Giờ đây, khi kho báu này—vật vẫn luôn là đối tượng chiêm nghiệm bấy lâu của vị tu sĩ—đã có thể bảo đảm cho tương lai hạnh phúc của người mà Faria thực sự thương yêu như con ruột, giá trị của nó trong mắt ông như tăng gấp bội. Mỗi ngày, ông đều say sưa bàn về khối lượng của cải ấy, giảng giải cho Dantès hiểu rằng với mười ba hoặc mười bốn triệu franc, vào thời buổi này một người có thể làm được bao nhiêu việc nghĩa cho bạn bè. Và rồi, sắc mặt Dantès lại trở nên ảm đạm, bởi lời thề trả thù mà hắn từng tuyên thệ lại hiện về trong tâm trí, khiến hắn ngẫm nghĩ xem với chừng ấy tiền, một người có thể gây ra bao nhiêu điều tai hại cho kẻ thù.
Vị tu sĩ không rõ về đảo Monte Cristo, nhưng Dantès thì biết. Hắn đã từng dăm lần bảy lượt đi qua hòn đảo ấy—nằm cách Pianosa hai mươi nhăm dặm, tọa lạc giữa Corsica và đảo Elba—và thậm chí từng ghé lại đó một lần. Hòn đảo này từ trước đến nay vẫn hoàn toàn hoang vắng. Nó là một khối đá gần như hình chóp nón, trông giống như thể bị sức mạnh núi lửa đẩy vọt từ đáy đại dương lên tận mặt nước. Dantès bèn phác thảo một bản đồ hòn đảo cho Faria, và Faria đưa ra những lời khuyên về phương kế mà hắn nên dùng để tìm lại kho báu. Song, Dantès không hề tỏ ra nhiệt tình hay tin tưởng như vị lão nhân. Đến lúc này thì không còn gì phải bàn cãi chuyện Faria có bị điên hay không, và cách mà ông đạt được phát hiện từng dấy lên nghi vấn về cơn điên ấy càng làm Edmond thêm phần thán phục; thế nhưng đồng thời, Dantès vẫn không thể tin rằng khối tài sản ấy—giả sử nó từng tồn tại—vẫn còn ở đó; và dẫu hắn không cho rằng kho báu chỉ là chuyện hão huyền, hắn vẫn tin rằng nó không còn nằm lại nơi đó nữa.
Tuy nhiên, như thể định mệnh quyết tâm tước nốt tia hy vọng cuối cùng của hai người tù và bắt họ hiểu rằng bản thân đã bị kết án giam cầm vĩnh viễn, một tai họa mới lại giáng xuống đầu họ: đường hầm phía giáp biển vốn đã hoang phế từ lâu nay lại được tu bổ. Người ta đã sửa sang hoàn toàn và dùng những khối đá lớn bịt kín cái lỗ mà Dantès từng lấp dở dang. Nếu không có sự phòng ngừa ấy—mà như ta còn nhớ, vị tu sĩ đã dặn dò Edmond—thì tai họa còn lớn hơn nhiều, bởi mưu toan vượt ngục của họ sẽ bị phát hiện, và chắc chắn họ sẽ bị chia cắt. Thế là một bức rào cản mới, kiên cố hơn và tàn nhẫn hơn đã được dựng lên để chặn đứng mọi hy vọng hóa thành hiện thực.
– Anh thấy đấy, – chàng thanh niên mang vẻ mặt cam chịu đầy đau đớn nói với Faria, – Thượng đế cho rằng ngài không muốn ban cho tôi chút công trạng nào về điều mà anh gọi là lòng tận tụy của tôi đối với anh. Tôi đã hứa ở lại bên anh mãi mãi, và giờ thì dẫu muốn tôi cũng chẳng thể nuốt lời. Khobáu sẽ chẳng thuộc về tôi hay anh, và chẳng ai trong chúng ta thoát khỏi ngục tù này. Nhưng kho báu thực sự của tôi, người bạn thân mến ạ, không phải là thứ đang chờ đợi tôi dưới những vách đá u ám của Monte Cristo, mà chính là sự hiện diện của anh, là việc chúng ta được sống bên nhau năm sáu tiếng mỗi ngày bất chấp đám lính canh; chính là những tia sáng trí tuệ mà anh đã khơi gợi từ bộ não tôi, là những ngôn ngữ anh đã cấy sâu vào trí nhớ tôi và đâm chồi nảy lộc cùng mọi nhành ngọn ngữ học của chúng. Những bộ môn khoa học khác nhau mà anh đã giảng giải thật thấu đáo bằng tầm hiểu biết sâu sắc cùng sự rạch ròi trong các nguyên lý—đó mới là kho báu của tôi, người bạn quý mến của tôi ạ, và với điều đó, anh đã làm cho tôi trở nên giàu có và hạnh phúc. Hãy tin tôi và hãy yên lòng, điều này đối với tôi còn quý hơn hàng tấn vàng hay những tráp kim cương, dẫu cho chúng có không mơ hồ như những đám mây ta thấy trôi bồng bềnh trên biển vào buổi sáng, thứ mà ta lầm tưởng là đất liền để rồi khi tiến lại gần thì chúng lại bốc hơi và tan biến. Được ở bên tôi càng lâu càng tốt, được lắng nghe những lời lẽ hùng biện của anh—thứ làm tâm trí tôi tươi sáng, tâm hồn tôi kiên cường, và tiếp cho toàn thể con người tôi sức mạnh để làm những điều vĩ đại và khủng khiếp nếu mai này tôi được tự do—đã chiếm trọn cuộc đời tôi, khiến cho nỗi tuyệt vọng mà tôi suýt buông xuôi trước khi biết anh nay không còn chút ảnh hưởng nào đối với tôi nữa; và đây—đây mới chính là gia tài của tôi—không phải là ảo ảnh, mà là hiện thực. Tôi mang ơn anh vì điều tốt đẹp thực sự, vì hạnh phúc hiện tại của tôi; và tất cả các vị vua chúa trên đời này, ngay cả Cesare Borgia đi nữa, cũng chẳng thể tước đoạt điều đó khỏi tôi.
Cứ thế, dẫu không hẳn là hạnh phúc, nhưng những ngày tháng hai kẻ bất hạnh ấy quây quần bên nhau cũng trôi qua nhanh chóng. Faria, người đã giữ im lặng suốt bấy lâu về kho báu, giờ đây liên tục nhắc đến nó. Đúng như ông đã tiên đoán, cánh tay phải và chân trái của ông đã bại liệt, và ông đã từ bỏ mọi hy vọng tự mình tận hưởng khối tài sản đó. Thế nhưng, ông vẫn không ngừng suy tính những phương kế vượt ngục cho người bạn trẻ và mong chờ niềm vui mà cậu sẽ thụ hưởng. Vì sợ bức thư có thể bị thất lạc hoặc bị đánh cắp vào một ngày nào đó, ông bắt Dantès phải học thuộc lòng; và Dantès đã thuộc nằm lòng từ chữ đầu đến chữ cuối. Sau đó, ông tiêu hủy phần thứ hai, yên tâm rằng nếu phần đầu có bị tịch thu thì cũng chẳng ai khám phá được ý nghĩa thực sự của nó. Đôi khi, toàn bộ những giờ đồng hồ cứ thế trôi qua trong lúc Faria truyền đạt cho Dantès những chỉ dẫn—những chỉ dẫn sẽ giúp ích cho cậu khi lấy lại được tự do. Rồi một khi đã tự do, từ ngày, từ giờ, từ khoảnh khắc bước ra ngoài ấy, cậu sẽ chỉ có một ý duy nhất: tìm mọi cách để đến Monte Cristo, đơn độc nấp dưới một cái cớ nào đó không gây nghi ngờ; và một khi đã đặt chân tới đó, sẽ gắng tìm cho ra những hang động kỳ diệu, rồi lùng sục tại điểm hẹn—điểm hẹn mà ta cần nhớ là góc khuất nhất trong căn phòng thứ hai.
Trong khi ấy, thời gian trôi qua, dẫu không quá nhanh thì ít ra cũng tạm ổn. Faria, như chúng ta đã nói, dẫu chưa phục hồi được cử động ở tay và chân, nhưng đã lấy lại toàn bộ sự minh mẫn và từng bước, bên cạnh những bài học đạo đức đã kể trên, truyền dạy cho người bạn trẻ lòng kiên nhẫn cùng phẩm giá cao cả của một người tù biết tạo ra mọi thứ từ hư vô. Họ cứ thế bận rộn luôn tay luôn chân: Faria để không phải thấy mình già đi, còn Dantès là vì sợ phải hồi tưởng về quá khứ hầu như đã phai nhạt, giờ đây chỉ còn trôi nổi trong trí nhớ như một ngọn đèn xa xôi chập chờn trong đêm tối. Cuộc sống của họ cứ thế tiếp diễn như bao người không phải là nạn nhân của bất hạnh, những kẻ có nhịp sống trôi đi một cách máy móc và bình lặng dưới ánh mắt của Đấng Quan Phòng.
Nhưng đằng sau vẻ bình yên bề ngoài ấy, trong thâm tâm chàng thanh niên, và có lẽ cả trong lòng vị lão nhân, vẫn ẩn chứa biết bao khao khát bị kìm nén, biết bao tiếng thở dài bị bóp nghẹt, chỉ chực bùng lên khi Faria ở lại một mình và lúc Edmond quay về xà lim của mình.
Một đêm nọ, Edmond bỗng bừng tỉnh, đinh ninh rằng mình nghe thấy có ai đang gọi tên mình. Cậu mở mắt giữa căn phòng tối như mực. Tên cậu, hay đúng hơn là một giọng nói yếu ớt đang cố phát âm tên cậu, đã vọng đến tai cậu. Cậu ngồi bật dậy trên giường, mồ hôi lạnh túa ra trên trán. Chắc chắn tiếng gọi phát ra từ ngục tối của Faria.
– Trời ơi, – Edmond thì thầm, – Chẳng lẽ lại thế?...
Cậu dịch chuyển giường, nhấc tấm đá lên, lao vụt vào đường hầm và đến tận đầu bên kia; lối đi bí mật đang mở toang. Dưới ánh đèn nghèo nàn và chập chờn mà ta đã nhắc đến, Dantès nhìn thấy vị lão nhân mặt mày tái mét nhưng vẫn đang gượng đứng, bám lấy cột giường. Các đường nét trên khuôn mặt ông đang co giật theo những triệu chứng hãi hùng mà cậu đã từng biết, những thứ từng khiến cậu hoảng hốt khôn nguôi khi chứng kiến lần đầu tiên.
– Ôi, người bạn thân mến của tôi, – Faria nói bằng giọng điệu nhẫn nhục, – Cậu hiểu rồi phải không, tôi đâu cần phải giải thích nữa?...
Edmond thốt lên một tiếng kêu xé lòng, đoạn hoảng loạn lao về phía cửa, miệng gào lên: "Cứu với! Cứu với!"
Faria vừa đủ sức để giữ cậu lại.
– Im lặng, – ông nói, – Không thì cậu tiêu đời. Giờ đây chúng ta chỉ nên nghĩ đến cậu thôi, bạn hiền ạ, và làm sao để cuộc giam cầm của cậu bớt khổ sở hoặc việc vượt ngục của cậu thành hiện thực. Sẽ phải mất bao nhiêu năm mới làm lại được những gì ta đã làm ở đây, và mọi kết quả sẽ tan thành mây khói ngay lập tức nếu đám lính canh biết chúng ta liên lạc với nhau. Hơn nữa, hãy tin tôi đi, hỡi Edmond thân mến, ngục tối mà tôi sắp sửa rời bỏ này sẽ chẳng trống trải lâu đâu; một kẻ bất hạnh khác sẽ sớm thay thế chỗ của tôi, và trong mắt hắn, cậu sẽ tựa như một thiên sứ cứu rỗi. Biết đâu hắn sẽ trẻ trung, cường tráng và bền bỉ như cậu, và sẽ giúp cậu trốn thoát, trong khi tôi từ trước đến nay chỉ là một kẻ vướng víu. Cậu sẽ không còn phải mang theo một nửa thể xác đã chết buộc vào mình như quả tạ kéo lùi mọi cử động nữa. Cuối cùng thì Thượng đế cũng đã rủ lòng thương cậu; ngài ban lại cho cậu nhiều hơn những gì ngài lấy đi, và đã đến lúc tôi phải chết.
Edmond chỉ biết chắp tay van nài: "Ôi, bạn tôi ơi, bạn tôi ơi, xin đừng nói thế!" Rồi bỗng lấy lại toàn bộ sự bình tĩnh—thứ vừa chao đảo trước đòn giáng này—cùng sức lực vừa suyụp trước những lời của lão nhân, cậu nói: "Ôi, tôi đã cứu được anh một lần, tôi sẽ cứu anh lần thứ hai!" Đoạn, nhấc chân giường lên, cậu lôi chiếc lọ ra, trong đó vẫn còn một phần ba thứ chất lỏng màu đỏ.
– Kìa, – cậu kêu lên, – Vẫn còn chút nước thần kì diệu đây. Nhanh lên, nhanh lên! Nói cho tôi biết lần này tôi phải làm gì; có thêm chỉ dẫn nào nữa không? Hãy nói đi, bạn tôi ơi; tôi đang lắng nghe đây.
– Chẳng còn hy vọng gì đâu, – Faria vừa đáp vừa lắc đầu, – nhưng mặc kệ; Thượng đế muốn con người mà ngài đã tạo ra, kẻ mà trong lòng ngài đã cắm rễ sâu xa tình yêu cuộc sống, phải làm tất cả những gì có thể để gìn giữ sự tồn tại ấy, dẫu cho nó có cay đắng bao nhiêu đi nữa thì vẫn luôn vô cùng quý giá.
– Ôi, vâng, vâng! – Dantès thốt lên, – Và tôi nói cho anh biết, tôi vẫn sẽ cứu anh!
– Thế thì hãy thử xem. Cơn lạnh đang ngấm vào tôi. Tôi cảm thấy máu đang dồn lên não. Những cơn rét run khủng khiến răng tôi đánh vào nhau và dường như muốn trật cả khớp xương bắt đầu lan khắp toàn thân; chỉ năm phút nữa là bệnh tình lên tới đỉnh điểm, và trong vòng một phần tư giờ, chẳng còn lại gì ngoài một cái xác không hồn.
– Ôi! – Dantès kêu lên, tim quặn thắt vì đau đớn.
– Hãy làm như trước, chỉ là đừng chờ lâu quá, mọi mạch nguồn sự sống trong tôi giờ đã cạn kiệt, và cái chết, – ông nói tiếp, nhìn xuống cánh tay và chân bị liệt của mình, – chỉ còn phải hoàn thành một nửa công việc. Nếu sau khi bắt tôi nuốt mười hai giọt thay vì mười, mà cậu thấy tôi không hồi tỉnh, thì hãy đổ nốt phần còn lại vào cổ họng tôi. Giờ thì đỡ tôi lên giường đi, tôi không thể tự đứng vững nổi nữa rồi.
Edmond ôm lấy vị lão nhân vào lòng và đặt ông nằm lên giường.
– Và giờ đây, người bạn thân mến, niềm an ủi duy nhất trong cuộc đời khốn khổ của tôi—người mà Thiên đường ban cho tôi hơi muộn màng, nhưng dù sao vẫn ban cho tôi, một món quà vô giá mà tôi vô cùng biết ơn—vào thời khắc phải vĩnh biệt cậu, tôi chúc cậu mọi hạnh phúc và sự thịnh vượng mà cậu hoàn toàn xứng đáng. Con trai ta, ta ban phước cho con!
Chàng thanh niên quỳ sụp xuống, áp đầu vào chiếc giường của vị lão nhân.
– Giờ thì hãy lắng nghe những lời tôi nói trong khoảnh khắc hấp hối này. Kho báu nhà Spada có thật. Thượng đế ban cho tôi đặc ân nhìn thấu thời gian và không gian. Tôi thấy nó nằm sâu trong căn phòng trong cùng. Mọi ngóc ngách sâu thẳm nhất của lòng đất đều hiện rõ trước mắt tôi, và tôi lóa mắt trước ngần ấy sự giàu sang. Nếu cậu trốn thoát được, hãy nhớ rằng vị tu sĩ nghèo mà cả thiên hạ gọi là kẻ điên thực ra không hề điên. Hãy mau đến Monte Cristo—hãy tận dụng khối tài sản ấy—vì cậu thực sự đã chịu đựng đủ lâu rồi.
Một cơn co giật dữ dội ập đến với vị lão nhân. Dantès ngẩng đầu lên và thấy mắt Faria ngầu máu. Dường như có một dòng máu từ lồng ngực đang dâng ngược lên đầu.
– Vĩnh biệt, vĩnh biệt! – vị lão nhân thì thầm, bàn tay co quắp siết chặt tay Edmond, – Vĩnh biệt!
– Ồ, không—không, chưa đâu! – cậu thét lên, – Xin đừng bỏ rơi tôi! Ôi, cứu lấy anh ấy với! Cứu với—cứu với—cứu với!
– Khẽ chứ, khẽ chứ! – người sắp chết thì thầm, – Kẻo họ phát hiện ra chúng ta nếu cậu cứu được tôi!
– Anh nói đúng. Ồ, vâng, vâng; hãy tin là tôi sẽ cứu được anh! Hơn nữa, dẫu anh đau đớn lắm, trông anh có vẻ không quằn quại như lần trước.
– Cậu nhầm rồi! Tôi đỡ đau hơn không phải vì thế, mà vì trong người tôi đã cạn kiệt sức lực để chịu đựng. Ở tuổi của cậu, người ta còn niềm tin vào sự sống; tin tưởng và hy vọng là đặc quyền của tuổi trẻ, nhưng người già nhìn thấy cái chết rõ ràng hơn. Ồ, nó đến rồi—nó đến rồi—hết rồi—mắt tôi mờ đi rồi—các giác quan đều lịm tắt! Tay cậu đâu, Dantès! Vĩnh biệt! Vĩnh biệt!
Và dồn hết sức lực trong hơi thở cuối cùng, ông thốt lên: – Monte Cristo, đừng quên Monte Cristo! – Rồi ông ngã vật xuống giường.
Cơn bạo bệnh thật khủng khiếp, và giờ đây trên chiếc giường hành hạ ấy không còn là một bộ óc minh mẫn nữa, mà thay vào đó là một thể xác cứng đờ với chân tay vặn vẹo, mí mắt sưng húp và đôi môi dính bọt máu.
Dantès cầm lấy ngọn đèn, đặt nó lên một mỏm đá lồi phía trên giường, từ đó ánh sáng bập bùng chiếu những tia kỳ lạ và ảo ảnh lên khuôn mặt biến dạng cùng thân hình bất động, cứng đờ. Với ánh mắt kiên định, cậu đầy tự tin chờ đợi thời điểm để dùng thuốc hồi sức.
Khi tin rằng thời cơ đã điểm, cậu cầm lấy con dao, cạy hàm răng vốn đã bớt kháng cự hơn trước, đếm lần lượt từng giọt một cho đến mười hai giọt rồi chăm chú quan sát; chiếc lọ có lẽ vẫn còn lượng thuốc gấp đôi thế. Cậu chờ đợi mười phút, một phần tư giờ, nửa giờ—chẳng có sự thay đổi nào diễn ra cả. Run rẩy, tóc dựng đứng, trán đẫm mồ hôi, cậu đếm từng giây theo nhịp đập của trái tim mình. Khi ấy, cậu nghĩ đã đến lúc thực hiện lần thử nghiệm cuối cùng, bèn áp chiếc lọ vào đôi môi tím ngắt của Faria, và chẳng cần phải dùng sức cạy cái hàm đang há rộng, cậu dốc toàn bộ số chất lỏng còn lại vào cổ họng ông.

Thứ nước thuốc tạo ra một hiệu ứng chấn động điện; một cơn run rẩy dữ dội lan khắp chân tay vị lão nhân, đôi mắt ông trợn ngược lên trông đến rợn người, ông thốt lên một tiếng thở dài tựa như tiếng thét, rồi cái thân thể đang co giật ấy từ từ trở lại trạng thái bất động như cũ, với đôi mắt vẫn trân trân mở lớn.
Nửa giờ, một tiếng, một tiếng rưỡi trôi qua, và trong suốt khoảng thời gian đầy đọa đày ấy, Edmond cứ rướm người cúi trên thân thể người bạn, áp tay lên ngực ông, cảm nhận cái thể xác ấy lạnh dần đi, và nhịp đập của trái tim mỗi lúc một chìm khuất, yếu ớt hơn cho đến khi dừng hẳn; chuyển động cuối cùng của trái tim đã dứt, gương mặt tái mét, đôi mắt vẫn mở nhưng tròng mắt đã đục ngầu.
Đã sáu giờ sáng, ánh bình minh vừa hé rạng, những tia sáng yếu ớt chiếu vào ngục tối và làm lu mờ thứ ánh sáng vô dụng của ngọn đèn. Những bóng hình kỳ lạ lướt qua khuôn mặt người đã khuất, đôi khi mang lại cho nó ảo giác như đang sống. Chừng nào cuộc giao tranh giữa ban ngày và ban đêm còn kéo dài, Dantès vẫn còn hoài nghi; nhưng ngay khi ánh sáng ban ngày chiếm ưu thế, cậu nhận ra mình chỉ còn lại một mình với cái thây ma. Khi ấy, một nỗi kinh hoàng vô biên và áp đảo bủa vây lấy cậu, khiến cậu không dám chạm vào bàn tay đang rũ xuống bên giường nữa, chẳng dám nhìn vào đôi mắt trân trân vô hồn ấy—dù cậu đã nhiều lần cố khép chúng lại nhưng vô ích, chúng cứ mở trừng trừng ngay khi vừa thả tay. Cậu dập tắt ngọn đèn, cất giấu cẩn thận, rồi bước đi, kéo tấm đá lớn che lại lối vào đường hầm hết mức có thể khi trèo xuống.
Đã đến lúc, bởi gã lính canh sắp tới. Lần này hắn bắt đầu vòng tuần tra từ xà lim của Dantès, rồi rời đi để sang ngục của Faria, mang theo bữa sáng và ít đồ vải. Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy gã biết chuyện gì đã xảy ra. Hắn cứ thế bước đi.
Dantès bấy giờ bị thôi thúc bởi một khao khát khôn nguôi muốn biết chuyện gì đang diễn ra trong xà lim của người bạn bất hạnh. Thế là cậu quay lại qua lối đi ngầm, và đến kịp lúc để nghe thấy những tiếng la hét của gã lính canh ngục đang hò gọi cứu trợ. Những gã lính canh khác kéo đến, rồi tiếng bước chân đều đặn của binh lính vang lên. Cuối cùng là sự xuất hiện của viên ngục trưởng.
Edmond nghe thấy tiếng cọt kẹt của chiếc giường khi họ dịch chuyển cái xác, nghe thấy giọng viên ngục trưởng bảo họ hắt nước lên mặt người chết; và thấy rằng bất chấp việc ấy, người tù vẫn không hồi tỉnh, họ bèn đi gọi bác sĩ. Viên ngục trưởng sau đó bước ra ngoài, và lọt vào đôi tai đang chăm chú lắng nghe của Dantès là những lời xót thương hòa lẫn với những tiếng cười cợt tàn nhẫn.
– Thôi được rồi, – một kẻ lên tiếng, – Lão điên đã đi tìm kho báu rồi. Chúc lão một chuyến đi tốt lành!
– Với đống triệu bạc ấy, chắc lão chẳng đủ tiền mua nổi cái khăn liệm đâu! – kẻ khác tiếp lời.
– Ồ, – một giọng thứ ba thêm vào, – Khăn liệm ở lâu đài Château d’If đâu có đắt!

– Biết đâu, – một kẻ nói trước đó cất lời, – vì lão là người tu hành, họ có thể bỏ chút chi phí lo cho lão thì sao.
– Họ sẽ ban cho lão vinh dự được tống vào bao tải.
Edmond không bỏ sót một từ nào, nhưng hiểu rất ít những gì họ bàn tán. Những giọng nói nhanh chóng im bặt, và cậu có cảm giác như tất cả mọi người đã rời khỏi xà lim. Dù vậy, cậu vẫn không dám bước vào, vì nhỡ đâu họ để lại tên lính canh nào đó canh chừng tử thi thì sao. Thế nên cậu vẫn đứng lặng thấu xương, hầu như chẳng dám thở. Hết một tiếng đồng hồ, cậu nghe thấy một tiếng động mờ ảo rồi lớn dần lên. Đó là viên ngục trưởng quay lại, theo sau là bác sĩ và vài người khác. Có một thoáng im lặng—rõ ràng là vị bác sĩ đang kiểm tra thi thể. Những câu hỏi đáp bắt đầu vang lên với vẻ dửng dưng khiến Dantès tức giận, bởi cậu cảm thấy mọi người trên đời này phải dành cho vị tu sĩ tội nghiệp một tình yêu và sự kính trọng lớn lao giống như cậu vậy.
– Tôi rất tiếc khi nghe ngài báo tin, – viên ngục trưởng đáp lại lời khẳng định của bác sĩ rằng lão nhân đã thực sự qua đời, – rằng ông cụ đã thực sự mất; bởi lão là một tù nhân điềm đạm, vô hại, vui vẻ trong cơn cuồng trí của mình và chẳng cần ai phải canh gác.
– À, – gã lính canh tiếp lời, – chẳng có lý do gì phải canh chừng lão cả; tôi dám cá là lão cứ ở lì đây năm mươi năm nữa mà chẳng thèm tìm cách vượt ngục đâu.
– Dù vậy, – viên ngục trưởng nói, – tôi tin rằng vẫn cần thiết, bất chấp sự chắc chắn của ngài, không phải vì tôi nghi ngờ chuyên môn của ngài, mà là để làm tròn trách nhiệm công vụ, chúng ta phải hoàn toàn chắc chắn rằng người tù đã chết.
Có một thoáng im lặng tuyệt đối, trong khoảng thời gian đó Dantès vẫn lắng nghe và biết rằng vị bác sĩ đang kiểm tra cái xác lần thứ hai.
– Ngài cứ yên tâm đi, – bác sĩ nói; – lão chết thật rồi. Tôi xin đảm bảo điều đó.
– Ngài thừa biết đấy, thưa ngài, – viên ngục trưởng vẫn nài nỉ, – rằng trong những trường hợp thế này, chúng ta không thể chỉ hài lòng với một cuộc kiểm tra đơn giản như vậy. Bất chấp mọi vẻ bề ngoài, xin ngài vui lòng hoàn tất nghĩa vụ bằng cách thực hiện các thủ tục mà pháp luật quy định.
– Hãy nung đỏ mấy thanh sắt lên, – bác sĩ bảo; – nhưng thực sự đó là một sự cẩn thận thừa thãi.
Lệnh nung đỏ sắt ấy khiến Dantès rùng mình. Cậu nghe thấy những tiếng bước chân vội vã, tiếng cửa kẹt, tiếng người qua lại, và chỉ ít phút sau, một gã lính canh bước vào, nói:
– Lò than đã được nhóm lửa đây rồi.
Có một thoáng im lặng, rồi tiếng thịt cháy xèo xèo vang lên, thứ mùi kỳ lạ và tanh tưởi ấy luồn lách xuyên qua cả bức tường nơi Dantès đang lắng nghe trong nỗi kinh hoàng. Mồ hôi vã ra như tắm trên trán chàng thanh niên, và cậu có cảm giác như mình sắp ngất lịm.
– Ngài thấy đấy, thưa ngài, lão chết thật rồi, – vị bác sĩ nói; – vết bỏng ở gót chân này là bằng chứng quyết định. Tên ngốc tội nghiệp ấy đã được chữa khỏi bệnh điên và giải thoát khỏi ngục tù rồi.
– Chẳng phải lão tên là Faria đó sao? – một trong những sĩ quan đi cùng ngục trưởng hỏi.
– Vâng, thưa ngài; và như lão từng nói, đó là một cái tên cổ. Lão cũng rất uyên bác, và hoàn toàn tỉnh táo trong mọi vấn đề không dính dáng đến kho báu; nhưng hễ động đến chuyện đó thì quả thật lão chẳng tài nào bảo ban nổi.

– Đó là một dạng bệnh lý mà chúng ta gọi là chứng cuồng ám ảnh, – bác sĩ nhận xét.
– Ngài chưa từng có điều gì phàn nàn về lão chứ? – viên ngục trưởng hỏi gã cai ngục chịu trách nhiệm quản lý vị tu sĩ.
– Chưa bao giờ, thưa ngài, chưa bao giờ; trái lại, đôi khi lão còn làm tôi rất vui bằng những câu chuyện kể. Thậm chí có một hôm, khi vợ tôi đổ bệnh, lão còn cho tôi một đơn thuốc chữa khỏi hẳn cho cô ấy cơ mà.
– Chà, chà! – bác sĩ thốt lên, – Tôi không ngờ mình lại có đối thủ; nhưng thưa ngục trưởng, tôi hy vọng ngài sẽ vì thế mà dành cho lão mọi sự tôn trọng thích đáng.
– Vâng, vâng, ngài cứ yên tâm, lão sẽ được an táng tươm túng trong chiếc bao tải mới nhất mà chúng ta kiếm được. Thế đã làm ngài hài lòng chưa?
– Thủ tục cuối cùng này bắt buộc phải diễn ra dưới sự chứng kiến của ngài chứ? – một gã lính canh hỏi.
– Chắc chắn rồi. Nhưng mau lên—tôi không thể chôn chân ở đây cả ngày được đâu. – Lại những tiếng bước chân qua lại vang lên, và một thoáng sau, tiếng vải bạt sột soạt lọt vào tai Dantès, chiếc giường kẹt lên và tiếng bước chân nặng nề của một kẻ đang nhấc vật nặng vang lên trên sàn; rồi chiếc giường lại cọt kẹt dưới sức nặng được đặt lên đó.
– Tối nay, – viên ngục trưởng nói.
– Có làm lễ thánh không? – một trong những người phục vụ hỏi.
– Không thể được, – viên ngục trưởng đáp. – Cha tuyên úy của lâu đài đã đến gặp tôi hôm qua xin phép nghỉ một tuần để đi Hyères. Tôi bảo tôi sẽ lo việc cho các tù nhân trong lúc ngài vắng mặt. Giá mà lão tu sĩ tội nghiệp đừng vội vã thế, thì lão đã được nghe kinh cầu hồn rồi.
– Xì, xì; – bác sĩ nói với thái độ bất kính thường thấy ở những kẻ làm nghề y; – lão là người tu hành. Thượng đế sẽ tôn trọng chức sắc của lão chứ không nỡ đem lại cho ác quỷ niềm vui bệnh hoạn là gửi tới một linh mục đâu. – Một tràng cười vang lên hưởng ứng lời trêu chọc tàn nhẫn ấy. Trong khi đó, công việc nhét cái xác vào bao tải vẫn đang tiếp diễn.
– Tối nay, – viên ngục trưởng lên tiếng khi công việc đã hoàn tất.
– Mấy giờ hả ngài? – một gã lính canh hỏi.
– Ừ thì, tầm mười hoặc mười một giờ.
– Chúng ta có cần canh xác không?
– Canh để làm gì? Cứ khóa ngục lại y như lúc lão còn sống—thế là đủ.
Rồi những bước chân rút lui, những giọng nói nhỏ dần rồi mất hút nơi xa; tiếng cửa với những bản lề kẹt kẹt và ổ khóa cạch cạch dứt hẳn, để lại một khoảng lặng còn ảm đạm hơn cả sự cô đơn—sự tĩnh mịch của cái chết bao trùm tất cả, giáng một luồng lạnh giá thấu xương vào tận tâm hồn Dantès.
Lúc ấy, cậu mới thận trọng dùng đầu nhấc tấm đá lên và cảnh giác quan sát khắp căn phòng. Nó trống không, và Dantès bước ra khỏi đường hầm.