên ấy——”
“Về phần người mẹ của cậu thanh niên ấy——” vị người Ý lo lắng lặp lại.
“Liên quan đến Nữ hầu tước Corsinari——”
“Thật tình,” vị thiếu tướng nói, “rắc rối cứ dồn dập kéo đến thế này; không lẽ bà ấy cũng liên quan gì sao?”
“Không đâu, thưa ngài,” Monte Cristo đáp; “hơn nữa, chẳng phải bà ấy đã——”
“Vâng, thưa ngài,” vị thiếu tướng nói, “bà ấy đã——”

“Trả món nợ cuối cùng cho tự nhiên rồi ư?”
“Than ôi, vâng,” vị người Ý đáp.
“Tôi biết điều đó,” Monte Cristo nói; “bà ấy đã qua đời từ mười năm nay rồi.”
“Và tôi vẫn đang chìm đắm trong nỗi đau mất mát,” vị thiếu tướng thốt lên, vừa rút chiếc khăn tay sọc ca-rô trong túi ra, lần lượt lau bên mắt trái rồi lại bên mắt phải.
“Biết làm sao được chứ?” Monte Cristo nói; “ai rồi cũng phải về với cát bụi. Giờ thì ngài đã hiểu, thưa ngài Cavalcanti thân mến, rằng việc ngài kể với người Pháp rằng mình đã ly tán với con trai suốt mười lăm năm trời là điều vô ích. Những câu chuyện về bọn du mục chuyên bắt cóc trẻ con chẳng hề hợp thời ở cái xứ này chút nào đâu, và sẽ chẳng có ai tin sái cổ đâu. Ngài đã gửi nó đi học tại một trường cao đẳng ở tỉnh lỵ, và giờ thì ngài muốn nó hoàn thành nốt việc học hành giữa chốn thượng lưu Paris. Đó chính là lý do thôi thúc ngài rời khỏi ViaReggio, nơi ngài đã sinh sống kể từ khi vợ ngài qua đời. Thế là quá đủ rồi.”
“Ngài nghĩ vậy sao?”
“Dĩ nhiên.”
“Thôi được, cứ thế đi.”
“Lỡ như người ta gặng hỏi về chuyện ly tán ấy——”
“Ồ, vâng; vậy tôi phải nói thế nào?”
“Rằng một tên gia sư bội bạc, bị kẻ thù của gia tộc ngài mua chuộc——”
“Bởi gia tộc Corsinari ư?”
“Chính xác. Đã đánh tráo đứa trẻ này đi, nhằm tuyệt diệt tông đường nhà ngài.”
“Lý lẽ đó nghe rất xuôi tai, vì nó là đứa con trai độc nhất mà.”
“Thế đấy, giờ mọi chuyện đã được sắp xếp ổn thỏa, đừng để những ký ức vừa được khơi gợi ấy trôi đi mất. Chắc hẳn ngài đã đoán trước là tôi đang chuẩn bị cho ngài một bất ngờ rồi chứ?”
“Một bất ngờ thú vị phải không?” vị người Ý hỏi.
“Ồ, tôi thấy ánh mắt của một người cha cũng tinh anh chẳng kém gì trái tim ông ta đâu.”
“Hừm!” vị thiếu tướng thốt lên.
“Có ai đã hé lộ bí mật cho ngài rồi chăng; hoặc có lẽ ngài đã đoán được cậu ta đang ở đây.”
“Ai ở đây cơ?”
“Con trai ngài—đứa con trai quý tử của ngài—cậu Andrea chứ ai!”
“Tôi đoán ra rồi mà,” vị người Ý đáp với vẻ điềm tĩnh đến mức tối đa. “Thế ra nó đang ở đây ư?”
“Đúng vậy,” Monte Cristo nói; “lúc tên đầy tớ bước vào ban nãy, hắn vừa báo tin cậu ta đã tới.”
“À, tốt quá, tốt quá,” vị thiếu tướng nói, vừa bấu lấy từng chiếc cúc áo sau mỗi câu cảm thán.
“Thưa ngài,” Monte Cristo nói, “tôi rất thấu hiểu sự xúc động của ngài; ngài cần có thời gian để lấy lại bình tĩnh. Trong lúc này, tôi sẽ sang chuẩn bị tinh thần cho cậu thanh niên trước cuộc hội ngộ hằng mong ước này, vì tôi đoán là cậu ta cũng đang nóng lòng chẳng kém gì ngài đâu.”
“Tôi hoàn toàn tin là thế,” Cavalcanti đáp.
“Thôi được, chỉ một khắc nữa thôi cậu ấy sẽ có mặt với ngài.”
“Ngài sẽ đưa cậu ấy ra đây chứ? Ngài lại tốt bụng đến mức tự tay dẫn cậu ấy đến gặp tôi cơ à?”
“Không; tôi không muốn đứng giữa tình phụ tử. Cuộc gặp gỡ của hai cha con sẽ chỉ có hai người. Nhưng ngài cứ yên tâm; dẫu cho tiếng gọi thiêng liêng của huyết thống có chăng lỡ im bặt đi chăng nữa, ngài cũng chẳng thể nhận nhầm cậu ấy đâu; cậu ta sẽ bước vào từ cánh cửa này. Cậu ấy là một thanh niên khôi ngô, tóc vàng—có lẽ hơi vàng quá một chút—tính tình niềm nở; nhưng rồi ngài cứ tự mình nhìn ngắm và đánh giá lấy.”
“Nhân tiện đây,” vị thiếu tướng nói, “ngài biết đấy tôi chỉ có vỏn vẹn 2.000 franc mà tu viện trưởng Busoni gửi cho; số tiền đó tôi đã nướng sạch vào chi phí đi lại dọc đường rồi, và——”
“Và ngài đang cần tiền; đó là điều hiển nhiên thôi, thưa ngài Cavalcanti thân mến. Nào, đây là 8.000 franc ứng trước.”
Đôi mắt vị thiếu tướng lóe lên những tia sáng rực rỡ.
“Tính ra là tôi vẫn còn nợ ngài 40.000 franc đấy nhé,” Monte Cristo nói.
“Điện hạ có cần tôi viết giấy biên nhận không?” vị thiếu tướng hỏi, tay nhanh nhẹn nhét xấp tiền vào túi ngực bên trong.
“Để làm gì chứ?” vị bá tước nói.
“Tôi cứ nghĩ ngài sẽ cần nó để trình lại cho tu viện trưởng Busoni chứ.”
“Thôi đi, khi nào ngài nhận nốt 40.000 franc còn lại, hãy viết giấy biên nhận thanh toán đầy đủ cho tôi một thể. Giữa những người quân tử với nhau, sự cẩn trọng thái quá ấy thiết tưởng là hoàn toàn thừa thãi.”
“Vâng, đúng thế thật, giữa những người hoàn toàn ngay thẳng với nhau.”
“Xin phép được thưa thêm một lời nữa,” Monte Cristo nói.
“Xin ngài cứ tự nhiên.”
“Vậy tôi thành thực khuyên ngài nên từ bỏ kiểu ăn mặc thế này đi.”
“Thật sao,” vị thiếu tướng nói, cúi xuống ngắm nghía bản thân với vẻ thỏa mãn toàn tập.
“Vâng. Nó có thể phù hợp khi ở Via Reggio; nhưng bộ trang phục đó, dẫu có đẹp đẽ đến đâu đi nữa, thì cũng đã lỗi mốt ở Paris từ lâu lắm rồi.”
“Thật là tiếc quá.”
“Ồ, nếu ngài thực sự quyến luyến với phong cách ăn mặc cũ kỹ của mình; ngài hoàn toàn có thể mặc lại chúng khi rời khỏi Paris cơ mà.”
“Nhưng thế thì tôi phải mặc gì đây?”
“Những gì ngài có sẵn trong hòm đựng đồ của mình ấy.”
“Trong hòm ư? Tôi chỉ có độc một cái vali thôi.”
“Tôi dám cá là ngài chẳng mang theo thứ gì khác ngoài thế. Mang theo lắm thứ lỉnh kỉnh để làm gì cho nặng nợ chứ? Hơn nữa, một cựu chiến binh thì lúc nào cũng thích hành quân với hành lý gọn nhẹ nhất có thể.”
“Đúng là thế thật—chuẩn không cần chỉnh.”
“Nhưng ngài là một người cẩn trọng và lo xa, thế nên ngài đã cho người chuyển trước hành lý của mình đi. Nó đã có mặt tại khách sạn Hôtel des Princes, phố Rue de Richelieu rồi đấy. Ngài sẽ đến đó để trọ lại.”
“Thế thì, trong những chiếc hòm ấy——”
“Tôi cho rằng ngài đã dặn dò người hầu nhét vào đó mọi thứ ngài cần rồi chứ—từ thường phục cho đến quân phục. Trong những dịp trọng đại, ngài phải mặc quân phục vào; trông sẽ oai phong lẫm liệt lắm đấy. Đừng quên mang theo những tấm huân chương của ngài nhé. Người Pháp vẫn hay chế giễu chúng, nhưng ngặt nỗi họ lúc nào cũng đeo chúng trên ngực cho bằng hết.”
“Được rồi, được rồi,” vị thiếu tướng nói, đang chìm đắm trong sự ngất ngây trước những lời chăm sóc tận tình mà vị bá tước dành cho mình.
“Bây giờ,” Monte Cristo nói, “sau khi ngài đã chuẩn bị tâm lý vững vàng trước mọi cơn chấn động tâm lý, hãy sẵn sàng đi, thưa ngài Cavalcanti thân mến, để gặp lại đứa con trai thất lạc lâu ngày của mình nào.”
Nói đoạn, Monte Cristo cúi đầu rồi biến sau tấm thảm thêu, để lại vị thiếu tướng đang ngây ngất không sao diễn tả nổi trước sự đón tiếp nồng hậu mà ông vừa nhận được từ tay vị bá tước.