“Đến đoạn nào thì tôi nên bắt đầu câu chuyện của mình đây, thưa ngài?” Bertuccio hỏi.
“Tùy ý ông thôi,” Monte Cristo đáp, “vì tôi chẳng biết chút gì về chuyện đó cả.”
“Tôi cứ tưởng tu viện trưởng Busoni đã kể cho ngài nghe rồi chứ.”
“Chắc là có vài chi tiết, nhưng chuyện đó đã từ bảy, tám năm trước, và tôi quên mất tiêu rồi.”
“Vậy thì tôi có thể kể mà không sợ làm ngài phải mỏi tai.”
“Cứ nói đi, ngài Bertuccio; ông sẽ giúp tôi đỡ buồn vì thiếu báo chiều nay.”
“Câu chuyện bắt đầu vào năm 1815.”
“À,” Monte Cristo nói, “năm 1815 thì không phải là ngày hôm qua đâu.”
“Thưa ngài, không phải, thế mà tôi vẫn nhớ mọi chuyện rành mạch cứ như thể chúng vừa mới xảy ra vậy. Tôi có một người anh, anh cả, người từng phục vụ trong quân ngũ dưới thời hoàng đế; anh ấy đã lên đến chức trung úy trong một trung đoàn toàn người đảo Corse. Người anh này là chỗ dựa duy nhất của tôi; chúng tôi mồ côi từ nhỏ—tôi năm tuổi, anh ấy mười tám. Anh nuôi nấng tôi chẳng khác nào con ruột, và đến năm 1814 thì lập gia đình. Khi hoàng đế từ đảo Elba trở về, anh tôi lập tức gia nhập quân đội, bị thương nhẹ trong trận Waterloo, và cùng quân đội rút lui về bên kia sông Loire.”
“Nhưng đó là lịch sử của thời kỳ Một trăm ngày, ngài Bertuccio ạ,” bá tước nói; “nếu tôi không nhầm thì chuyện đó đã được viết thành sách rồi.”
“Xin ngài tha lỗi, nhưng những chi tiết này là cần thiết, và ngài đã hứa sẽ kiên nhẫn cơ mà.”
“Cứ nói đi; tôi sẽ giữ lời.”
“Một hôm chúng tôi nhận được một thư. Tôi phải thưa để ngài rõ là chúng tôi sống ở ngôi làng nhỏ Rogliano, tận cùng mũi Cap Corse. Thư này là của anh tôi. Anh báo tin quân đội đã giải tán, và anh sẽ trở về qua đường Châteauroux, Clermont-Ferrand, Le Puy và Nîmes; nếu tôi có tiền, anh dặn tôi gửi lại ở Nîmes nhờ một chủ quán trọ mà tôi quen biết.”
“Làm nghề buôn lậu à?” Monte Cristo hỏi.
“Ối, thưa ngài? Ai mà chẳng phải sống chứ.”
“Đương nhiên rồi; cứ tiếp tục đi.”
“Tôi thương anh tôi hết mực như đã thưa với ngài, và tôi quyết định không gửi tiền nữa mà tự mình mang đi. Tôi có một nghìn quan. Tôi để lại năm trăm quan cho Assunta, chị dâu tôi, còn năm trăm quan kia thì xách gói lên đường đến Nîmes. Việc đó dễ thôi, vì sẵn có thuyền và một chuyến hàng phải bốc ở ngoài khơi, mọi thứ đều ủng hộ dự định của tôi. Nhưng sau khi chúng tôi nhận hàng xong, gió lại đổi chiều, thế là mất bốn, năm ngày trời mà chúng tôi không tài nào vào được sông Rhône. Cuối cùng thì cũng thành công, và chúng tôi ngược dòng lên đến Arles. Tôi bỏ thuyền lại giữa Bellegarde và Beaucaire rồi đi bộ đến Nîmes.”
“Chúng ta đang đi vào câu chuyện chính rồi phải không?”
“Vâng, thưa ngài; xin ngài lượng thứ, nhưng như ngài sẽ thấy, tôi chỉ kể những gì hoàn toàn cần thiết thôi. Đúng vào lúc ấy, các vụ thảm sát nổi tiếng đã xảy ra ở miền nam nước Pháp. Ba tên cướp mang tên Trestaillon, Truphemy và Graffan công khai ám sát bất cứ ai chúng ngờ là theo phái Bonapart. Chắc là ngài đã nghe nói về những vụ thảm sát này rồi chứ, thưa ngài?”
“Hơi mơ hồ; thời gian đó tôi ở rất xa nước Pháp. Cứ kể tiếp đi.”
“Lúc bước chân vào Nîmes, tôi thực sự lội trong biển máu; cứ bước đi vài bước là bạn lại đụng phải thây ma cùng những băng nhóm sát nhân đang giết chóc, cướp bóc và đốt phá. Chứng kiến cảnh tàn sát và điêu tàn đó, tôi đâm ra sợ hãi, không phải cho bản thân mình—vì tôi, một ngư dân Corse bình thường, chẳng có gì phải sợ; trái lại, thời buổi ấy lại là lúc làm ăn ngon nghẻ nhất cho bọn buôn lậu chúng tôi—mà sợ cho anh tôi, một người lính của đế chế, vừa từ quân đội bên sông Loire trở về với quân phục và lon trung úy trên vai, có trời mới biết điều gì chờ đợi anh ấy. Tôi vội vã tìm đến chỗ nhà trọ. Những linh cảm của tôi quả không sai tẹo nào. Anh tôi đã đến Nîmes từ chiều hôm trước, và ngay trước cửa ngôi nhà mà anh chuẩn bị xin trọ qua đêm, anh đã bị ám sát. Tôi đã làm mọi cách có thể để tìm ra kẻ thủ phạm, nhưng chẳng ai dám hé môi cho tôi biết tên tuổi của chúng, vì chúng quá đáng sợ. Tôi bèn nghĩ đến nền công lý Pháp mà tôi hằng nghe đồn đại, rằng nó chẳng sợ một ai, thế là tôi đến gặp viện kiểm sát của nhà vua.”
“Và viên kiểm sát của nhà vua ấy tên là Villefort phải không?” Monte Cristo hờ hững hỏi.
“Vâng, thưa ngài; ông ta từ Marseille chuyển đến, nơi ông từng giữ chức phó công tố. Sự nhiệt tình đã mang lại cho ông ta sự thăng tiến, và người ta đồn rằng ông là một trong những người đầu tiên báo tin cho chính phủ về việc hoàng đế rời đảo Elba.”
“Thế rồi,” Monte Cristo nói, “ông đã đến gặp hắn ta à?”
“‘Thưa ngài,’ tôi nói, ‘anh tôi đã bị ám sát ngày hôm qua trên đường phố Nîmes, tôi không biết do ai tay, nhưng tìm ra họ là bổn phận của ngài. Ngài là đại diện cho công lý ở đây, và công lý có trách nhiệm trừng phạt kẻ thù của những người mà ngài không bảo vệ được.’
‘Anh anh là ai?’ hắn hỏi.
‘Một trung úy trong tiểu đoàn Corse.’
‘Thế ra là một tên lính của kẻ soán ngôi à?’
‘Một người lính trong quân đội Pháp.’
‘À,’ hắn đáp, ‘kẻ dùng gươm giáo sẽ chết vì gươm giáo.’
‘Ngài nhầm rồi, thưa ngài,’ tôi đáp; ‘anh tôi chết dưới lưỡi dao găm.’
‘Anh muốn tôi phải làm gì nào?’ viên quan tòa hỏi.
‘Tôi đã nói với ngài rồi—hãy trả thù cho anh ấy.’
‘Trả thù ai?’
‘Những kẻ sát nhân.’
‘Sao tôi biết chúng là ai được?’
‘Hãy ra lệnh tìm kiếm chúng.’
‘Chà, anh của anh đã vướng vào một vụ cãi vã và bị giết trong một trận đấu gươm. Tất cả những tay cựu chiến binh đó đều gây ra những thói hư tật xấu từng được dung túng dưới thời hoàng đế, nhưng nay thì không đời nào được chấp nhận, vì người dân ở đây không ưa những kẻ lính có lối sống vô kỷ luật như vậy.’
‘Thưa ngài,’ tôi đáp, ‘tôi cầu xin ngài can thiệp không phải cho riêng tôi—tôi có buồn rầu hay báo thù đi nữa cũng là chuyện khác, ngặt nỗi người anh tội nghiệp của tôi lại có một người vợ, và nhỡ có chuyện gì xảy ra với tôi, người khổ sở ấy sẽ chết đói mất thôi, vì tiền lương của anh tôi là thứ duy nhất nuôi sống cô ấy. Xin ngài hãy làm ơn cố gắng xin cho cô ấy một khoản trợ cấp nhỏ từ chính phủ.’
‘Cuộc cách mạng nào mà chẳng có thảm họa,’ M. de Villefort đáp lại; ‘anh của anh đã là nạn nhân của thời cuộc. Đó là điều bất hạnh, và chính phủ chẳng nợ nần gì gia đình anh cả. Nếu cứ nhìn vào tất cả những vụ trả thù mà phe cánh của kẻ soán ngôi giáng lên đầu những người phò tá nhà vua khi chúng giành lại được quyền lực, thì rất có thể hôm nay anh của anh đã bị kết án tử hình rồi. Những gì xảy ra là hoàn toàn tự nhiên và tuân theo luật trả đũa.’
‘Cái gì,’ tôi thét lên, ‘mà một viên quan tòa như ngài lại dám nói với tôi những lời ấy ư?’
‘Mấy tên người Corse này điên hết cả rồi, thề có danh dự của tôi,’ M. de Villefort đáp; ‘họ cứ tưởng đồng hương của họ vẫn còn là hoàng đế. Anh nhầm thời điểm rồi, lẽ ra anh phải nói với tôi chuyện này từ hai tháng trước, giờ thì quá muộn rồi. Biến đi, ra khỏi đây ngay lập tức, nếu không tôi sẽ cho người tống cổ anh ra ngoài.’”
“Tôi nhìn hắn một thoáng để xem liệu còn chút hy vọng nào từ việc nài nỉ thêm không. Nhưng hắn ta là một kẻ máu lạnh vô cảm. Tôi bước lại gần, nhỏ giọng nói: ‘Thà rằng ngài hiểu rõ người Corse như vậy, chắc ngài cũng biết họ luôn giữ lời hứa thế nào. Ngài nghĩ rằng giết anh tôi, một kẻ theo phu quân Bonapart, là một việc làm phải đạo vì ngài là người phò vua. Thì đây, tôi, một kẻ cũng theo phu quân Bonapart, xin tuyên bố với ngài một điều: tôi sẽ giết ngài. Từ giây phút này, tôi tuyên bố mối thù truyền kiếp (vendetta) với ngài, hãy tự bảo vệ mình cho tốt vào, vì lần tới khi chúng ta gặp nhau chính là giờ tận số của ngài.’ Và trước khi hắn kịp hoàn hồn sau cơn kinh ngạc, tôi mở cửa bước ra ngoài.”
“Chà, chà,” Monte Cristo nói, “một kẻ trông hiền lành như ông mà lại đi làm những chuyện đó, ngài Bertuccio, lại còn dám làm với cả một viện kiểm sát nhà vua nữa chứ! Nhưng mà hắn có hiểu từ ‘vendetta’ đáng sợ ấy nghĩa là gì không?”
“Hắn hiểu rõ lắm chứ, bằng chứng là từ phút đó trở đi hắn tự giam mình trong nhà, đi đâu cũng có người kèm cặp, đồng thời lùng sục tôi khắp nơi không sót chỗ nào. May sao tôi trốn kỹ quá nên hắn chẳng tìm được. Rồi hắn đâm hoảng, không dám ở lại Nîmes nữa, liền xin chuyển nơi công tác, và vì vốn có thế lực lớn nên hắn được bổ nhiệm về Versailles. Nhưng thưa ngài, như ngài biết đấy, một người Corse đã thề trả thù thì chẳng màng chi đường sá xa xôi, thế nên cỗ xe của hắn dẫu có chạy nhanh đến đâu cũng chưa bao giờ vượt trước tôi quá nửa ngày đường, khi tôi cứ lầm lũi bám theo sau bằng đôi chân trần. Điều quan trọng nhất không phải là giết hắn ngay—vì tôi đã có cơ hội làm điều đó hàng trăm lần—mà là giết hắn mà không bị phát hiện—ít nhất là không bị bắt giam. Lúc đó tôi không còn là của riêng mình nữa, vì tôi còn phải bảo vệ và lo cho người chị dâu.”
“Suốt ba tháng trời, tôi theo dõi M. de Villefort, ba tháng trời hắn bước chân ra khỏi nhà là có tôi bám gót. Cuối cùng tôi phát hiện ra hắn thường bí mật đến Auteuil. Tôi bám theo tới tận nơi, và thấy hắn bước vào ngôi nhà mà chúng ta đang đứng đây, chỉ có điều thay vì đi cửa chính hướng ra đường phố, hắn cưỡi ngựa hoặc ngồi xe hơi, bỏ lại phương tiện ở quán trọ nhỏ rồi đi vào bằng cái cổng mà ngài đang nhìn thấy kìa.”
Monte Cristo khẽ gật đầu ra hiệu rằng ng cánh cửa mà Bertuccio nhắc đến trong bóng tối.
“Vì ở Versailles chẳng còn việc gì làm nữa, tôi chuyển đến Auteuil và thu thập mọi thông tin cần thiết. Nếu tôi muốn đánh úp hắn, rõ ràng đây chính là chốn mai phục lý tưởng. Ngôi nhà này, như người gác cổng đã tâu với ngài, thuộc về M. de Saint-Méran, cha vợ của Villefort. M. de Saint-Méran sống ở Marseille nên ngôi nhà đồng quê này chẳng mấy khi dùng đến, và người ta đồn rằng nó đã được cho một góa phụ trẻ thuê, người mà thiên hạ chỉ biết đến qua cái tên ‘nữ bá tước’.”
“Một buổi tối, khi đang ngó qua bức tường vây, tôi nhìn thấy một phụ nữ trẻ tuổi và xinh đẹp đang thẩn thơ dạo bước một mình trong khu vườn không bị cửa sổ nào nhìn thấu ấy, và tôi đoán cô đang ngóng chờ M. de Villefort. Khi cô bước lại gần đủ để tôi nhìn rõ nét mặt, tôi nhận ra cô chừng mười tám, mười chín tuổi, cao ráo và có mái tóc rất vàng. Vì cô mặc một chiếc váy mỏng bằng vải musseline và không có gì che khuất vóc dáng, tôi nhận ra chẳng mấy chốc nữa cô sẽ làm mẹ. Chỉ ít phút sau, cánh cửa nhỏ bật mở và một người đàn ông bước vào. Người phụ nữ trẻ vội vã chạy đến đón. Họ lao vào vòng tay nhau, ôm ấp thắm thiết rồi cùng dắt nhau vào nhà. Người đàn ông đó chính là M. de Villefort; tôi đinh ninh rằng khi đêm xuống lúc rời đi, hắn sẽ buộc phải băng qua toàn bộ khu vườn một mình.”

“Và,” bá tước hỏi, “ông có bao giờ biết tên người phụ nữ đó không?”
“Không, thưa ngài,” Bertuccio đáp; “như ngài sẽ thấy, tôi chẳng có thời gian đâu mà tìm hiểu.”
“Cứ kể tiếp đi.”
“Buổi tối hôm đó,” Bertuccio tiếp lời, “lẽ ra tôi đã có thể hạ sát viên công tố rồi, nhưng vì chưa nắm rõ địa hình quanh vùng, tôi sợ ra tay không dột nát, nhỡ tiếng kêu của hắn bị người ta nghe thấy thì tôi sẽ tóm cổ như chơi; thế nên tôi đành hoãn lại đến dịp khác, và để không bỏ lỡ bất cứ điều gì, tôi thuê một căn phòng nhìn ra con đường có bức tường vườn bao quanh. Ba ngày sau, vào khoảng bảy giờ tối, tôi thấy một tên đầy tớ cưỡi ngựa phi nước đại rời khỏi nhà theo hướng đi Sèvres. Tôi đoán chắc hắn đang đi Versailles, và tôi đoán không sai. Ba tháng sau, nhầm, ba tiếng sau, gã đó trở về người đầy bụi bặm, nhiệm vụ đã hoàn thành, và chỉ hai phút sau, một kẻ khác đi bộ, khoác áo choàng kín mít, mở cánh cửa nhỏ vào vườn rồi khép lại phía sau. Tôi nhanh nhẹn tụt xuống; dẫu không nhìn rõ mặt Villefort, tôi vẫn nhận ra hắn qua nhịp đập dồn dập của lồng ngực mình. Tôi băng qua đường, dừng lại bên cái cột trụ ở góc tường, nơi tôi từng dùng để ngó vào vườn trước kia.”
“Lần này tôi không thèm đứng ngó nữa mà rút dao trong túi ra, rà lại xem lưỡi dao đã bén ngót chưa, rồi phóng qua tường. Việc đầu tiên tôi làm là chạy thốc đến cánh cửa; hắn vẫn cắm sẵn chìa khóa ở ổ, chỉ cẩn thận vặn hai vòng khóa lại. Chẳng còn gì cản trở đường tẩu thoát của tôi theo lối này nữa, tôi liền rà soát khuôn viên. Khu vườn vừa dài vừa hẹp; một khoảng cỏ mượt mà trải dài ở giữa, còn ở các góc là những lùm cây rậm rạp cành lá tạo thành phông nền cho các khóm cây bụi và hoa cỏ. Để đi từ cửa vào nhà, hoặc từ nhà ra cửa, M. de Villefort bắt buộc phải đi ngang qua một trong những lùm cây um tùm đó.”

“Đó là cuối tháng Chín; gió thổi giật từng hồi. Ánh trăng nhợt nhạt lúc ẩn lúc hiện sau những đám mây đen cuồn cuộn bay ngang bầu trời soi rõ những lối đi rải sỏi dẫn vào nhà, nhưng chẳng tài nào xuyên thủng được bóng tối của những bụi cây rậm rạp nơi một kẻ có thể ẩn nấp mà chẳng sợ ai phát hiện. Tôi trúng mình ẩn nấp vào cái lùm cây nằm sát lối đi mà Villefort thế nào cũng phải bước qua, và vừa núp vào xong, giữa những tiếng gió hú, tôi hồ đồ nghe như có tiếng rên rỉ; nhưng ngài biết đấy, hay đúng hơn là ngài chưa biết, thưa ngài, kẻ sắp sửa ra tay ám sát lúc nào cũng tưởng tượng bên tai mình văng vẳng tiếng rên la rả rích. Hai tiếng đồng hồ trôi đi như thế, trong tâm tưởng tôi cứ văng vẳng tiếng rên rỉ liên hồi. Nửa đêm điểm chuông. Khi tiếng chuông cuối cùng vừa dứt, tôi thấy một ánh sáng yếu ớt hắt qua các cửa sổ của lối cầu thang riêng mà chúng ta vừa đi xuống lúc nãy. Cánh cửa bật mở, và gã đàn ông khoác áo choàng lại xuất hiện.”
“Khoảnh khắc khủng khiếp đã đến, nhưng tôi đã chuẩn bị tinh thần quá lâu nên tim chẳng hề lỡ nhịp nào. Tôi lại rút dao ra khỏi túi, mở bật lưỡi, sẵn sàng đâm. Gã khoác áo choàng tiến về phía tôi, nhưng khi hắn bước lại gần, tôi thấy trên tay hắn đang cầm một thứ vũ khí. Tôi hoảng hốt, không phải vì sợ một trận ẩu đả mà sợ hỏng việc. Khi hắn chỉ còn cách tôi vài bước chân, tôi nhận ra thứ mà tôi cứ tưởng là vũ khí hóa ra chỉ là một cái xẻng. Tôi vẫn chưa tài nào đoán nổi vì sao M. de Villefort lại cầm xẻng trên tay, thì hắn dừng phắt lại sát ngay lùm cây nơi tôi ẩn náu, đảo mắt nhìn quanh rồi bắt đầu hì hục đào một cái hố dưới đất. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra hắn đang giấu thứ gì đó dưới lớp áo choàng, thứ mà hắn vừa đặt xuống thảm cỏ để có thể thoải mái đào bới. Thú thật, lúc đó sự tò mò pha lẫn với lòng căm hận; tôi muốn xem Villefort định giở trò gì ở đó, nên cứ đứng im phăng phắc, nín thở dõi theo. Rồi một ý nghĩ xẹt qua đầu tôi, và nó được xác thực khi tôi thấy viên công tố nhấc từ dưới áo choàng ra một chiếc hộp dài chừng hai gang tay, sâu chừng sáu đến tám phân. Tôi để mặc hắn đặt chiếc hộp xuống cái hố vừa đào, rồi trong lúc hắn dùng chân giẫm lên đất để xóa sạch dấu vết công việc vừa làm, tôi lao hổm vào hắn, phóng một nhát dao ngập ngực, miệng thét lớn:
‘Ta là Giovanni Bertuccio; mạng ngươi đổi mạng anh ta; kho báu của ngươi đền cho người vợ góa của anh ta; ngươi thấy đấy, mối thù của ta còn trọn vẹn hơn những gì ta từng mong đợi.’
Tôi chẳng biết hắn có nghe thấy những lời ấy không; tôi nghĩ là không, vì hắn ngã vật xuống mà chẳng kịp thét lên nửa tiếng. Tôi cảm thấy máu hắn phọt xối xả lên mặt mình, nhưng lúc đó tôi đã say máu, đã mê sảng, và dòng máu ấy thay vì làm tôi bỏng rát lại đem đến cho tôi một cảm giác sảng khoái. Chỉ trong chớp mắt, tôi đã bới chiếc hộp lên; rồi để không ai biết tôi đã làm chuyện này, tôi lấp lại cái hố, ném cái xẻng qua tường, rồi lao vút qua cánh cửa, khóa chặt hai vòng lại và mang theo cả chìa khóa.”
“Chà,” Monte Cristo nói, “xem ra đây chẳng qua chỉ là một vụ giết người cướp của.”
“Không đâu, thưa ngài,” Bertuccio đáp; “đó là một vụ trả thù kèm theo sự hoàn trả.”
“Và số tiền đó có lớn không?”
“Đó không phải là tiền.”
“À, tôi nhớ ra rồi,” bá tước đáp; “có phải ông vừa nhắc đến một đứa trẻ sơ sinh không?”
“Vâng, thưa ngài; tôi cắm cổ chạy ra bờ sông, ngồi sụp xuống mép nước, dùng mũi dao cạy tung ổ khóa chiếc hộp. Bên trong bọc một tấm vải lanh mịn là một đứa trẻ vừa mới sinh. Khuôn mặt và đôi bàn tay tím ngắt của nó cho thấy nó đã chết vì ngạt thở, nhưng vì người nó hãy còn ấm, tôi đành chần chừ chưa ném xuống dòng nước đang chảy dưới chân. Một lát sau, tôi ngỡ mình cảm nhận được một nhịp đập nhè nhẹ ở ngực, và vì từng làm y tá phụ việc ở bệnh viện Bastia, tôi liền làm đúng những gì một thầy thuốc phải làm—tôi hà hơi thổi ngạt vào lồng ngực nó, và chỉ mười lăm phút sau, nó bắt đầu thở và cất tiếng khóc oe oe yếu ớt. Đến lượt tôi bật khóc, nhưng đó là tiếng khóc của niềm vui hạnh phúc.”
‘Thế ra Thượng đế vẫn chưa nhẫn tâm ruồng bỏ ta,’ tôi thét lên, ‘khi Ngài cho phép ta cứu lấy mạng sống của một sinh linh, để đổi lấy cái mạng mà ta vừa tước đoạt.’”

“Và ông đã làm gì với đứa bé?” Monte Cristo hỏi. “Đó là một thứ gánh nặng gây không ít rắc rối cho một kẻ đang tìm đường trốn chạy.”
“Tôi chưa từng có ý định giữ nó lại một giây nào cả, nhưng tôi biết ở Paris có một mái ấm chuyên nhận nuôi những đứa trẻ như thế. Khi qua cổng thành, tôi khai rằng mình nhặt được đứa bé trên đường và dò hỏi xem mái ấm đó nằm ở đâu; chiếc hộp là tang chứng xác thực cho lời tôi, tấm vải lanh chứng tỏ đứa bé thuộc về một gia đình giàu có, còn vết máu dính đầy người tôi thì có thể xuất phát từ đứa bé hay bất cứ ai khác cũng vậy. Chẳng có thắc mắc nào được đặt ra, họ chỉ đường cho tôi đến mái ấm nằm ở tận đầu trên phố Rue d’Enfer, và sau khi cẩn thận cắt tấm vải lanh ra làm hai mảnh, sao cho một trong hai chữ cái thêu trên đó nằm ở miếng bọc đứa bé, còn miếng kia tôi giữ lấy, tôi giật chuông rồi chuồn thẳng với tốc độ nhanh nhất có thể. Hai tuần sau, tôi đã có mặt ở Rogliano và nói với Assunta:
‘Hãy nguôi ngoai đi em; Israel đã chết, nhưng anh ấy đã được trả thù.’
Cô ấy gặng hỏi ý tôi là gì, và khi tôi đã kể hết mọi chuyện,—‘Giovanni,’ cô ấy bảo, ‘lẽ ra anh phải mang đứa bé này về đây; chúng ta sẽ thay thế cha mẹ nó, gọi nó là Benedetto, và nhờ việc làm phúc này, Thượng đế sẽ ban phước cho chúng ta.’ Đáp lại, tôi đưa cho cô ấy mảnh vải lanh mà tôi giữ lại để có thể nhận lại nó nếu sau này chúng ta giàu có.”
“Những chữ cái nào được thêu trên tấm vải lanh thế?” Monte Cristo hỏi.
“Một chữ H và một chữ N, bên trên có vương miện bá tước.”
“Trời ạ, ngài Bertuccio, ông rành cả thuật ngữ huy hiệu cơ đấy; ông học huy hiệu học ở đâu thế?”
“Trong phục vụ ngài, thưa ngài, nơi người ta học được tất cả mọi thứ.”
“Cứ kể tiếp đi, tôi đang tò mò muốn biết hai điều.”
“Đó là gì vậy, thưa ngài?”
“Chuyện gì đã xảy ra với cậu bé đó? Vì hình như ông vừa nói với tôi đó là một bé trai, ngài Bertuccio ạ.”
“Không thưa ngài, tôi không nhớ là mình đã nói thế.”
“Tôi cứ tưởng là có; chắc tôi nhầm.”
“Không, ngài không nhầm đâu, vì đó đích thị là một cậu bé. Nhưng ngài vừa muốn biết hai điều cơ mà; điều thứ hai là gì?”
“Điều thứ hai là tội danh mà ông bị quy chụp khi xin gặp linh mục giải tội, và tu viện trưởng Busoni đã đến thăm ông theo thỉnh cầu của ông trong nhà tù ở Nîmes.”
“Câu chuyện sẽ dài lắm đấy, thưa ngài.”
“Thì sao nào? Ông biết là tôi rất ít khi ngủ, và tôi đoán ông cũng chẳng buồn ngủ lắm đâu.” Bertuccio cúi đầu chào rồi tiếp tục câu chuyện.
“Một phần để xua đi những ký ức quá khứ cứ ám ảnh tôi, một phần để trang trải nhu cầu cho người vợ góa tội nghiệp, tôi hăng hái quay lại với nghề buôn lậu, công việc vốn trở nên dễ dàng hơn nhờ sự lỏng lẻo của luật pháp luôn đi sau mỗi cuộc cách mạng. Các vùng phía nam đặc biệt ít bị canh gác chặt chẽ, do những cuộc bạo loạn cứ nổ ra liên tục ở Avignon, Nîmes hay Uzès. Chúng tôi tranh thủ khoảng thời gian chính phủ lơi lỏng này để kết thân với tất cả mọi người. Kể từ vụ ám sát anh tôi trên đường phố Nîmes, tôi chưa từng đặt chân trở lại thị trấn đó; hệ quả là chủ quán trọ mà chúng tôi hay giao dịch, thấy chúng tôi không chịu đến tìm lão nữa, đành phải lặn lội tìm đến chúng tôi, rồi lập hẳn một chi nhánh quán trọ trên con đường từ Bellegarde đi Beaucaire, mang biển hiệu Pont du Gard. Nhờ vậy, ở Aigues-Mortes, Martigues hay Bouc, chúng tôi có sẵn cả tá địa điểm để cất giấu hàng hóa, và khi cần thiết có thể trốn tránh lính biên phòng cùng quan thuế ở đó. Buôn lậu là một nghề hái ra tiền, miễn là người ta có đủ sự nhạy bén và đầu óc tháo vát; phần tôi, lớn lên ở chốn núi rừng, tôi lại có thêm một lý do kép để dè chừng lính biên phòng và quan thuế, vì nếu ra trước vành móng ngựa, thể nào người ta cũng điều tra quá khứ. Mà trong quá khứ của tôi, người ta có thể moi ra những thứ còn trầm trọng hơn cả việc buôn lậu xì-gà hay dăm thùng rượu mạnh không giấy phép. Thế nên, thà chết chứ không để bị bắt, tôi đã thực hiện những phi vụ kinh hoàng nhất, và điều đó không chỉ một lần cho tôi thấy rằng việc chúng ta quá ư cưng chiều thể xác chính là vật cản duy nhất khiến những dự án đòi hỏi quyết định chớp nhoáng cùng sự thi hành quyết liệt, táo bạo đi đến thành công. Thực ra, một khi đã dâng hiến cả cuộc đời cho những hoài bão của mình, bạn không còn bình đẳng với những kẻ khác nữa, hay nói đúng hơn, những kẻ khác không còn ngang hàng với bạn, và bất cứ ai đã đưa ra quyết định đó đều cảm thấy sức mạnh và nguồn lực của mình như được nhân đôi.”
“Triết lý gớm nhỉ, ngài Bertuccio,” bá tước cắt lời; “trong đời ông thứ gì ông cũng thử qua một chút rồi đấy.”
“Ồ, thưa ngài!”
“Không, không; nhưng mang triết lý ra bàn lúc mười giờ rưỡi đêm thì hơi muộn màng đấy; dẫu sao tôi chẳng có ý kiến gì khác, vì những gì ông nói hoàn toàn chính xác, điều mà không phải thứ triết lý nào cũng đạt được.”
“Những chuyến đi của tôi ngày càng mở rộng và mang lại nhiều lợi nhuận hơn. Assunta lo toan mọi việc, và khối tài sản nhỏ của chúng tôi cứ thế phình lên. Một hôm, khi tôi chuẩn bị lên đường thực hiện một chuyến đi xa, cô ấy dặn: ‘Cứ đi đi; khi anh về em sẽ tặng cho một điều bất ngờ.’ Tôi gặng hỏi nhưng vô ích; cô ấy chẳng chịu hé lộ nửa lời, thế là tôi đành lên đường. Chuyến đi kéo dài gần sáu tuần lễ; chúng tôi đến Lucca lấy dầu ô-liu, sang Livorno mua bông vải Anh, trót lọt tuồn hàng vào bờ mà chẳng gặp sự kháng cự nào, rồi hân hoan trở về nhà. Khi bước chân qua ngưỡng cửa, đập vào mắt tôi đầu tiên ở giữa căn phòng của Assunta là một chiếc nôi trông có vẻ xa hoa nếu so với phần đồ đạc còn lại trong nhà, và nằm trong đó là một đứa bé bụ bẫm chừng bảy, tám tháng tuổi. Tôi bật thốt lên một tiếng kêu vui sướng; những khoảnh khắc buồn bã duy nhất mà tôi từng nếm trải kể từ vụ ám sát viên công tố chính là nỗi niềm dằn vặt vì đã bỏ rơi đứa trẻ này. Còn về vụ ám sát thì chưa bao giờ tôi cảm thấy mảy may cắn rứt. Tội nghiệp Assunta, cô ấy đã đoán ra tất cả. Tận dụng khoảng thời gian tôi vắng nhà, cầm theo mảnh vải lanh còn lại cùng ngày giờ mà tôi đã gửi đứa bé vào mái ấm, cô ấy đã đến tận Paris để đòi lại nó. Chẳng có sự phản đối nào, và đứa bé đã được giao lại cho cô. Ồ, thú thật với ngài, khi nhìn thấy sinh linh tội nghiệp ấy đang ngủ say sưa trong nôi, mắt tôi nhòa lệ. ‘Ái chà, Assunta,’ tôi thốt lên, ‘em đúng là một người phụ nữ tuyệt vời, và Thiên Chúa sẽ ban phước cho em.’”
“Thế này,” Monte Cristo nói, “thì kém phần chính xác hơn triết lý của ông rồi—đây chỉ thuần túy là đức tin thôi.”
“Than ôi, ngài bá tước nói rất phải,” Bertuccio đáp, “và Chúa đã dùng đứa trẻ này làm công cụ để trừng phạt chúng tôi. Chưa từng có một bản tính lệch lạc nào lại sớm bộc lộ đến thế, mặc dù nguyên nhân hoàn toàn không phải do cách giáo dục. Nó là một đứa trẻ vô cùng kháu khỉnh, với đôi mắt xanh to tròn, sâu thẳm rất hợp với làn da trắng; chỉ có điều mái tóc quá sáng màu khiến gương mặt nó mang một vẻ kỳ lạ khó tả, làm tăng thêm nét lanh lợi trong ánh nhìn cùng nụ cười đầy quỷ quyệt của nó.”
“Đáng tiếc thay, có câu tục ngữ rằng ‘tóc đỏ hoặc là cực tốt, hoặc là cực xấu.’ Câu tục ngữ ấy quả không sai chút nào khi áp dụng vào Benedetto, và ngay từ thuở lọt lòng, nó đã bộc lộ bản chất tồi tệ nhất. Thật ra một phần cũng do sự nuông chiều quá mức của người mẹ nuôi đã cổ súy cho nó. Đứa trẻ này, vì nó mà người chị tội nghiệp của tôi sẵn sàng lặn lội đến thị trấn cách đó năm, sáu dặm để mua cho bằng được những trái cây chín sớm nhất và món kẹo ngọt hấp dẫn nhất, lại thích ăn những quả hạt dẻ trộm từ vườn nhà hàng xóm hay táo khô trên gác mái hơn là nho Palma hay mứt Genoa dẫu nhà đầy rẫy những quả hạch và táo do chính tay tôi trồng trong vườn.”
“Có lần, khi Benedetto tầm năm, sáu tuổi, người hàng xóm Wasilio của chúng tôi—theo thói quen ở vùng quê này, chẳng bao giờ khóa ví hay cất giấu đồ quý giá, vì ngài biết đấy, ở Corse chẳng có trộm cắp—than thở rằng ông ta mất một đồng louis trong ví; chúng tôi cứ nghĩ ông ấy đếm nhầm tiền, nhưng ông ta cứ khăng khăng mình không nhớ sai. Một hôm, Benedetto bỏ nhà đi biệt tích từ sáng sớm khiến chúng tôi được một phen đứng ngồi không yên, đến tận đêm muộn mới lê thê lết về, kéo theo sau một con khỉ mà nó bảo nhặt được ở gốc cây. Hơn một tháng trời nay, cái thằng nhóc nghịch ngợm chẳng biết đường nào mà chiều chuộng ấy cứ khăng khăng đòi nuôi cho bằng được một con khỉ. Chắc là có một tay lái buôn ghé qua Rogliano mang theo mấy con vật này, với những trò hề ngộ nghĩnh của chúng đã làm nó thích thú và tiêm nhiễm vào đầu nó ý nghĩ đó. ‘Làm gì có chuyện trong rừng nhà chúng ta có khỉ bị xích vào gốc cây,’ tôi mắng: ‘khai mau, mày kiếm con vật này ở đâu ra?’ Benedetto vẫn cãi chày cãi cối, thêu dệt nên những chi tiết thể hiện trí tưởng tượng phong phú hơn là sự thành thật của nó. Tôi nổi giận đùng đùng; nó bắt đầu cười cợt, tôi dọa vả cho mấy cái, nó bèn lùi lại hai bước. ‘Ông không đánh tôi được đâu,’ nó nghênh mặt nói; ‘ông chẳng có quyền gì cả, vì ông đâu phải bố tôi.’”

“Chúng tôi chưa từng biết ai đã tiết lộ bí mật chết người mà chúng tôi đã cẩn trọng giấu kín suốt bao lâu nay; tuy nhiên, chính câu nói phơi bày toàn bộ bản chất xấc láo của đứa trẻ ấy đã khiến tôi hoảng hốt đến mức cánh tay đang giơ lên bỗng bủn rủn buông thõng xuống chẳng dám đụng đến nó một cái.”
“Thằng bé đắc chí ra mặt, và chiến thắng đó khiến nó càng thêm phần lộng hành đến mức toàn bộ số tiền của Assunta—người dường như càng thương nó hơn khi nó càng trở nên hư hỏng—đều nướng sạch vào những thói đòi hỏi bất thình lình mà cô chẳng biết làm sao để dập tắt, cùng những trò ngu ngốc mà cô không có đủ dũng khí để ngăn cản. Cứ mỗi lần tôi có mặt ở Rogliano là mọi chuyện đâu ra đấy, nhưng hễ tôi vừa quay lưng đi là Benedetto lên làm bá chủ và mọi thứ lại đâu vào đấy, hỏng bét. Mới mười một tuổi đầu, nó đã kết bè kết phái với những thanh niên mười tám, đôi mươi, toàn là những thành phần bất hảo nhất ở Bastia, hay nói đúng hơn là trên cả đảo Corse, và chúng đã bị cảnh cáo truy tố vài lần vì mấy trò phá phách tai quái. Tôi đâm lo lắng, vì bất kỳ lệnh truy tố nào cũng có thể kéo theo những hệ lụy nghiêm trọng. Vào thời điểm đó, tôi buộc phải rời đảo Corse trong một chuyến làm ăn quan trọng; tôi đắn đo suy tính rất lâu, và với hy vọng ngăn chặn một tai họa đang chực chờ, tôi quyết định mang theo Benedetto đi cùng.”
“Tôi thầm hy vọng cuộc sống bôn ba vất vả của một kẻ buôn lậu cùng kỷ luật thép trên thuyền sẽ có tác dụng uốn nắn lại tính cách của nó, vốn đã gần như, nếu không muốn nói là hoàn toàn, thối nát. Tôi gọi riêng Benedetto ra nói chuyện, ngỏ ý muốn nó đi theo và dụ dỗ nó bằng tất cả những hứa hẹn có sức hút nhất để lóa mắt một đứa trẻ mười hai tuổi. Nó kiên nhẫn lắng nghe, và khi tôi dứt lời, nó phì cười mỉa mai.”
‘Bộ ông điên rồi chắc, chú ơi?’ (nó thường gọi tôi bằng cái tên này mỗi khi vui vẻ); ‘ông tưởng con khôn ngoan đi đổi cái lối sống hiện tại để theo đuổi cái nghề của ông chắc—từ bỏ sự thản nhiên sung sướng để chịu đựng cảnh lao động nặng nhọc bấp bênh, chịu đựng cái lạnh cắt da ban đêm và cái nóng cháy da ban ngày, lúc nào cũng nơm nớp trốn chui trốn lủi, để rồi khi bị phát hiện lại ăn cả loạt đạn, tất cả chỉ vì một nhúm tiền cỏn con á? Thôi đi, con thích bao nhiêu tiền chẳng có; mẹ Assunta lúc nào chẳng sẵn sàng dâng hiến khi con mở miệng xin! Ông thấy đấy, con có điên mới đi nhận lời đề nghị của ông.’”
“Những lý lẽ cùng sự xấc xược của nó làm tôi điếng người hoàn toàn. Benedetto quay lưng đi về phía đồng bọn, còn tôi đứng từ xa nhìn nó chỉ chỏ tôi với chúng như một thằng ngốc.”
“Đứa trẻ đáng yêu thật đấy,” Monte Cristo lẩm bẩm.
“Ồ, giả sử nó là con ruột của tôi,” Bertuccio đáp, “hay thậm chí là cháu ruột đi nữa, tôi đã kéo nó trở lại con đường chính đạo rồi, vì ý thức đang làm tròn bổn phận sẽ cho bạn sức mạnh, nhưng ý nghĩ rằng mình đang đánh đòn một đứa bé mà chính tay mình đã giết cha nó khiến tôi không sao tài nào trừng phạt nổi. Tôi đành dặn dò cẩn thận người chị gái—người vẫn luôn bênh vực đứa trẻ bất hạnh ấy—rồi vì cô thú nhận đã mấy lần bị mất trộm một khoản tiền lớn, tôi chỉ cho cô chỗ cất giấu an toàn để giữ gìn kho báu nhỏ của chúng tôi sau này. Tâm trí tôi lúc đó đã quyết định xong xuôi. Benedetto đọc thạo, viết thạo và tính toán siêu việt, vì hễ hứng lên là nó học trong một ngày bằng người ta học cả tuần. Ý định của tôi là gửi nó làm thủy thủ tập sự trên một con tàu nào đó, và không hé lộ nửa lời về kế hoạch này, tôi sẽ tống cổ nó lên boong vào một sáng đẹp trời; bằng cách đó, tương lai sau này của nó sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào cách cư xử của chính nó. Tôi lên đường sang Pháp sau khi đã vạch sẵn kế hoạch. Lô hàng của chúng tôi phải được cập bến ở Vịnh Lyon, và đây là một việc vô cùng khó khăn vì khi ấy đã là năm 1829. Sự yên bình tuyệt đối đã được lập lại, sự cảnh giác của lực lượng quan thuế được thắt chặt hơn bao giờ hết, và mức độ nghiêm ngặt cũng gia tăng đáng kể trong thời gian diễn ra hội chợ Beaucaire.”

“Chuyến đi của chúng tôi có một khởi đầu thuận lợi. Chúng tôi thả neo chiếc thuyền—với hai lớp khoang đôi để cất giấu hàng lậu—giữa vô số tàu thuyền khác neo đậu san sát ven bờ sông Rhône từ Beaucaire đến Arles. Ngay khi vừa đến nơi, chúng tôi bắt đầu bốc dỡ hàng hóa vào ban đêm, chuyển sâu vào trong thị trấn nhờ sự tiếp tay của lão chủ quán trọ quen thuộc.”
“Chẳng biết do thắng lợi làm chúng tôi đâm ra chủ quan hay vì có kẻ phản bội; nhưng vào một buổi chiều, tầm năm giờ, cậu thủy thủ vặt hớt hải chạy đến báo rằng hắn vừa trông thấy một đội quan thuế đang tiến về hướng chúng tôi. Không phải sự xuất hiện của họ làm chúng tôi hoảng hốt, vì các toán tuần tra vẫn thường xuyên rảo bước dọc bờ sông Rhône, mà là sự cẩn trọng rón rén để tránh bị phát hiện của họ, theo lời cậu bé kể. Ngay lập tức chúng tôi vào trạng thái báo động, nhưng đã quá muộn; chiếc thuyền đã bị bao vây tứ phía, và lấp ló giữa đám quan thuế, tôi nhận ra vài tên lính biên phòng. Vốn khiếp sợ quân phục của bọn chúng chẳng kém gì sự gan lì trước bất kỳ thế lực nào khác, tôi lao ngay xuống khoang tàu, mở tung một ô cửa mạn rồi nhảy ù xuống dòng sông, lặn ngụp và chỉ trỗi đầu lên thở những khoảng ngắt quãng cho đến khi bơi được vào một con mương mới đào nối từ sông Rhône sang kênh đào chạy từ Beaucaire đến Aigues-Mortes. Lúc này tôi đã an toàn, vì tôi có thể bơi dọc con mương mà không bị ai phát hiện, và cập bến kênh đào suôn sẻ. Tôi đã có tính toán từ trước khi chọn hướng này. Tôi từng thưa với ngài về gã chủ quán trọ ở Nîmes, kẻ đã dựng lên một tửu quán nhỏ ven con đường từ Bellegarde đi Beaucaire rồi cơ mà.”
“Đúng,” Monte Cristo nói, “tôi nhớ rất rõ; hình như đó là đồng bọn của ông.”
“Chính xác,” Bertuccio đáp; “nhưng độ bảy, tám năm trước, hắn đã sang nhượng lại quán cho một thợ may ở Marseille—kẻ gần như sạt nghiệp ở nghề cũ và muốn đổi đời sang nghề mới. Dĩ nhiên, chúng tôi cũng đạt được những thỏa thuận tương tự với chủ mới y như với chủ cũ; và chính tại gã này, tôi định bụng sẽ ghé vào xin trú ẩn.”
“Hắn tên là gì?” bá tước hỏi, có vẻ bắt đầu hứng thú với câu chuyện của Bertuccio.
“Gaspard Caderousse; hắn cưới một người phụ nữ làng Carconte, và chúng tôi chẳng biết gọi cô ta bằng cái tên nào khác ngoài tên ngôi làng ấy. Cô ta đang mắc bệnh sốt rét rừng và tiều tụy dần mòn theo năm tháng. Còn chồng cô ta là một gã đàn ông vạm vỡ tầm bốn lăm tuổi, kẻ từng không dưới một lần trong hoàn cảnh nguy cấp chứng minh được sự bình tĩnh và lòng dũng cảm của mình.”
“Và ông bảo rằng,” Monte Cristo ngắt lời, “chuyện này diễn ra vào khoảng năm——”
“1829, thưa ngài.”
“Vào tháng mấy?”
“Tháng Sáu.”
“Đầu hay cuối tháng?”
“Chiều mùng Ba.”

“À,” Monte Cristo nói, “chiều ngày 3 tháng 6 năm 1829. Cứ kể tiếp đi.”
“Chính tại nhà Caderousse, tôi định bụng sẽ xin tá túc, và vì chúng tôi chưa bao giờ bước vào qua cánh cửa mở ra phía mặt đường, tôi quyết định không phá vỡ quy tắc đó; thế nên tôi trèo qua hàng rào vườn, luồn lách giữa những tán ô-liu và sung dại, rồi sợ rằng Caderousse có khách khứa, tôi tạt vào một cái chòi cũ nơi tôi từng tá túc qua đêm nhiều lần, chỉ ngăn cách với quán trọ bằng một vách ván có đục sẵn mấy lỗ nhỏ để tiện bề quan sát mỗi khi muốn báo hiệu sự hiện diện của mình.”
“Ý định của tôi là, nếu Caderousse ở một mình, tôi sẽ báo cho lão biết sự có mặt của mình, hoàn tất bữa ăn còn dang dở bị đám quan thuế quấy rầy, rồi tận dụng cơn giông đang vần vũ để quay lại sông Rhône thăm dò tình hình thuyền bè cùng thủy thủ đoàn. Tôi bước vào trong chòi, và thật may mắn vì tôi đã làm vậy, bởi đúng lúc ấy Caderousse bước vào cùng với một người lạ mặt.”
“Tôi kiên nhẫn chờ đợi, không phải để hóng hớt xem họ nói gì, mà vì tôi chẳng thể làm gì khác; vả lại, chuyện này cũng từng xảy ra như cơm bữa trước kia rồi. Kẻ đi cùng Caderousse rõ ràng là một người khách lạ đến từ miền Bắc nước Pháp; hắn là một trong những tay buôn trang sức thường đổ về hội chợ Beaucaire, và trong suốt tháng diễn ra hội chợ—khoảng thời gian mà thương nhân lẫn khách hàng từ khắp nơi châu Âu đổ xô về nườm nượp—chúng thường có những giao dịch lên đến hàng trăm nghìn quan. Caderousse hớt hải bước vào. Thấy căn phòng trống trơn như mọi khi và chỉ có con chó canh gác, lão gọi với lên lầu: ‘Này Carconte,’ lão hô, ‘vị tu viện trưởng đáng kính đã không lừa chúng ta đâu; viên kim cương là thật đấy.’”
“Một tiếng reo vui vang lên, và tiếng bước chân lệt xệt yếu ớt cọt kẹt trên cầu thang. ‘Ông nói gì thế?’ vợ lão cất tiếng hỏi, mặt cắt không còn giọt máu.”
‘Tôi bảo viên kim cương là thật, và vị quý ông đây, một trong những thợ kim hoàn hàng đầu Paris, sẽ trả chúng ta 50.000 quan. Chỉ có điều, để chắc chắn đó thực sự là vật sở hữu của chúng ta, ngài ấy muốn vợ chồng mình kể lại cho nghe cơ duyên kỳ diệu nào đã đưa viên kim cương rơi vào tay chúng ta, hệt như tôi đã kể nãy giờ ấy. Trong lúc đó, xin mời ngài ngồi xuống, tôi đi lấy chút nước uống cho ngài.’
Viên kim hoàn đảo mắt quan sát kỹ lưỡng khung cảnh bên trong quán trọ và sự nghèo túng hiển hiện của những kẻ sắp bán cho hắn một viên kim cương tựa như được lấy ra từ tráp báu của hoàng gia.
‘Xin mời bà kể câu chuyện đi,’ hắn nói, chắc hẳn muốn tranh thủ lúc vắng chồng để người vợ không bị chi phối, nhằm kiểm tra xem lời khai của hai vợ chồng có khớp nhau không.
‘Ồ,’ mụ ta đáp, ‘đó là món quà từ thiên đường. Chồng tôi từng là chỗ thân tình vào năm 1814 hoặc 1815 với một thủy thủ tên là Edmond Dantès. Tội nghiệp anh chàng đó, dù Caderousse đã quên bẵng đi nhưng vẫn nhớ đến ân nhân, và trước khi chết, anh ta đã để lại viên kim cương này cho chúng tôi.’
‘Nhưng làm quái nào anh ta lại có được nó?’ viên kim hoàn gặng hỏi; ‘anh ta có nó trước khi bị bắt giam à?’
‘Không thưa ngài; nhưng hình như trong tù anh ta kết thân với một nhà quý tộc Anh giàu có, và vì trong ngục anh ta ngã bệnh rồi được Dantès tận tình chăm sóc như anh em ruột thịt, nên khi được trả tự do, vị người Anh ấy đã tặng viên đá quý này cho Dantès. Đáng thương thay, anh ấy lại qua đời và để lại nó cho chúng tôi, đồng thời ủy thác cho vị tu viện trưởng khả kính ghé qua đây sáng nay mang đến tận tay.’”
‘Cùng một câu chuyện,’ viên kim hoàn lẩm bẩm; ‘dù ban đầu nghe có vẻ vô lý nhưng hoàn toàn có thật. Chỉ có điều giá cả thì chúng ta chưa thống nhất được với nhau.’
‘Sao lại chưa thống nhất?’ Caderousse cự nự. ‘Tôi tưởng chúng ta đã chốt mức giá tôi đưa ra rồi chứ.’
‘Ý tôi là,’ viên kim hoàn đáp, ‘tôi chỉ trả 40.000 quan thôi.’
‘Bốn mươi nghìn á,’ La Carconte hét lên; ‘chúng tôi không đời nào bán với giá đó đâu. Vị tu viện trưởng bảo nó đáng giá tận 50.000 quan chưa tính tiền ổ đỡ cơ mà.’
‘Vị tu viện trưởng đó tên gì nhỉ?’ kẻ chất vấn không biết mệt mỏi hỏi lại.
‘Tu viện trưởng Busoni,’ La Carconte đáp.
‘Hắn là người nước ngoài à?’
‘Là một người Ý vùng lân cận Mantua thì phải.’
‘Cho tôi xem lại viên kim cương đó xem nào,’ viên kim hoàn đòi hỏi; ‘đôi khi lần đầu tiên người ta rất hay nhầm lẫn về giá trị của đá quý.’”
“Caderousse móc từ trong túi ra một chiếc hộp nhỏ bằng da nhám màu đen, bật mở rồi trao cho viên kim hoàn. Vừa thoáng thấy viên kim cương to cỡ hạt dẻ, mắt La Carconte liền sáng rực lên vì tham lam.”
“Và ông nghĩ sao về câu chuyện hay ho đó, hỡi kẻ lén nghe trộm?” Monte Cristo nói; “ông có tin nó không?”
“Vâng, thưa ngài. Tôi không coi Caderousse là kẻ xấu, và tôi nghĩ lão ta không đủ tàn độc để phạm tội hay thậm chí là trộm cắp.”
“Điều đó chứng tỏ trái tim ông nhân hậu hơn là từng trải đấy, ngài Bertuccio. Thế ông có quen biết cái tay Edmond Dantès được nhắc đến kia không?”
“Không, thưa ngài, trước đó tôi chưa từng nghe nói đến hắn, và chỉ nghe nhắc lại đúng một lần sau đó, chính là từ miệng tu viện trưởng Busoni khi tôi gặp ngài trong nhà tù ở Nîmes.”
“Cứ kể tiếp đi.”
“Viên kim hoàn cầm chiếc nhẫn, rút từ trong túi ra một cặp kìm thép nhỏ cùng một bộ cân đồng mini, khéo léo gỡ viên đá ra khỏi ổ rồi cẩn thận đặt lên đĩa cân.”
‘Tôi sẽ trả 45.000 quan,’ hắn nói, ‘nhưng không hơn một xu; với lại, vì đó là giá trị chính xác của viên đá nên tôi mới mang đúng số tiền đó theo người.’
‘Ồ, chuyện đó không thành vấn đề,’ Caderousse đáp, ‘tôi sẽ đi cùng ngài về lấy nốt 5.000 quan còn lại.’
‘Không,’ viên kim hoàn đáp, trao trả lại viên kim cương và chiếc nhẫn cho Caderousse, ‘không, nó chẳng đáng giá hơn đâu, và tôi tiếc vì đã hứa trả cao như thế, bởi viên đá có một vết rạn mà lúc nãy tôi không nhìn kỹ. Dù sao thì tôi cũng đã hứa là không nuốt lời, tôi sẽ trả 45.000 quan.’
‘Ít ra thì cũng phải gắn lại viên kim cương vào nhẫn chứ,’ La Carconte hậm hực nói.
‘À, đúng rồi,’ viên kim hoàn đáp, rồi lắp lại viên đá vào chỗ cũ.
‘Chẳng sao cả,’ Caderousse nói, nhét chiếc hộp vào túi, ‘sẽ có người khác mua nó thôi.’
‘Đúng thế,’ viên kim hoàn tiếp lời; ‘nhưng người khác sẽ không dễ tính như tôi đâu, hay dễ dãi tin ngay cái câu chuyện đó. Việc một kẻ như anh lại sở hữu viên kim cương thế này là điều bất thường. Họ sẽ đi tố cáo anh. Anh sẽ phải lặn lội đi tìm tu viện trưởng Busoni; mà mấy vị tu viện trưởng hào phóng tặng cả kim cương trị giá hai nghìn louis thì hiếm có khó tìm lắm. Pháp luật sẽ tịch thu nó và tống anh vào tù; nếu sau ba, bốn tháng mà anh được thả ra, thì chiếc nhẫn đã mất tiêu, hoặc người ta sẽ nhét vào tay anh một viên đá giả trị giá ba xu thay vì viên kim cương đáng giá 50.000 hoặc có khi 55.000 quan; từ đó anh phải thừa nhận rằng mua bán thế này rủi ro lắm chứ bộ.’”
“Caderousse và vợ đăm đăm nhìn nhau đầy vẻ đắn đo.”
‘Thôi được,’ Caderousse nói, ‘chúng ta không giàu có gì mà vứt đi 5.000 quan cả.’
‘Tùy anh thôi, bạn hiền ạ,’ viên kim hoàn nói; ‘dẫu sao, như anh thấy đấy, tôi đã mang sẵn tiền mặt đến đây rồi.’ Và hắn móc từ trong túi ra một nắm tiền vàng, khua lảng lách cách trước cặp mắt đang lóa lên của gã chủ quán, tay kia cầm theo một xấp tiền giấy.”
“Rõ ràng đang có một cuộc giằng xé nội tâm dữ dội diễn ra trong đầu Caderousse; người ta thấy rõ chiếc hộp da nhám nhỏ bé mà lão cứ xoay đi xoay lại trong tay có vẻ như không thể sánh kịp với số tiền khổng lồ đang hút hồn lão. Lão quay sang nhìn vợ.”
‘Em thấy thế nào?’ lão thì thầm.
‘Bán đi—bán quách cho rồi,’ mụ đáp. ‘Nếu hắn quay lại Beaucaire mà không có viên kim cương, hắn sẽ tố cáo chúng ta, và như hắn nói, ai mà biết được chúng ta còn có cơ hội gặp lại tu viện trưởng Busoni nữa không?—xác suất cao là chẳng bao giờ thấy mặt ngài ấy nữa đâu.’
‘Thế thì chốt vậy nhé!’ Caderousse nói; ‘vậy anh có thể lấy viên kim cương với giá 45.000 quan. Nhưng vợ tôi muốn một sợi dây chuyền vàng, còn tôi muốn một cặp khóa giày bằng bạc.’”
“Viên kim hoàn rút từ trong túi ra một chiếc hộp dẹt dài đựng mấy mẫu trang sức theo yêu cầu. ‘Đây,’ hắn nói, ‘tôi làm ăn rất sòng phẳng—cứ tùy ý chọn lựa đi.’”
“Người phụ nữ chọn một sợi dây chuyền vàng trị giá khoảng năm đồng louis, còn người chồng chọn cặp khóa giày giá tầm mười lăm quan.”
‘Hy vọng bây giờ anh không còn gì để phàn nàn nữa chứ?’ viên kim hoàn hỏi.
‘Vị tu viện trưởng bảo nó đáng giá tận 50.000 cơ mà,’ Caderousse lầm bầm.
‘Thôi nào—đưa đây nhanh lên! Đúng là một gã kỳ cục,’ viên kim hoàn nói, giật lấy viên kim cương từ tay lão. ‘Tôi trả 45.000 quan—tức là hai nghìn rưỡi livret tiền lãi mỗi năm,—một gia tài mà ước gì tôi cũng có được cho riêng mình, thế mà anh vẫn chưa vừa lòng ư!’”
‘Còn bốn mươi lăm nghìn quan đâu?’ Caderousse cất giọng khàn đặc hỏi, ‘đâu rồi? Mau—cho chúng tôi xem nào.’
‘Đây chứ đâu,’ viên kim hoàn đáp, rồi đếm ra bàn 15.000 quan tiền vàng và 30.000 quan tiền giấy.”
‘Đợi tôi thắp ngọn đèn lên đã,’ La Carconte lên tiếng; ‘trời sẩm tối rồi, đếm nhầm thì nguy.’ Quả thật, đêm đã buông xuống từ lúc nào trong suốt cuộc ngã giá này, đi kèm với nó là cơn giông bão đã lăm le suốt nửa tiếng qua. Sấm gầm ì oèo từ đằng xa; nhưng dường như cả viên kim hoàn, Caderousse lẫn La Carconte đều chẳng mảy may hay biết, mải mê chìm đắm trong bùa chú của con quỷ tham lam. Bản thân tôi cũng cảm thấy một thứ bùa mê kỳ lạ trước đống vàng bạc tiền giấy ngồn ngộn ấy; tôi có cảm giác mình đang mơ, và hệt như trong những giấc mơ, chân tay tôi cứ dính chặt xuống đất chẳng dịch chuyển nổi. Caderousse hết đếm đi đếm lại số vàng và tiền giấy rồi giao lại cho vợ, để mụ ta lại lặp lại màn đếm đi đếm lại từ đầu. Trong lúc đó, viên kim hoàn cứ ngắm nghía cho viên kim cương lấp lánh dưới ánh đèn, mặc cho những tia sáng lóe lên từ viên ngọc làm hắn quên bẵng đi những tia chớp—báo hiệu cơn giông—đang lóe lên ngoài khung cửa.”
‘Thế nào,’ viên kim hoàn hỏi, ‘tiền đủ chưa?’
‘Đủ rồi,’ Caderousse nói. ‘La Carconte, đưa tôi cái ví da rồi kiếm cái túi nào đựng vào đi.’”
“La Carconte lật đật chạy ra chiếc tủ chạn, quay lại với một chiếc ví da cũ kỹ và một cái túi vải. Từ trong chiếc ví, mụ rút ra vài lá thư nhàu nát nhét tiền giấy vào thay thế, còn từ chiếc túi lấy ra hai, ba đồng xu sáu livre, thứ có lẽ là toàn bộ gia tài của đôi vợ chồng khốn cùng này.”
‘Đấy,’ Caderousse nói; ‘và giờ, dẫu ngài có hớt mất của chúng tôi khoảng 10.000 quan, ngài có muốn ở lại ăn tối cùng vợ chồng tôi không? Tôi chân thành mời ngài đấy.’”
‘Cảm ơn,’ viên kim hoàn từ chối, ‘trời chắc muộn lắm rồi, tôi phải về Beaucaire kẻo vợ ở nhà lại lo lắng.’ Hắn với lấy cây gậy dựng cạnh chiếc tủ cũ rồi bước ra. Vừa mở cửa ra, một trận gió thốc mạnh đến nỗi ngọn đèn gần như tắt ngấm. ‘Chà,’ hắn lẩm bẩm, ‘thời tiết đẹp thế không biết, giữa cơn giông bão này mà phải lết bộ hai cây số.’”
‘Ở lại đây đi,’ Caderousse cất tiếng. ‘Ngài có thể ngủ qua đêm ở đây mà.’
‘Đúng đấy; ở lại đi,’ La Carconte phụ họa bằng giọng run run; ‘chúng tôi sẽ chăm sóc chu đáo cho ngài.’”
‘Không; tôi phải về ngủ ở Beaucaire. Vậy một lần nữa, chúc ngủ ngon nhé.’ Caderousse lững thững bước theo hắn ra tận ngưỡng cửa. ‘Tôi chẳng thấy đường trời hay đường đất gì nữa rồi,’ viên kim hoàn đứng bên ngoài lẩm bẩm. ‘Tôi phải rẽ phải hay rẽ trái đây?’”

‘Rẽ phải,’ Caderousse đáp. ‘Cứ đường thẳng hai hàng cây mà đi, chẳng lạc đi đâu được.’”
‘Hay lắm—được rồi,’ một giọng nói chìm nghỉm dần vào khoảng không gian xa tắp.”
‘Đóng cửa lại đi,’ La Carconte giục; ‘tôi không thích cái cửa mở toang hoác lúc sấm chớp thế này chút nào.’”
‘Nhất là khi trong nhà đang có tiền của, phải không?’ Caderousse đáp, vặn khóa hai vòng chắc chắn.”
“Lão bước vào nhà, tiến đến cái tủ, lôi cái túi và chiếc ví da ra, thế là cả hai lại cắm cúi đếm số vàng và tiền giấy ấy thêm một lần thứ ba. Chưa bao giờ tôi chứng kiến cái nét tham lam tột độ hằn lên qua ánh đèn chập chờn trên gương mặt của hai con người ấy đến thế. Người đàn bà đặc biệt trông vô cùng gớm ghiếc; cái chứng run rẩy vì sốt rét của mụ ta giờ càng dữ dội hơn, gương mặt tái mét, đôi mắt trừng trừng như hai cục than hồng.”
‘Tại sao,’ mụ khàn giọng hỏi, ‘ông lại mời hắn ngủ lại đây đêm nay cơ chứ?’”
‘Tại sao ư?’ Caderousse rùng mình đáp; ‘thì... để hắn đỡ phải lật đật quay về Beaucaire chứ sao.’”
‘Ảo thế,’ mụ phụ nữ đáp với một điệu bộ không sao tả xiết; ‘tôi cứ tưởng là vì mục đích khác cơ.’”
‘Bà xã—sao lúc nào bà cũng nghĩ ra mấy cái trò quái gở thế hả?’ Caderousse hét lên; ‘hoặc nếu có nghĩ thì giữ chặt trong mồm ấy, đừng có mà lói ra!’”
‘Thôi đi,’ La Carconte ngập ngừng giây lát rồi nói, ‘ông chẳng đáng mặt đàn ông gì cả.’”
‘Ý bà là gì?’ Caderousse hỏi dồn.”
‘Mà nếu là một thằng đàn ông đích thực, ông đã chẳng dại dột thả cho hắn đi khỏi đây.’”
‘Bà điên rồi!’”

‘Hoặc chí ít thì hắn cũng đừng hòng đặt chân đến được Beaucaire.’”
‘Bà xã!—bà đang phạm tội ác quỷ với Thượng đế đấy. Nghe kìa!—nghe cho thủng tai đi!’”
Và đúng lúc đó, một tiếng sấm sét đinh tai nhức óc vang lên, đồng thời ánh chớp xanh rờn chiếu rọi căn phòng, còn tiếng sấm rền vang vọng từ đằng xa như không cam tâm rời khỏi chốn nguyền rủa này. ‘Chúa từ bi!’ Caderousse vừa thốt lên vừa vội vã làm dấu thánh giá.”
“Cùng lúc ấy, giữa bầu không khí tĩnh mịch rợn ngợp thường xuất hiện sau những tràng sấm sét, họ nghe thấy tiếng gõ cửa. Caderousse và vợ giật bắn người, hoảng hốt nhìn nhau trân trân.”
‘Ai đấy?’ Caderousse cất giọng run rẩy hỏi, vội vùng đứng dậy, vơ trọn đống vàng và tiền giấy đang vung vãi trên bàn giấu tiệt dưới hai bàn tay.”
‘Là tôi đây,’ một giọng nói vọng vào.”
‘Thế anh là ai?’”
‘Cha chả! Joannes, thợ kim hoàn đây mà.’”
‘Thấy chưa, ông cứ bảo tôi xúc phạm Chúa đi,’ La Carconte cười gằn một cách đáng sợ. ‘Chính Chúa lại sai hắn quay lại tìm chúng ta đấy chứ.’” Caderousse tái mét, thở hồng hộc ngã vật xuống ghế.”
“Ngược lại, La Carconte đứng phắt dậy, bước những bước chắc nịch ra cửa, mở toang ra và cất tiếng chào:”
‘Xin mời ngài Joannes quý mến bước vào.’”
‘Trời đất quỷ thần ơi,’ viên kim hoàn ướt sũng nước mưa than thở, ‘tôi đúng là không có cái số về Beaucaire tối nay rồi. Vắn tắt dứt khoát vẫn hơn, ngài Caderousse ạ. Ngài đã hảo tâm mời mọc, tôi xin chấp nhận và quay lại xin túc xá dưới mái ấm thân tình của các ngài đây.’”
“Caderousse ấp úng vài câu trong lúc vội vã lau mồ hôi vã ra như tắm trên trán. La Carconte nhanh tay khóa chặt hai vòng cửa ngay sau lưng viên kim hoàn.”
