Monte Cristo thốt lên một tiếng đầy vui mừng khi thấy hai chàng trai đi cùng nhau. “Ồ, chà!” ông nói, “Tôi hy vọng mọi chuyện đã qua, được giải thích ổn thỏa và dàn xếp xong xuôi.”
“Vâng,” Beauchamp đáp; “những lời đồn nhảm nhí ấy đã lắng xuống, và nếu chúng có tái diễn, tôi sẽ là người đầu tiên phản đối; thế nên chúng ta đừng nhắc đến nữa.”
“Albert sẽ nói cho anh biết,” bá tước đáp lời, “rằng tôi đã đưa cho cậu ấy lời khuyên y hệt. Nhìn kìa,” ông nói thêm. “Tôi đang làm cho xong phần việc tồi tệ nhất của buổi sáng nay.”
“Việc gì thế?” Albert hỏi; “sắp xếp giấy tờ của anh đấy phỏng.”
“Giấy tờ của tôi á, ơn Chúa, không đâu, — giấy tờ của tôi đều ngăn nắp tuyệt vời cả, bởi vì tôi có cái nào đâu; mà là giấy tờ của ngài Cavalcanti.”
“Giấy tờ của ngài Cavalcanti ư?” Beauchamp hỏi.
“Vâng; anh không biết rằng đây là một thanh niên mà vị bá tước đang nâng đỡ hay sao?” Morcerf nói.
“Chúng ta đừng hiểu lầm nhau nhé,” Monte Cristo đáp; “tôi chẳng nâng đỡ ai cả, và chắc chắn là không nâng đỡ ngài Cavalcanti.”
“Và ai,” Albert nói với một nụ cười gượng gạo, “sẽ cưới tiểu thư Danglars thay cho tôi, chuyện này làm tôi đau lòng khôn xiết.”
“Sao cơ? Cavalcanti chuẩn bị kết hôn với tiểu thư Danglars á?” Beauchamp hỏi.
“Chắc chắn rồi! anh ở tận cùng thế giới chui ra đấy à?” Monte Cristo nói; “anh cơ mà, một nhà báo, một người chồng của danh vọng? Cả Paris đang bàn tán rôm rả kìa.”
“Và chính anh, thưa bá tước, đã se duyên cho đám cưới này ư?” Beauchamp hỏi.
“Tôi á? Im đi, cái tên chuyên buôn chuyện dưa lê này, đừng có phao cái tin đồn đó. Tôi se duyên á? Không, anh chẳng hiểu gì về tôi cả; tôi đã làm mọi cách có thể để phản đối nó.”
“À, tôi hiểu rồi,” Beauchamp nói, “là vì nghĩ cho người bạn Albert của chúng ta.”
“Vì tôi ư?” chàng thanh niên lên tiếng; “ồ, không đời nào, bá tước sẽ làm chứng cho tôi rằng, trái lại, tôi luôn nài nỉ ngài hủy bỏ hôn ước của mình, và thật may là nó đã chấm dứt. Bá tước cứ ra vẻ như tôi chẳng phải mang ơn ngài ấy gì sất — thôi được — tôi sẽ lập một bàn thờ dâng lên Thần Vô Danh (Deo ignoto).”
“Nghe này,” Monte Cristo nói; “tôi chẳng nhúng tay mấy vào chuyện này đâu, vì tôi vốn bất hòa với cả bố vợ lẫn chú rể tương lai; chỉ có tiểu thư Eugénie là có vẻ chẳng mấy mặn mà gì với chuyện chồng con, và cô ấy, khi thấy tôi chẳng hề có ý định thuyết phục mình từ bỏ sự tự do quý giá, nên vẫn giữ lòng quý mến đối với tôi.”
“Và anh bảo đám cưới này sắp diễn ra rồi sao?”
“Ồ, vâng, bất chấp mọi điều tôi đã can ngăn. Tôi không rõ về chàng thanh niên ấy; người ta đồn rằng cậu ta thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc và giàu có, nhưng tôi chưa bao giờ tin vào những lời khẳng định mơ hồ. Tôi đã cảnh báo ngài Danglars đến phát chán lên được, nhưng ông ta đã bị gã người Lucca đó làm cho mê muội. Tôi thậm chí còn thông báo cho ông ta một chi tiết mà tôi cho là rất nghiêm trọng; chàng thanh niên ấy hoặc là bị chính vú nuôi của mình bỏ bùa mê, hoặc bị bọn du mục bắt cóc, hay bị gia sư làm thất lạc, tôi hầu như chẳng rõ nữa. Nhưng tôi biết chắc chắn rằng cha cậu ta đã mất dấu cậu ta hơn mười năm trời; trong mười năm đó cậu ta làm những gì, chỉ có Chúa mới biết. Chà, tất cả những điều đó đều vô ích. Họ đã ủy quyền cho tôi viết thư cho ngài thiếu tá để đòi giấy tờ, và chúng đây rồi. Tôi gửi chúng đi, nhưng tôi thì giống như Philath - rửa tay thoái thác.”
“Thế còn tiểu thư d’Armilly nói gì với anh vì tội cướp mất cô học cưng của cô ấy?”
“Ồ, ừm, tôi không rõ lắm; nhưng tôi được biết cô ấy sắp sang Ý. Phu nhân Danglars đã xin tôi mấy bức thư giới thiệu gửi cho các bầu sô; tôi liền viết vài dòng cho giám đốc Nhà hát Valle, người đang mang ơn tôi vài chút. Nhưng sao thế, Albert? Trông cậu có vẻ ủ rũ thế; hay là, rốt cuộc, cậu lại vô tình đem lòng yêu tiểu thư Eugénie mất rồi?”
“Tôi không biết điều đó,” Albert vừa nói vừa cười buồn bã. Beauchamp quay đi ngắm mấy bức tranh.
“Nhưng,” Monte Cristo tiếp lời, “tâm trạng hôm nay của cậu không được bình thường cho lắm nhỉ?”
“Tôi bị đau đầu khủng khiếp,” Albert đáp.
“Ồ, thưa ngài tử tước thân mến,” Monte Cristo nói, “tôi có một cách chữa trị bách bệnh muốn gợi ý cho cậu đây.”
“Cách gì vậy?” chàng thanh niên hỏi.
“Thay đổi không khí.”
“Thật chứ?” Albert nói.
“Đúng vậy; và vì lúc này tôi đang vô cùng bực bội, nên tôi sẽ đi khỏi nhà đây. Chúng ta cùng đi nhé?”
“Anh mà cũng bực bội sao, thưa bá tước?” Beauchamp lên tiếng; “và vì chuyện gì vậy?”
“À, anh thì thấy nó nhẹ tựa lông hồng; chứ tôi thì rất muốn thấy anh khi có một bản cáo trạng được soạn sẵn ngay trong nhà mình đấy.”
“Bản cáo trạng nào cơ?”
“Cái bản mà ngài de Villefort đang chuẩn bị để chống lại kẻ sát nhân đáng yêu của tôi — hình như là một tên cướp trốn gót giày của tử hình.”
“Đúng rồi,” Beauchamp nói; “tôi đã đọc thấy trên báo. Cái tên Caderousse này là ai thế?”
“Hình như là một kẻ gốc xứ Provence. Ngài de Villefort nghe tiếng gã ở Marseille, và ngài Danglars cũng nhớ mang mang từng thấy gã. Do đó, vị biện lý đang rất tích cực trong vụ án này, và viên cảnh sát trưởng thì vô cùng quan tâm; và nhờ sự quan tâm đó, điều mà tôi vô cùng biết ơn, họ cứ tống hết mọi tên trộm cắp và sát nhân ở Paris cùng vùng phụ cận đến chỗ tôi, với cái cớ rằng chúng là những kẻ sát hại Caderousse, thế nên nếu tình trạng này cứ tiếp tục trong ba tháng nữa, thì mọi tên cướp bích lẫn kẻ sát nhân ở nước Pháp sẽ nắm rõ sơ đồ nhà tôi trong lòng bàn tay. Tôi quyết định sẽ rời bỏ bọn chúng và đến một nơi khỉ ho cò gáy nào đó trên Trái Đất, và tôi sẽ rất vui mừng nếu tử tước đây chịu đi cùng tôi.”
“Sẵn lòng thôi.”
“Vậy là quyết định thế nhé?”
“Vâng, nhưng đi đâu cơ?”
“Tôi đã nói với cậu rồi đấy, nơi nào có bầu không khí trong lành, nơi mọi âm thanh đều xoa dịu tâm hồn, nơi mà dù bản tính có kiêu hãnh đến đâu, người ta cũng chắc chắn sẽ trở nên khiêm nhường. Tôi yêu cái sự khiêm nhường ấy, tôi, kẻ vốn là bá chủ vũ trụ, giống như vị hoàng đế Augustus vậy.”
“Nhưng thực ra anh định đi đâu?”
“Ra khơi, thưa tử tước; cậu biết tôi vốn là một thủy thủ mà. Từ thủa lọt lòng, tôi đã được ru hời trong vòng tay của Lão Đại Dương và trên bộ ngực của nàng Amphitrite xinh đẹp; tôi từng đùa giỡn với tấm áo choàng xanh thẫm của vị thần biển và chiếc áo màu ngọc lam của nữ thần; tôi yêu biển cả như một người tình, và sẽ héo mòn nếu không thường xuyên ngắm nhìn nàng.”
“Chúng ta đi thôi, thưa bá tước.”
“Ra khơi ư?”
“Vâng.”
“Cậu nhận lời đề nghị của tôi rồi chứ?”
“Đúng vậy.”
“Được rồi, thưa tử tước, vào tối nay ở sân nhà tôi sẽ có một cỗ xe britzka du lịch tuyệt hảo, được kéo bởi bốn con ngựa trạm, trong đó người ta có thể nghỉ ngơi thoải mái như đang nằm trên giường. Ngài Beauchamp, xe đủ chỗ cho bốn người rất thoải mái, anh có muốn đi cùng chúng tôi không?”
“Cảm ơn anh, tôi vừa mới đi biển về xong.”
“Sao cơ? Anh vừa đi biển về á?”
“Vâng; tôi vừa mới có một chuyến du ngoạn nho nhỏ đến các đảo Borromean.”
“Thì sao nào? Đi cùng chúng tôi đi,” Albert giục giã.
“Không, Morcerf thân mến ạ; cậu biết là tôi chỉ từ chối khi nào sự việc bất khả kháng mà thôi. Hơn nữa, điều quan trọng là,” anh ta nói thêm bằng giọng nhỏ hơn, “tôi phải ở lại Paris lúc này để túc trực theo dõi tờ báo.”
“À, anh đúng là một người bạn tuyệt vời và chí cốt,” Albert nói; “vâng, anh nói phải đấy; hãy theo dõi, theo dõi đi, Beauchamp, và cố gắng tìm cho ra kẻ đã tung ra bài báo vạch trần ấy.”
Albert và Beauchamp từ biệt nhau, cái bắt tay cuối cùng của họ thay cho những lời mà miệng lưỡi không thể thốt lên trước mặt một người lạ.
“Beauchamp là một chàng trai đáng kính,” Monte Cristo nói khi nhà báo đã rời đi; “phải không Albert?”
“Vâng, và là một người bạn chân thành; tôi yêu quý cậu ấy hết lòng. Nhưng giờ thì chúng ta đã ở một mình rồi, — mặc dù với tôi thế nào cũng được, — chúng ta sẽ đi đâu đây?”
“Đến xứ Normandy, nếu cậu thích.”
“Tuyệt quá; chúng ta sẽ hoàn toàn được yên tĩnh chứ? Sẽ không có xã giao, không có hàng xóm láng giềng chứ?”
“Bạn đồng hành của chúng ta sẽ là những con ngựa cưỡi, chó săn để đi săn, và một chiếc thuyền đánh cá.”
“Đúng ý tôi tăm tắp rồi; tôi sẽ về báo cho mẹ tôi biết dự định của mình, rồi sẽ quay lại với anh ngay.”
“Nhưng liệu cậu có được phép đi Normandy không?”
“Tôi muốn đi đâu mà chẳng được.”
“Vâng, tôi biết cậu có thể đi một mình, vì tôi từng gặp cậu ở Ý — nhưng còn việc đi cùng một kẻ bí ẩn như Monte Cristo thì sao?”
“Anh quên mất rồi, thưa bá tước, tôi đã từng nói với anh rất nhiều lần về sự quan tâm sâu sắc mà mẹ tôi dành cho anh rồi cơ mà.”
“‘Phụ nữ vốn đổi thay,’ vua Francis I từng nói; ‘phụ nữ tựa ngọn sóng ngoài khơi,’ Shakespeare đã bảo thế; cả vị vua vĩ đại lẫn nhà thơ lỗi lạc ấy lẽ ra đều phải hiểu rõ bản chất của phụ nữ lắm chứ.”
“Phụ nữ nói chung thì có, nhưng mẹ tôi không phải chỉ là một người phụ nữ, mà là một người mẹ.”
“Vì tôi chỉ là một kẻ tha hương bé nhỏ hèn mọn, cậu phải lượng thứ cho tôi nếu tôi không thể thấu hiểu hết những nét tinh tế ẩn ý trong ngôn từ của các cậu.”
“Ý tôi muốn nói là, mẹ tôi không dễ dàng trao gửi niềm tin, nhưng một khi đã trao thì người không bao giờ thay đổi.”
“À, vâng, quả thực là vậy,” Monte Cristo thở dài nói; “và cậu nghĩ bà ấy có mảy may quan tâm đến tôi không?”
“Tôi xin nhắc lại, anh quả thực phải là một con người vô cùng kỳ lạ và xuất chúng, bởi vì mẹ tôi bị cuốn hút sâu sắc bởi những điều anh tạo ra, đến nỗi khi tôi ở bên người, mẹ chẳng hề nhắc đến ai khác ngoài anh.”
“Và bà ấy có cố tình làm cho cậu ghét tôi không?”
“Trái lại là đằng khác, người thường hay bảo: ‘Morcerf này, mẹ tin là vị bá tước có một bản tính cao quý; con hãy cố gắng giành lấy sự quý mến của ngài ấy.’”
“Thật vậy sao?” Monte Cristo thở dài nói.
“Thế nên anh thấy đấy,” Albert nói, “thay vì ngăn cản, mẹ sẽ còn khích lệ tôi nữa là khác.”
“Vậy xin cáo từ, hẹn gặp lại vào lúc năm giờ; hãy đúng giờ nhé, và chúng ta sẽ đến nơi vào lúc mười hai hoặc một giờ.”
“Đến Tréport ư?”
“Vâng; hoặc vùng lân cận.”
“Nhưng chúng ta có thể vượt qua bốn mươi tám lèo đất chỉ trong vòng tám tiếng không?”
“Dễ như trở bàn tay,” Monte Cristo đáp.
“Anh đúng là một kỳ nhân; chẳng mấy chốc nữa anh không chỉ vượt qua cả xe lửa — điều mà ở Pháp chẳng lấy gì làm khó khăn — mà thậm chí còn vượt qua cả điện tín nữa cho mà xem.”
“Nhưng thưa tử tước, vì chúng ta không thể hoàn thành chuyến đi trong ít hơn bảy hoặc tám tiếng, xin đừng bắt tôi phải đợi lâu nhé.”
“Đừng lo, tôi có mấy thứ phải chuẩn bị đâu.”
Monte Cristo mỉm cười gật đầu chào Albert, rồi đứng lặng đi một lúc trong nỗi trầm tư sâu sắc. Nhưng đoạn ông đưa tay gạt ngang trán như để xua đi những mộng tưởng, rồi giông chuông hai hồi và Bertuccio bước vào.
“Bertuccio,” ông bảo, “tối nay ta định đi xứ Normandy, thay vì để đến mai hoặc ngày mốt. Ngươi sẽ có đủ thời gian trước năm giờ; hãy phái một người đi báo trước cho đám nài ngựa ở trạm dừng chân đầu tiên. Ngài de Morcerf sẽ đi cùng ta.”
Bertuccio tuân lệnh và cử một người đưa thư đến Pontoise để thông báo rằng cỗ xe du lịch sẽ đến vào lúc sáu giờ. Từ Pontoise, một trạm hỏa tốc khác lại được cử tiếp đến chặng kế tiếp, và chỉ trong sáu giờ, tất cả số ngựa túc trực dọc đường đều đã sẵn sàng.
Trước khi khởi hành, vị bá tước ghé qua phòng của Haydée, thông báo ý định của mình và giao phó mọi việc cho nàng chăm lo.
Albert đã đến đúng giờ. Chuyến hành trình nhanh chóng trở nên vô cùng thú vị bởi tốc độ của nó, một điều mà Morcerf trước đó chưa từng mường tượng nổi.
“Thật tình mà nói,” Monte Cristo thốt lên, “với những con ngựa trạm chạy với tốc độ hai lèo đất một giờ của các cậu, kèm theo cái đạo luật ngớ ngẩn rằng một hành khách không được phép vượt qua người khác nếu không có sự cho phép, khiến cho một kẻ ốm yếu hoặc cáu kỉnh có thể trì hoãn cả những ai khỏe mạnh và lanh lẹ, thì việc di chuyển là điều bất khả thi; tôi đã trốn tránh cái sự bực bội đó bằng cách tự trang bị phu trạm và ngựa riêng cho mình, phải không Ali?”
Vị bá tước thò đầu qua cửa sổ và huýt sáo một tiếng, và lũ ngựa dường như đang bay đi. Cỗ xe lăn bánh với tiếng gầm rú đinh tai nhức óc trên mặt đường lát đá, và ai nấy đều ngoái nhìn tia chớp lóa mắt ấy. Ali mỉm cười, lặp lại tiếng huýt gió, siết chặt dây cương bằng đôi tay vững chãi và quất roi thúc giục bầy ngựa với những chiếc bờm đẹp đẽ tung bay trong gió. Đứa con của sa mạc ấy đang ở đúng vùng đất vẫy vùng của mình, và với khuôn mặt đen đui cùng đôi mắt sáng rực giữa đám mây bụi mịt mù do chính hắn tạo ra, hắn trông chẳng khác nào vị thần của cơn bão cát simoom và chúa tể của những trận cuồng phong.
“Mãi cho đến bây giờ tôi mới biết được cảm giác thích thú của tốc độ,” Morcerf nói, và đám mây u ám cuối cùng đã tan biến khỏi trán chàng; “nhưng quỷ tha ma bắt đâu ra mà anh kiếm được những con ngựa thế này vậy? Chúng được đặt làm riêng đấy phỏng?”
“Chính xác là vậy,” vị bá tước đáp; “sáu năm trước, tôi mua được một con ngựa ở Hungary nổi tiếng vì tốc độ phi thường. Ba mươi hai con mà chúng ta sẽ dùng tối nay chính là hậu duệ của nó; tất cả chúng đều mang một màu đen tuyền, ngoại trừ một chòm sao hình ngôi sao trên trán.”
“Thật quá đỗi tuyệt vời; nhưng ngài làm gì với ngần ấy ngựa thế, thưa bá tước?”
“Thì cậu thấy đấy, tôi dùng chúng để đi du lịch.”
“Nhưng đâu phải lúc nào ngài cũng đi du lịch.”
“Khi nào không còn cần đến chúng nữa, Bertuccio sẽ đem bán, và lão kỳ vọng sẽ thu về ba mươi hoặc bốn mươi nghìn franc từ thương vụ đó.”
“Nhưng chẳng có vị quốc vương nào ở châu Âu giàu có đến mức mua nổi chúng đâu.”
“Vậy thì lão sẽ bán chúng cho một vị tể tướng phương Đông nào đó, kẻ sẽ dốc sạch quốc khố để mua cho bằng được, rồi lại vơ vét đầy lại bằng cách áp hình phạt gậy gộc lên thần dân của mình.”
“Thưa bá tước, tôi có thể góp ý với anh một điều được không?”
“Cứ tự nhiên.”
“Đó là, sau anh ra, Bertuccio hẳn phải là quý ông giàu có nhất châu Âu.”
“Cậu nhầm rồi, thưa tử tước; tôi tin là hắn chẳng có lấy một xu dính túi trong người ấy chứ.”
“Thế thì hắn phải là một kỳ quan rồi. Bá tước thân mến của tôi ơi, nếu anh còn kể cho tôi nghe nhiều điều kỳ diệu nữa, tôi xin báo trước là tôi sẽ không thèm tin nữa đâu.”
“Tôi chẳng bao giờ dung túng cho bất cứ điều kỳ diệu nào cả, ngài Albert ạ. Nói cho tôi nghe xem, tại sao một tên quản gia lại đi ăn trộm của chủ nhà?”
“Bởi vì, tôi đoán thế, đó là bản tính của hắn, vì hắn thích ăn trộm.”
“Cậu lầm rồi; đó là bởi vì hắn có vợ con, và những tham vọng cho bản thân cũng như cho gia đình hắn. Hơn nữa, vì hắn không chắc chắn sẽ giữ được chiếc ghế của mình mãi mãi, nên hắn muốn lo cho tương lai. Còn ngài Bertuccio thì chỉ có một mình trên đời; lão sử dụng tài sản của tôi mà chẳng cần phải báo cáo xem lão dùng chúng vào việc gì; và lão chắc chắn sẽ chẳng bao giờ rời bỏ chỗ làm của tôi cả.”
“Tại sao chứ?”
“Bởi vì tôi sẽ chẳng bao giờ tìm được một người phục vụ nào tốt hơn hắn.”
“Những phỏng đoán thường hay đánh lừa người ta.”
“Nhưng tôi chỉ làm việc với những điều chắc chắn; hắn là kẻ hầu tốt nhất mà người ta có thể nắm trong tay quyền sinh quyền sát.”
“Anh sở hữu quyền đó đối với Bertuccio ư?”
“Đúng vậy.”
Có những từ ngữ khép lại một cuộc trò chuyện bằng một cánh cửa sắt; tiếng “đúng vậy” của vị bá tước chính là như thế.
Toàn bộ chuyến hành trình diễn ra với tốc độ nhanh không kém; ba mươi hai con ngựa, được phân bổ ở bảy trạm dừng, đã đưa họ đến đích chỉ trong vòng tám tiếng đồng hồ. Vào lúc nửa đêm, họ đến trước cổng của một công viên tuyệt đẹp. Người gác cổng đã túc trực sẵn; hắn đã được nài ngựa ở trạm cuối thông báo về sự xuất hiện của vị bá tước. Vào lúc hai giờ rưỡi sáng, Morcerf được dẫn về phòng riêng, nơi đã chuẩn bị sẵn một bồn tắm và bữa tối. Người đầy tẩu từng ngồi ở phía sau xe lui tới hầu hạ chàng; còn Baptistin, kẻ ngồi đằng trước, thì túc trực hầu hạ bá tước.
Albert tắm rửa, ăn tối rồi đi ngủ. Suốt cả đêm, chàng được ru ngủ bởi tiếng sóng vỡ rì rào đầy u sầu. Khi tỉnh dậy, chàng bước ra cửa sổ mở thông ra một khoảng sân hiên, phía trước là biển cả, còn phía sau là một công viên xinh xắn được bao bọc bởi một khu rừng nhỏ.
Trong một con lạch nằm ẩn mình một chiếc tàu xà-lúp nhỏ, với phần sống thuyền hẹp và những chiếc cột buồm cao, trên lá cờ giương cao quốc huy của dòng họ Monte Cristo: một ngọn núi bằng vàng trên nền biển xanh thẫm, với một cây thánh giá màu đỏ ở phía trên – điều này có thể là sự ẩn dụ cho cái tên gợi nhớ đến đỉnh đồi Calvary, ngọn núi nhờ cuộc khổ nạn của Chúa Cứu Thế mà trở nên trân quý hơn cả vàng, và cây thánh giá nhục nhã mà máu Người đã ban ơn thánh hóa; hoặc đó cũng có thể là một ký ức cá nhân nào đó về những đau thương và sự tái sinh bị chôn vùi trong bóng đêm quá khứ của nhân vật bí ẩn này.
Xung quanh chiếc thuyền buồm là vô số những chiếc thuyền đánh cá nhỏ của ngư dân trong ngôi làng lân cận, trông giống như những thần dân khiêm nhường đang chờ đợi mệnh lệnh từ vị nữ vương của họ. Nơi ấy, cũng như ở bất kỳ chốn nào mà Monte Cristo đặt chân đến, dù chỉ trong hai ngày, sự xa hoa luôn ngập tràn và cuộc sống diễn ra vô cùng thảnh thơi.
Albert tìm thấy trong phòng chờ của mình hai khẩu súng săn cùng đầy đủ dụng cụ đi săn; một căn phòng cao ở tầng trệt chứa đầy những cỗ máy khéo léo mà người Anh — những người nổi tiếng trong bộ môn câu cá vì họ vốn kiên nhẫn và chậm chạp — đã phát minh ra để phục vụ việc câu kéo. Ngày hôm trôi qua với những hoạt động thể thao mà Monte Cristo rất thành thạo. Họ bắn được một tá gà lôi trong công viên, ngần ấy con cá hồi chấm trong dòng suối, ăn tối tại một ngôi nhà tranh mùa hè nhìn ra biển, và thưởng thức trà chiều trong thư viện.
Vào buổi chiều tối của ngày thứ ba, Albert, kiệt sức hoàn toàn sau những vận động vốn làm cho Monte Cristo thêm phần cường tráng, đang ngủ gật trong một chiếc ghế bành gần cửa sổ, trong khi vị bá tước đang cùng kiến trúc sư thảo bản thiết kế cho một nhà kính trong khuôn viên nhà mình, thì tiếng cọp cước của một con ngựa phi nước đại trên đường cái quan khiến Albert giật mình ngẩng đầu lên. Chàng vô cùng ngạc nhiên và khó chịu khi nhìn thấy chính người hầu phòng của mình, kẻ mà chàng đã không mang theo để tránh làm phiền Monte Cristo.

“Florentin ở đây ư!” cậu ta kêu lên, vùng đứng dậy; “mẹ tôi ốm à?” Và cậu vội vã chạy ra cửa. Monte Cristo dõi theo và thấy cậu tiến lại gần người đầy tớ, người đang rút từ trong túi ra một bói nhỏ được niêm phong, bên trong đựng một tờ báo và một bức thư.
“Cái này của ai vậy?” cậu hỏi dồn dập.
“Thưa ngài Beauchamp ạ,” Florentin đáp.
“Có phải cậu ấy sai anh đến không?”
“Vâng, thưa ngài; ngài ấy gọi tôi đến nhà, đưa tiền cho tôi đi đường, kiếm một con ngựa và bắt tôi hứa là không được dừng chân cho đến khi tìm gặp được ngài, tôi đã phi nước đại trong suốt mười lăm tiếng đồng hồ đấy ạ.”
Albert run rẩy bóc bức thư, thét lên một tiếng khi đọc dòng đầu tiên và chộp lấy tờ báo. Tầm nhìn của cậu mờ đi, đôi chân khuỵu xuống và cậu suýt ngã nếu Florentin không đỡ lấy.
“Tội nghiệp chàng trai trẻ,” Monte Cristo lẩm bẩm bằng giọng trầm buồn; “vậy là quả thật tội lỗi của người cha sẽ đổ lên đầu con cái đến đời thứ ba và thứ tư.”
Trong khi đó, Albert đã tỉnh lại, và vừa đọc tiếp, cậu vừa ngả ra đằng sau, thốt lên:
“Florentin, con ngựa của anh còn đủ sức quay về ngay lập tức không?”
“Đó là một con ngựa trạm tội nghiệp đang bị què thưa ngài.”
“Tình hình trong nhà thế nào khi anh rời đi?”
“Mọi thứ vẫn bình yên, nhưng khi tôi từ nhà ngài Beauchamp trở về, tôi thấy phu nhân đang khóc; người đã cho gọi tôi đến để hỏi xem khi nào ngài về. Tôi bèn kể lại mệnh lệnh của ngài Beauchamp cho phu nhân nghe; ban đầu người giơ tay ngăn tôi lại, nhưng sau một phút ngẫm nghĩ, ‘Được rồi, hãy đi đi, Florentin,’ người nói, ‘và cầu trời cho nó mau chóng trở về.’”
“Vâng, thưa mẹ,” Albert lẩm bầm, “con sẽ quay về, và khốn cho kẻ đốn mạt ấy! Nhưng trước hết con phải có mặt ở đó đã.”
Cậu quay trở lại căn phòng nơi cậu đã để lại Monte Cristo. Chỉ năm phút thôi cũng đủ làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của cậu. Giọng nói của cậu trở nên thô ráp và khàn đặc; khuôn mặt hằn lên những nếp nhăn; đôi mắt rực cháy dưới hàng mi gân xanh và cậu lảo đảo như một kẻ say rượu.
“Thưa bá tước,” cậu nói, “tôi vô cùng cảm ơn lòng hiếu khách của anh, tôi rất muốn được tận hưởng nó lâu hơn nữa; nhưng tôi phải quay về Paris ngay.”
“Đã có chuyện gì xảy ra vậy?”
“Một tai họa lớn, quan trọng với tôi hơn cả sinh mạng. Xin đừng gặng hỏi tôi, làm ơn đấy, hãy cho tôi mượn một con ngựa.”
“Chuồng ngựa của tôi luôn sẵn sàng phục vụ tử tước; nhưng cậu sẽ tự sát nếu cứ cưỡi ngựa kiểu đó đấy. Hãy đi xe ngựa trạm hoặc xe mui kín đi.”
“Không, nó sẽ làm tôi chậm trễ mất, và tôi cần cái sự mệt mỏi mà anh vừa cảnh báo đấy; nó sẽ làm tôi thấy dễ chịu hơn.”
Albert lảo đảo như thể vừa trúng đạn và ngã quỵ xuống chiếc ghế bành gần cửa khẩu. Monte Cristo không nhìn thấy biểu hiện kiệt sức thứ hai này của thể xác; ông đang đứng bên cửa sổ, cất giọng gọi:
“Ali, chuẩn bị ngựa cho ngài de Morcerf — mau lên! Cậu ấy đang vội!”

Những lời đó đã vực dậy tinh thần của Albert; cậu lao vụt khỏi phòng, theo sau là vị bá tước.
“Cảm ơn anh!” cậu thét lên, phóng mình lên yên ngựa.
“Hãy quay về càng sớm càng tốt nhé, Florentin. Tôi có cần dùng mật khẩu gì để lấy ngựa không?”
“Chỉ cần xuống ngựa; sẽ có con khác được yên cương sẵn sàng ngay lập tức.”
Albert chần chừ giây lát. “Anh có thể thấy sự ra đi của tôi thật kỳ cục và ngớ ngẩn,” chàng trai trẻ nói; “anh không hiểu được một đoạn tin ngắn trên báo có thể làm một người căm phẫn đến mức nào đâu. Hãy đọc cái này,” cậu nói, “khi tôi đã đi rồi, để anh không phải chứng kiến cơn thịnh nộ của tôi.”
Trong lúc vị bá tước cầm lấy tờ báo, cậu bèn quất mạnh roi thúc ngựa, con vật giật mình trước sự kích thích bất thường ấy rồi vọt đi với tốc độ của một mũi tên bắn ra từ cung. Vị bá tước đứng dõi theo cậu với một niềm thương cảm, và khi bóng cậu đã khuất hẳn, ông bắt đầu đọc những dòng sau:
“Vị sĩ quan người Pháp phục vụ dưới trướng Ali Pasha ở Yanina được nhắc đến cách đây ba tuần trên tờ límpartial, kẻ không chỉ đầu hàng lâu đài Yanina mà còn bán rẻ ân nhân của mình cho người Thổ, vào thời điểm đó thực sự mang tên Fernand, như tờ báo đồng nghiệp đáng kính của chúng ta đã nêu; nhưng kể từ đó, hắn đã gắn thêm vào tên thánh của mình một tước hiệu quý tộc và một họ mới. Giờ đây hắn tự gọi mình là Bá tước de Morcerf, và đứng trong hàng ngũ các bá tước.”