Bá tước Monte Cristo

Lượt đọc: 324 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 39
Những vị khách

❊ ❊ ❊

Tại ngôi nhà ở phố Rue du Helder, nơi Albert đã mời Bá tước xứ Monte Cristo, mọi thứ đang được chuẩn bị từ sáng ngày 21 tháng 5 để long trọng đón chào dịp này. Albert de Morcerf ở trong một tòa nhà phụ nằm ở góc một khoảng sân rộng, ngay đối diện với một dãy nhà khác là khu nhà ở của gia nhân. Chỉ có hai cửa sổ của tòa nhà phụ hướng ra mặt phố; ba cửa sổ khác nhìn vào sân, và hai cửa sổ phía sau hướng ra khu vườn.

Nằm giữa sân và khu vườn là dinh cơ rộng lớn và sang trọng của Bá tước và Nữ bá tước xứ Morcerf, được xây dựng theo lối kiến trúc đế chế nặng nề.

Một bức tường cao bao quanh toàn bộ điền trang, trên đỉnh có gắn ngắt quãng những chiếc bình cắm hoa, và chính giữa trổ một cổng sắt mạ vàng lớn dành cho xe ngựa ra vào. Một cánh cửa nhỏ, nằm sát phòng gácmăngcu (concierge), là lối ra vào cho gia nhân và chủ nhân khi đi bộ.

Dễ dàng nhận ra rằng sự chăm chút tinh tế của một người mẹ – người không nỡ rời xa con trai nhưng vẫn hiểu rõ một thanh niên ở tuổi vị tước cần được tự do hoàn toàn – đã lựa chọn chốn này làm nơi ở cho Albert. Tuy nhiên, nơi đây cũng không thiếu những dấu vết của cái gọi là chủ nghĩa vị kỷ thông minh nơi một chàng trai trẻ vốn say mê lối sống thảnh thơi, vô tư của đứa con một, kẻ đang sống như thể trong một chiếc lồng son. Nhờ hai ô cửa sổ hướng ra phố, Albert có thể quan sát mọi việc diễn ra bên ngoài; việc ngắm nhìn thế giới qua lại là điều cần thiết đối với những thanh niên luôn muốn thấy thiên hạ đi ngang qua tầm mắt mình, dù tầm mắt ấy chỉ là một con đường công cộng. Hơn nữa, nếu có điều gì lọt vào mắt xanh đòi hỏi phải săm soi kỹ hơn, Albert de Morcerf hoàn toàn có thể tiếp tục cuộc khảo sát của mình qua một cánh cửa nhỏ tương tự như cửa cạnh phòng gácmăngcu, và nó rất đáng được mô tả cụ thể.

Đó là một lối đi nhỏ dường như chưa từng được mở kể từ khi ngôi nhà được xây dựng, bởi nó phủ đầy bụi bẩn và rác rưởi; nhưng những bản lề và ổ khóa được tra dầu cẩn thận lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác. Cánh cửa này là sự chế giễu đối với người gác cổng, kẻ nằm ngoài tầm cảnh giác và quyền kiểm soát của mình; và giống như chiếc cổng thần kỳ trong Nghìn lẻ một đêm, chỉ cần tiếng "Vừng ơi" của Ali Baba là nó có thể tự động quay ngoắt ra sau nhờ một từ khóa huyền thuật hoặc một cái gõ nhịp nhàng từ bên ngoài bởi những giọng nói ngọt ngào nhất hay những ngón tay ngọc ngà nhất trần đời.

Cuối một hành lang dài thông với cánh cửa ấy, vốn đóng vai trò là phòng đợi, là phòng ăn của Albert bên tay phải nhìn ra sân, và phòng khách bên tay trái nhìn ra khu vườn. Các loài cây bụi và dây leo phủ kín những ô cửa sổ, che khuất khỏi sân và vườn hai căn phòng này – những gian phòng duy nhất ở tầng trệt mà ánh mắt tò mò của người đời có thể dòm ngó vào.

Trên lầu là những căn phòng tương tự, có thêm một phòng thứ ba được ngăn ra từ khu vực tiền sảnh; ba gian phòng ấy gồm một phòng khách, một phòng trang điểm và một phòng ngủ. Phòng khách ở tầng dưới thực chất chỉ là một chiếc sập kiểu An-giê-ri dành cho những người hút thuốc. Phòng trang điểm trên lầu thông với phòng ngủ bằng một cánh cửa tàng hình trên cầu thang; rõ ràng mọi biện pháp cẩn trọng đều đã được tính toán. Phía trên tầng này là một xưởng vẽ rộng lớn được mở rộng bằng cách dỡ bỏ các bức tường ngăn – một chốn hỗn mang nơi nghệ sĩ và tay chơi tranh tài cao thấp.

Tại đó tụ tập và chất đống tất cả những cơn hứng thú bộc phát nối tiếp nhau của Albert: kèn săn, đàn vi-ô-lông trầm, sáo – cả một dàn nhạc, bởi Albert không chỉ có khiếu mà còn từng mê mẩn âm nhạc; giá vẽ, bảng màu, cọ vẽ, bút chì – vì âm nhạc đã nhường chỗ cho hội họa; kiếm dạo, găng tay đấm bốc, gươm rộng và gậy ngắn – bởi vì, noi gương những thanh niên thời thượng thời bấy giờ, Albert de Morcerf theo đuổi ba môn nghệ thuật hoàn thiện giáo dục của một tay chơi với sự kiên trì vượt xa âm nhạc và hội họa, đó là đấu kiếm, đấm bốc và múa gậy; và chính tại nơi này, anh thường tiếp đón Grisier, Cooks và Charles Leboucher.

Phần nội thất còn lại của căn phòng đặc biệt này gồm những chiếc tủ cổ đựng đồ sứ Trung Hoa và bình hoa Nhật Bản, đồ sành sứ Lucca della Robbia và đĩa Palissy; những chiếc ghế bành cổ mà rất có thể vua Henri IV hoặc tể tướng Sully, vua Louis XIII hoặc tể tướng Richelieu từng ngồi – vì hai trong số những chiếc ghế bành ấy, được trang trí bằng một huy hiệu chạm khắc mang hình hoa bách hợp của nước Pháp trên nền trời xanh, rõ ràng có xuất xứ từ điện Louvre, hoặc ít nhất là từ một dinh thự hoàng gia nào đó.

Trùm lên những chiếc ghế tối màu và u buồn ấy là những tấm vải lộng lẫy được nhuộm dưới ánh mặt trời xứ Ba Tư, hay được dệt bởi bàn tay những người phụ nữ Calcutta và Chandernagor. Chẳng tài nào đoán nổi những tấm vải ấy làm gì ở đó; chúng nằm chờ đợi, trong lúc làm đẹp lòng người ngắm, một sứ mệnh chính chủ nhân cũng chẳng hay biết; còn trong lúc này, chúng lấp đầy căn phòng bằng những ánh quang óng ả và dào dạt sắc vàng tơ.

Giữa phòng đặt một cây đàn dương cầm "baby grand" hiệu Roller and Blanchet bằng gỗ hồng mộc, ẩn chứa tiềm năng của cả một dàn nhạc trong cái khoang nhỏ hẹp và vang vọng ấy, oằn mình dưới sức nặng của những kiệt tác do Beethoven, Weber, Mozart, Haydn, Grétry và Porpora sáng tác.

Trên các bức tường, phía trên các khung cửa, trên trần nhà là gươm giáo, dao găm, mã tấu Mã Lai, chuỳ chiến, rìu chiến; những bộ giáp mạ vàng, cắm hoa văn và cẩn ốc; cây khô, khoáng vật, và những con chim nhồi bông với đôi cánh rực lửa như màu ngọn lửa đang xòe rộng trong chuyến bay bất động, và chiếc mỏ thì há hốc mãi mãi. Đây là chốn thư giãn yêu thích nhất của Albert.

Tuy nhiên, vào buổi sáng diễn ra cuộc hẹn, chàng trai trẻ đã bố trí cho mình ở phòng khách nhỏ dưới tầng trệt. Tại đó, trên một chiếc bàn được bao quanh ở khoảng cách vừa phải bởi một chiếc sập lớn sang trọng, đủ mọi loại thuốc lá được biết đến – từ thuốc lá vàng Xanh-πε-téc-bua đến thuốc lá đen Si-nai, rồi trải dài từ Ma-ri-lân và Pốt-tô Ri-cô cho đến La-ta-ki-a – được bày biện trong những chiếc chậu gốm rạn mà người Hà Lan vô cùng ưa chuộng; bên cạnh chúng, trong những chiếc hộp bằng gỗ thơm, là xì gà puros, regalias, havanas và manillas được xếp theo kích thước và chất lượng; và trong một chiếc tủ mở là bộ sưu tập tẩu thuốc Đức, tẩu chibouk với phần ống ngậm bằng hổ phách trang trí san hô, cùng những chiếc tẩu narghile với ống hút dài bằng da Ma-rốc, đang chờ đợi ngẫu hứng hoặc sở thích của những người hút.

Chính tay Albert đã đứng ra sắp xếp, hay đúng hơn là tạo ra sự bừa bộn có tính đối xứng mà sau bữa cà phê, các thực khách trong một bữa điểm tâm thời hiện đại rất thích ngắm nhìn qua làn khói lững lờ bay ra từ miệng họ, uốn lượn thành những vòng tròn kỳ ảo bay lên tận trần nhà.

Đến mười giờ kém mười lăm phút, một người hầu bước vào; anh ta cùng với một chú tiểu đồng tên là John – người chỉ nói được tiếng Anh – tạo nên toàn bộ đội ngũ gia nhân của Albert, mặc dù đầu bếp của dinh thự luôn sẵn sàng phục vụ anh, và trong những dịp trọng đại thì có cả quản gia của bá tước nữa. Người hầu này tên là Germain, người nhận được sự tin tưởng tuyệt đối của người chủ trẻ, một tay cầm xấp giấy tờ, tay kia cầm một bấp thư từ đưa cho Albert. Albert hờ hững liếc nhìn những mảnh giấy khác nhau, chọn ra hai bức viết bằng nét chữ nhỏ nhắn, tinh tế đựng trong những chiếc phong bì thơm mùi hoa, rồi mở ra đọc kỹ nội dung.

– Những bức thư này ai đưa đến thế? – anh hỏi.

– Một bức gửi qua bưu điện, còn bức kia do người hầu của phu nhân Danglars mang tới.

– Hãy báo cho phu nhân Danglars biết là ta nhận chỗ ngồi trong lô của bà ấy. Khoan đã, trong ngày hôm nay, hãy nhắn với Rosa rằng lúc rời nhà hát opera ta sẽ đến ăn đêm cùng nàng theo ý muốn. Lấy cho cô ta sáu chai rượu các loại – Síp, sherry, Malaga, và một thùng hàu Ostend; cứ mua ở hàng Borel ấy, và nhớ dặn rằng đó là quà của ta.

– Thưa ngài, mấy giờ ngài dùng điểm tâm?

– Bây giờ là mấy giờ rồi?

– Mười giờ kém mười lăm phút.

– Được rồi, đúng mười giờ rưỡi. Có lẽ Debray sẽ phải tạt qua bộ trưởng – và vả lại (Albert nhìn vào sổ tay), đây là giờ ta đã hẹn với bá tước, ngày 21 tháng 5, lúc mười giờ rưỡi; và dù ta không kỳ vọng lắm vào lời hứa của ông ấy, ta vẫn muốn đúng giờ. Nữ bá tước đã dậy chưa?

– Nếu ngài muốn, tôi sẽ đi hỏi.

– Ừ, xin bà ấy một chiếc hộp đựng rượu mùi nhé, của ta thiếu mất rồi; và nói với bà ấy rằng ta sẽ có vinh dự diện kiến vào khoảng ba giờ chiều, và ta xin phép được dẫn theo một người đến mắt kiến bà ấy.

Người hầu lui ra. Albert ngả người lên chiếc sập, xé phong bì của hai hoặc ba tờ báo, liếc nhìn lịch diễn kịch, nhăn mặt khi thấy họ diễn opera chứ không phải múa ba-lê; lục lọi vô ích trong mục quảng cáo để tìm một loại bột đánh răng mới mà anh từng nghe ngợi ca, rồi lần lượt ném phắt ba tờ báo lớn nhất Paris xuống, lầm bầm:

– Mấy tờ báo này càng ngày càng ngớ ngẩn.

Chốc lát sau, một chiếc xe ngựa dừng lại trước cửa, và người hầu báo tin ngài Lucien Debray đã tới. Một thanh niên cao ráo, tóc sáng màu, mắt xám trong, môi mỏng mím lại, mặc chiếc áo khoác xanh đính những chiếc khuy vàng chạm trổ tinh xảo, quàng khăn cổ màu trắng và đeo một chiếc kính một mắt gọng đồi mồi treo bằng sợi tơ – thứ mà nhờ sự vận động của cơ chân mày và cơ gò má, anh ta giắt chặt vào mắt – bước vào với vẻ mặt bán chính thức, không cười cũng chẳng lên tiếng.

– Chào Lucien, chào anh, – Albert nói. – Sự đúng giờ của anh thực sự làm tôi hoảng hốt đấy. Tôi nói gì nhỉ? Đúng giờ cơ đấy! Anh, người mà tôi chờ đợi muộn nhất, lại đến trước mười giờ năm phút, trong khi giờ hẹn là mười giờ rưỡi! Bộ các ông từ chức rồi à?

– Không đâu, anh bạn thân mến, – chàng trai trẻ đáp, ngồi xuống sập; – cứ yên tâm; chúng ta lảo đảo luôn nhưng chẳng bao giờ ngã, và tôi bắt đầu tin rằng chúng ta sẽ chuyển sang trạng thái bất động, rồi khi ấy các vấn đề ở xứ Bán đảo sẽ củng cố vững chắc vị thế của chúng ta.

– À đúng rồi, các anh đang đuổi Don Carlos khỏi Tây Ban Nha mà.

– Không, không, anh bạn thân mến, đừng nhầm lẫn kế hoạch của chúng tôi. Chúng tôi đưa ông ta sang bên kia biên giới Pháp và dành cho ông ta sự hiếu khách tại Bourges.

– Ở Bourges ư?

– Đúng vậy, ông ta chẳng có gì phải phàn nàn đâu; Bourges là kinh đô của vua Charles VII. Anh không biết rằng cả Paris đã rõ chuyện này từ hôm qua, và hôm kia thì nó đã rò rỉ trên Sở Giao dịch chứng khoán, còn ngài Danglars (tôi không hiểu bằng cách nào mà lão ta lại có thể tóm được tin tức nhanh như chúng tôi) đã kiếm được cả triệu bạc rồi sao!

– Còn anh thì được thêm một huân chương, vì tôi thấy khuy áo anh có dải băng xanh.

– Ừ, họ gửi tặng tôi Huân chương Charles III, – Debray hờ hững đáp.

– Thôi nào, đừng ra vẻ thờ ơ thế, thú nhận đi là anh rất vui khi nhận được nó chứ.

– Ồ, nó dùng để làm điểm nhấn cho bộ trang phục thì rất ổn. Trông rất lịch thiệp trên chiếc áo khoác đen cài khuy kín.

– Và trông anh giống hệt Thân vương xứ Wales hoặc Công tước xứ Reichstadt.

– Chính vì thế nên anh mới thấy tôi đến sớm thế này.

– Vì anh có Huân chương Charles III và muốn loan báo tin vui cho tôi à?

– Không, vì tôi đã thức trắng đêm để viết thư – hai mươi lăm bản công hàm. Tôi về nhà lúc rạng sáng và cố chợp mắt; nhưng đầu óc đau nhức nên tôi dậy phóng ngựa một tiếng đồng hồ. Ở rừng Boulogne, nỗi chán chường và cái đói cùng lúc tấn công tôi – hai kẻ thù hiếm khi đồng hành cùng nhau mà nay lại liên minh chống lại tôi, một kiểu liên minh cộng hòa-Cac-lít. Thế rồi tôi nhớ ra anh có buổi điểm tâm sáng nay, và thế là tôi có mặt ở đây. Tôi đang đói, hãy cho tôi ăn đi; tôi đang chán, hãy làm tôi vui lên.

– Đó làn phận sự của kẻ làm chủ nhà như tôi, – Albert đáp, tay giật chuông gọi, trong khi Lucien dùng cây gậy chuôi vàng lật giật đống báo trên bàn. – Germain, một ly sherry và một chiếc bánh quy. Trong lúc chờ đợi, Lucien thân mến, đây là xì gà – tất nhiên là hàng lậu đấy – hãy thử đi, rồi khuyên ngài bộ trưởng bán cho chúng ta loại này thay vì đầu độc chúng ta bằng lá bắp cải.

– Peste! Tôi chẳng dại gì làm thế; ngay khi chúng do chính quyền phân phối thì anh sẽ thấy chúng tởm lợm ngay. Hơn nữa, chuyện đó không thuộc thẩm quyền của bộ nội vụ mà là bộ tài chính. Anh cứ tìm gặp ngài Humann, phụ trách ban thuế gián thu, hành lang A, phòng số 26.

– Nói thật nhé, – Albert bảo, – cậu làm tôi kinh ngạc vì vốn hiểu biết rộng thênh thang đấy. Hút một điếu xì gà đi.

– Thực tình mà nói, Albert thân mến, – Lucien đáp, châm một điếu manilla vào ngọn nến màu hồng đang cháy trong chiếc đế mạ men xinh xắn – anh thật hạnh phúc vì chẳng phải làm gì cả. Anh không biết sướng là gì đâu!

– Thế anh sẽ làm gì, hỡi nhà ngoại giao thân mến, – Morcerf đáp, giọng phảng phất chút mỉa mai, – nếu anh chẳng làm gì cả? Gì cơ? Thư ký riêng cho một bộ trưởng, ngay lập tức bị cuốn vào những âm mưu châu Âu và mưu đồ Paris; có các vị vua, và tuyệt hơn thế là các bà hoàng hậu để bảo vệ, các phe phái để gắn kết, các cuộc bầu cử để đạo diễn; dùng ngòi bút và máy điện tín trong phòng làm việc hiệu quả hơn hẳn những gì Napoleon từng làm trên chiến trường bằng gươm giáo và những chiến thắng; sở hữu hai mươi lăm nghìn quan một năm, ngoài tiền lương công chức; một con ngựa mà Château-Renaud từng gạ mua bốn trăm luy-i mà anh nhất quyết không bán; một thợ may chưa từng làm anh thất vọng; cùng nhà hát opera, câu lạc bộ jockey, và bao trò tiêu khiển khác, thế mà anh không tự giải trí nổi sao? Được rồi, tôi sẽ giúp anh giải trí.

– Bằng cách nào?

– Giới thiệu với anh một người quen mới.

– Đàn ông hay đàn bà?

– Đàn ông.

– Tôi quen biết bao nhiêu là đàn ông rồi.

– Nhưng anh chưa quen người này.

– Lão ta từ đâu tới – tận cùng thế giới chắc?

– Thậm chí còn xa hơn thế nữa.

– Quỷ thật! Tôi hy vọng lão ta không mang theo bữa điểm tâm của chúng ta chứ.

– Ồ không; bữa điểm tâm của chúng ta đến từ gian bếp của bố tôi. Anh có đói không?

– Dù thú nhận điều này thật mất mặt, nhưng có đấy. Tôi ăn tối nhà M. de Villefort, mà mấy gã luật sư thì luôn đãi những bữa tối cực kỳ tồi tệ. Cứ như thể họ cảm thấy chút cắn rứt lương tâm nào đó vậy; anh đã bao giờ để ý điều đó chưa?

– À, anh chỉ giỏi chê bai bữa ăn nhà kẻ khác; các ngài bộ trưởng các anh toàn đãi những bữa thịnh soạn cơ mà.

– Vâng; nhưng chúng tôi đâu có mời những kẻ trưởng giả quê mùa. Nếu không bị buộc phải tiếp đón một đám nhà quê ngốc nghếch chỉ vì chúng suy nghĩ và bỏ phiếu theo chúng tôi, thì thú thực chúng tôi chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện ăn tối ở nhà đâu.

– Thôi được, làm thêm ly sherry và chiếc bánh quy nữa đi.

– Sẵn sàng thôi. Rượu vang Tây Ban Nha của anh hảo hạng thật đấy. Anh thấy đấy, chúng ta đã hoàn toàn đúng đắn khi bình định xứ sở đó.

– Đúng thế; nhưng còn Don Carlos?

– Ồ, Don Carlos sẽ uống rượu Bordeaux, và mười năm nữa chúng ta sẽ gả con trai lão cho cô nữ vương nhỏ tuổi.

– Khi ấy anh sẽ giành được Huân chương Lông cừu vàng, nếu anh vẫn còn tại chức trong nội bộ chính phủ.

– Albert này, tôi nghĩ anh áp dụng phương pháp cho tôi ăn khói vào buổi sáng nay rồi đấy.

– Chà, anh phải công nhận đó là thứ tốt nhất cho dạ dày chứ; nhưng tôi nghe thấy tiếng Beauchamp ở phòng bên cạnh rồi đấy; các anh có thể tranh cãi với nhau, thế là qua đi một quãng thời gian.

– Tranh cãi chuyện gì?

– Chuyện báo chí.

– Bạn hiền của tôi ơi, – Lucien thốt lên với vẻ khinh miệt tối thượng, – có bao giờ tôi đọc báo đâu.

– Thế thì anh lại càng tranh cãi hăng hơn chứ sao.

– Ngài Beauchamp, – người hầu báo tin. – Vào đi, vào đi, – Albert đứng dậy bước tới đón chàng trai trẻ. – Đây rồi, Debray đây, kẻ căm ghét anh mà chẳng thèm đọc bài của anh, hắn tự khai thế đấy.

– Cậu ta hoàn toàn đúng, – Beauchamp đáp; – vì tôi chỉ trích cậu ta mà có biết cậu ta làm quái gì đâu. Chào ngài chỉ huy!

– À, anh biết chuyện đó rồi cơ à, – viên thư ký riêng mỉm cười và bắt tay anh ta.

– Tất nhiên!

– Thế thiên hạ ngoài kia họ bàn tán thế nào về chuyện đó?

– Thiên hạ nào cơ? Thời đại hồng ân 1838 này chúng ta có khối thế giới cơ mà.

– Toàn bộ giới chính trị, nơi anh là một trong những thủ lĩnh.

– Họ bảo rằng điều đó hoàn toàn công bằng, và đã gieo rắc biết bao nhiêu sắc đỏ thì anh phải gặt hái lấy chút sắc xanh chứ.

– Thôi nào, thế thì không tồi chút nào đâu! – Lucien nói. – Sao anh không gia nhập phe chúng tôi đi, Beauchamp thân mến? Với tài năng của anh, anh sẽ phất lên chỉ trong ba bốn năm thôi.

– Tôi chỉ chờ đợi một điều trước khi làm theo lời khuyên của anh; đó là một vị bộ trưởng giữ được ghế trong sáu tháng. Albert thân mến, xin anh một câu thôi, vì tôi phải cho tội nghiệp Lucien nghỉ ngơi chút đã. Chúng ta điểm tâm hay ăn trưa đây? Tôi phải đến Nghị viện, cuộc đời chúng tôi đâu phải chuyện ngồi không.

– Các anh chỉ việc điểm tâm thôi; tôi còn đang chờ hai người nữa, và ngay khi họ đến chúng ta sẽ vào bàn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.