Franz đã khéo léo sắp xếp lộ trình sao cho trên đường tới đấu trường Colosseum, họ không đi qua bất kỳ tàn tích cổ nào. Nhờ vậy, không có ấn tượng ban đầu nào chen vào làm suy giảm quy mô hùng vĩ của công trình khổng lồ mà họ sắp chiêm ngưỡng. Con đường được chọn là phần nối tiếp của Via Sistina; sau đó rẽ ngang qua góc vuông của con phố có nhà thờ Santa Maria Maggiore, đi tiếp qua Via Urbana và San Pietro in Vincoli, hai lữ khách sẽ thấy mình đứng ngay trước đấu trường Colosseum.
Hành trình này còn có một lợi thế lớn khác — đó là để cho Franz hoàn toàn tự do chìm đắm trong dòng suy tư sâu sắc về câu chuyện của Signor Pastrini, nơi mà người chủ nhân bí ẩn ở Monte Cristo có sự liên quan kỳ lạ. Ngồi khoanh tay ở một góc xe, cậu tiếp tục ngẫm nghĩ về câu chuyện kỳ quái mà mình vừa mới được nghe, đồng thời tự đặt ra vô số câu hỏi liên quan đến các tình tiết của nó, dù chẳng thể tìm ra câu trả lời thỏa đáng cho bất kỳ câu hỏi nào.
Có một chi tiết hơn hẳn những điều khác đã kéo người bạn "Thủy thủ Sinbad" của cậu trở lại trong ký ức, đó chính là thứ thân mật bí ẩn dường như tồn tại giữa bọn cướp và đám thủy thủ; và lời kể của Pastrini về việc Vampa từng tìm được chốn dung thân trên các con tàu của bọn buôn lậu lẫn ngư dân đã gợi cho Franz nhớ đến hai tên cướp biển xứ Corsica mà cậu từng bắt gặp đang thản nhiên ăn tối cùng thủy thủ đoàn của chiếc du thuyền nhỏ — con chiếc thuyền thậm chí đã đổi hướng và ghé qua Porto-Vecchio chỉ với mục đích duy nhất là thả chúng lên bờ. Chính cái tên mà người chủ nhà ở Monte Cristo của cậu đã tự nhận, và rồi lại được chủ khách sạn Hôtel de Londres nhắc lại, chứng minh hùng hồn rằng người bạn trên đảo của cậu cũng đang đóng vai trò thiện nguyện ở các bờ biển Piombino, Civita Vecchia, Ostia và Gaëta, giống như trên những vùng đất Corsica, Tuscany và Tây Ban Nha; và hơn thế nữa, Franz sực nhớ lại việc mình từng nghe người chủ nhà kỳ lạ ấy nhắc đến cả Tunis và Palermo, qua đó cho thấy vòng quan hệ của người đó rộng lớn đến nhường nào.
Nhưng dù tâm trí chàng thanh niên có mải mê chìm đắm trong những suy ngẫm ấy đến đâu chăng nữa, chúng cũng lập tức tan biến khi trước mắt họ hiện lên những tàn tích sẫm màu, đầy vẻ uy nghiêm của đấu trường Colosseum vĩ đại, nơi qua những ô cửa trống trải, ánh trăng nhợt nhạt rọi chiếu và lấp lánh như thứ ánh sáng phi trần gian phát ra từ đôi mắt của những hồn ma lang thang. Chiếc xe dừng lại gần đài Meta Sudans; cửa xe mở ra, hai chàng trai hào hứng bước xuống và thấy mình đứng trước một hướng dẫn viên du lịch xuất hiện bất ngờ cứ như từ dưới đất chui lên.
Do hướng dẫn viên thường trực ở khách sạn đã đi theo họ, họ đành phải trả tiền cho cả hai người hướng dẫn, và ở Roma thì chẳng tài nào tránh khỏi tình trạng dư thừa hướng dẫn viên thế này; ngoài tay thuyết minh thông thường chộp lấy bạn ngay khi bạn đặt chân đến khách sạn và không bao giờ rời nửa bước cho đến khi bạn rời khỏi thành phố, còn có một hướng dẫn viên đặc biệt thuộc về từng di tích — thậm chí gần như thuộc về từng góc nhỏ của di tích ấy. Do đó, có thể dễ dàng hình dung rằng chẳng hề thiếu người hướng dẫn tại đấu trường Colosseum, kỳ quan của muôn đời mà thi sĩ Martial đã hết lời ca ngợi:
“Hãy để Memphis thôi khoe khoang những kỳ tích dã man của các kim tự tháp, và đừng ai nhắc đến những kỳ quan của Babylon nữa; tất cả đều phải cúi đầu trước sự vĩ đại của công trình khổng lồ do các hoàng đế Julius Caesar dựng nên, và muôn ngàn lời ca tụng của Nữ thần Danh tiếng sẽ lan truyền xa gần giá trị vượt trội của di tích có một không hai này.”
Về phần Albert và Franz, họ chẳng hề mưu toan trốn chạy khỏi những kẻ bạo chúa chuyên thuyết minh ấy; và quả thực, việc rứt khỏi gông cùm của chúng lại càng khó khăn hơn bội phần, bởi chỉ có các hướng dẫn viên mới được phép mang theo đuốc khi tham quan những di tích này. Thế là hai chàng trai chẳng thèm kháng cự, mà cứ thế mù quáng và đầy tin tưởng phó mặc bản thân vào sự chăm sóc, dẫn dắt của những người hướng dẫn.
Franz đã từng có bảy, tám chuyến tham quan tương tự tới đấu trường Colosseum, trong khi người bạn kém may mắn hơn thì đây là lần đầu tiên trong đời đặt chân lên mảnh đất cổ kính tạo nên công trình của Flavius Vespasian; và phải công nhận rằng, ngay cả giữa lúc đám hướng dẫn viên huyên náo không ngừng, tâm trí Albert vẫn thực sự rung động sâu sắc bởi nỗi kinh ngạc và niềm ngưỡng mộ nồng nhiệt đối với mọi thứ trước mắt. Quả thực, chẳng thể có được hình dung đầy đủ nào về những tàn tích vĩ đại này nếu không tận mắt viếng thăm chúng, nhất là dưới ánh trăng, thời điểm mà quy mô to lớn của tòa cồng trình dường như nhân đôi khi được nhìn qua thứ ánh sáng huyền ảo của bầu trời trăng phương Nam — thứ ánh sáng đủ trong trẻo và rực rỡ để nhuộm sáng cả chân trời với một vầng hào quang tựa như hoàng hôn dịu ngọt của miền khí hậu phương Tây.
Do đó, vừa đi chưa được một trăm bước dưới những dãy hiên vòm bên trong tàn tích, Franz liền bỏ mặc Albert cho đám hướng dẫn viên — những kẻ quyết không chịu từ bỏ quyền lợi đương nhiên là dắt các "nạn nhân" của mình đi theo một lộ trình được sắp đặt sẵn và lôi tuột vị khách bất đắc dĩ đến các điểm tham quan với một sự lì lợm chẳng tài nào chối từ, bắt đầu từ "Chuồng Sư tử", "Sảnh Đấu sĩ" và kết thúc bằng "Khán đài của Caesar" — để thoát khỏi mớ âm thanh hỗn độn và kiểu tham quan máy móc những kỳ quan xung quanh, Franz liền rảo bước lên một chiếc cầu thang đã đổ nát một nửa. Bỏ mặc họ tiếp tục vòng tham quan đơn điệu ấy, cậu ngồi xuống chân một cột trụ và ngay trước một ô trống lớn, nơi cho phép cậu tận hưởng trọn vẹn và yên bình tầm nhìn khoáng đạt về kích thước khổng lồ của tòa tàn tích uy nghi.
Franz đã ngồi gần một phần tư giờ, hoàn toàn ẩn khuất trong bóng râm của chiếc cột khổng lồ nơi chân móng mà cậu chọn làm chỗ nghỉ chân, và từ đó mắt cậu dõi theo cử động của Albert cùng đám hướng dẫn viên. Họ cầm đuốc trên tay, vừa ngoi lên từ một lối đi ngầm ở tận đầu bên kia của đấu trường Colosseum rồi lại khuất dạng xuống những bậc thang dẫn đến hàng ghế dành riêng cho các trinh nữ Vestal; khi lướt đi, trông họ chẳng khác nào những bóng ma vẩn vơ đang dõi theo ánh lửa chập chờn của vô số ngọn trơi trơi.
Bỗng nhiên, tai cậu bắt được một âm thanh tựa như tiếng hòn đá lăn lộc cộc xuống bậc thang nằm đối diện với lối cầu thang mà cậu vừa bước lên. Chẳng có gì lạ lùng trong việc một mảnh đá hoa cương bong ra và rơi nặng nề xuống phía dưới; nhưng cậu có cảm giác rằng vật thể rơi xuống ấy bị trúng phải sức nặng của một bàn chân, và hình như có ai đó đang cố gắng hết sức để tránh không phát ra tiếng bước chân khi tiến đến nơi cậu đang ngồi.
Những phỏng đoán chẳng mấy chốc đã trở thành sự thật, khi bóng dáng một người đàn ông dần hiện rõ trước mắt Franz từ chiếc cầu thang đối diện — nơi vào khoảnh khắc đó, ánh trăng đang đổ xuống một dòng thác rực rỡ sắc bạc.
Kẻ lạ mặt xuất hiện lúc này có lẽ cũng giống như Franz, là một người ưa chuộng sự cô độc và những suy ngẫm của riêng mình hơn là thứ âm thanh nhảm nhí, phù phiếm của đám hướng dẫn viên. Sự xuất hiện của hắn chẳng có gì là khác thường; thế nhưng thái độ rụt rè, chần chừ trong từng bước đi, cứ đi một quãng lại dừng lại lắng nghe với vẻ chú ý cao độ, đã khiến Franz tin chắc rằng hắn đang chờ đợi sự xuất hiện của ai đó.
Theo một thứ phản xạ bản năng, Franz nép người lùi sâu nhất có thể ra phía sau cột trụ.
Cách chỗ cậu và kẻ lạ mặt chừng mười bước chân, phần mái vòm đã sụp xuống, để lộ một lỗ thủng tròn lớn mà qua đó người ta có thể nhìn thấy vòm trời xanh thẳm chi chít những vì sao.
Xung quanh lỗ thủng này — nơi có lẽ suốt bao thế kỷ qua vẫn để ngỏ cho những tia trăng rực rỡ chiếu vào để soi rọi cả tòa công trình khổng lồ — mọc đầy những dây leo, với những nhánh lá xanh mướt nổi bật đầy ấn tượng trên nền trời xanh ngắt. Trong khi đó, những chùm rễ lớn, dày và đầy sợi đâm xuyên qua khe hở, lủng lẳng buông thõng đung đưa qua lại như những sợi dây phất phơ trước gió.

Kẻ vừa xuất hiện một cách đầy bí ẩn thu hút sự chú ý của Franz đang đứng trong một thứ ánh sáng mờ ảo, khiến người ta không thể phân biệt được các đường nét trên khuôn mặt hắn, dù trang phục thì có thể nhận ra dễ dàng. Hắn mặc một chiếc áo choàng màu nâu rộng thùng thình, vạt áo vắt qua vai trái vừa vặn che đi nửa khuôn mặt bên dưới, trong khi nửa phía trên bị giấu khuất hoàn toàn dưới chiếc mũ rộng and. Phần trang phục bên dưới hiện lên rõ hơn nhờ những tia trang sáng rực rỡ xuyên qua phần mái nhà đổ nát, rọi chiếu luồng ánh sáng chói lọi xuống đôi bốt da bóng loáng được chế tác tinh xảo, bên trên là chiếc quần dài bằng vải nỉ đen may theo mốt thời thượng.
Từ những gì ít ỏi có thể quan sát được, Franz chỉ có thể đi đến một kết luận duy nhất — rằng kẻ mà cậu đang theo dõi tuyệt đối không thuộc tầng lớp hạ lưu.
Vài phút trôi qua và kẻ lạ mặt bắt đầu bộc lộ rõ vẻ thiếu kiên nhẫn, thì một tiếng động khẽ vang lên ngoài lỗ thủng trên mái vòm. Gần như ngay lập tức, một bóng đen dường như che khuất dòng ánh sáng đang đổ xuống đó, và hình bóng một người đàn ông hiện rõ đang nheo mắt dò xét không gian bao la bên dưới; rồi, khi tia nhìn chạm trán gã đàn ông mặc áo choàng, hắn bèn tóm lấy một chùm cành cây rậm rạp đang đung đưa, nhờ đó đu mình trượt xuống cách mặt đất chừng ba bốn bước chân rồi nhẹ nhàng nhún chân nhảy đất. Gã thực hiện hành động táo bạo đầy dửng dưng ấy khoác trên mình bộ trang phục vùng Transtevere.
“Xin lỗi đã để Ngài phải đợi lâu,” gã nói bằng phương ngữ Roma, “nhưng tôi nghĩ mình không đến quá giờ bao lâu đâu, chuông nhà thờ Saint John Lateran vừa đổ mười giờ xong đấy.”
“Đừng bận tâm chuyện trễ nải,” kẻ lạ mặt đáp bằng chất giọng Tuscan chuẩn mực; “ta mới là kẻ đến sớm. Nhưng dẫu ngươi có bắt ta phải chờ đợi đôi chút, ta vẫn hoàn toàn tin chắc rằng sự chậm trễ ấy không bắt nguồn từ lỗi của ngươi.”
“Ngài nói hoàn toàn chính xác,” gã kia đáp; “tôi đi thẳng từ lâu đài St. Angelo tới đây, và đã mất khối công sức mới tìm được cơ hội để nói chuyện với Beppo.”
“Và Beppo là ai?”
“Ồ, Beppo làm việc trong nhà tù, và tôi trả cho hắn một khoản kha khá hàng năm để báo cho tôi biết những gì đang diễn ra bên trong lâu đài của đức thánh cha.”
“Quả thật! Xem ra ngươi là một kẻ biết lo xa đấy.”
“Thì đấy, ngài thừa biết chẳng ai đoán trước được điều gì. Biết đâu có ngày nào đó tôi lại bị tóm gọn như tội nghiệp Peppino, và khi ấy hẳn sẽ mừng rỡ biết bao nếu có một chú chuột nhắt nào đó gặm đứt những mắt lưới để giúp tôi thoát thân.”
“Nói ngắn gọn thôi, ngươi đã dò la được gì?”
“Rằng hai vụ hành quyết hết sức đáng chú ý sẽ diễn ra vào ngày kia lúc hai giờ, theo đúng phong tục ở Roma vào dịp đầu các đại lễ. Một trong hai kẻ tử tội sẽ chịu hình thức mazzolato; hắn là một kẻ ác độc tột cùng, kẻ đã sát hại người linh mục từng nuôi dưỡng hắn, và chẳng đáng nhận chút thương xót nào. Tên còn lại bị kết án decapitato; và thưa ngài, hắn chính là tội nghiệp Peppino.”
“Thực tế là ngươi đã khiến không chỉ chính quyền giáo hoàng mà cả các bang láng giềng khiếp sợ tột cùng, nên họ rất chớp lấy mọi cơ hội để dựng lên một vụ trừng phạt làm gương.”
“Nhưng Peppino vốn chẳng thuộc băng nhóm của tôi; hắn chỉ là một tên mục đồng nghèo khổ, tội lỗi duy nhất là cung cấp lương thực cho chúng tôi thôi mà.”
“Dù sao thì điều đó cũng biến hắn thành đồng phạm của ngươi dưới mọi góc độ. Nhưng hãy nhìn cách họ đối xử với hắn mà xem; thay vì bị đập đầu đến chết như ngươi nếu chẳng may bị tóm, hắn lại chỉ bị kết án chém đầu — nhờ cách đó mà các trò giải trí trong ngày cũng trở nên phong phú hơn, và có cả một màn thị uy làm hài lòng mọi khán giả.”
“Chưa tính đến màn biểu diễn hoàn toàn bất ngờ mà tôi đang chuẩn bị để mang lại ngạc nhiên cho họ đấy.”
“Bạn hiền của tôi,” kẻ khoác áo choàng cất lời, “thứ lỗi cho ta khi phải nói rằng ngươi trông đang đúng cái mood muốn làm chuyện điên rồ hoặc ngông cuồng nào đó.”
“Có lẽ vậy; nhưng tôi đã quyết định một điều, đó là sẽ bất chấp tất cả để cứu lấy một kẻ khốn khổ vướng vào vũng lầy này chỉ vì đã phục vụ tôi. Tôi sẽ tự khinh bỉ và căm ghét bản thân như một kẻ hèn nhát nếu bỏ rơi anh chàng dũng cảm ấy trong tình cảnh ngặt nghèo hiện tại.”
“Và ngươi định làm thế nào?”
“Bao vây đoạn đầu đài bằng hai mươi tay chân cừ khôi nhất của tôi. Ngay khi Peppino được dẫn ra hành quyết và có hiệu lệnh của tôi, họ sẽ xông lên, dùng dao găm đánh bật đội hộ vệ và cướp lấy tù nhân.”
“Ta thấy cách đó vừa rủi ro lại vừa mong manh, và nó chứng tỏ rằng kế hoạch của ta vượt trội hơn hẳn ngươi.”
“Và dự án của ngài là gì thế?”
“Đơn giản thế này thôi. Ta sẽ bỏ ra 2.000 piastres một cách khôn ngoan để người nhận tiền chịu hoãn án cho Peppino đến năm sau; và trong năm đó, thêm 1.000 piastres nữa được bố trí khéo léo sẽ mở ra cho hắn con đường đào thoát khỏi ngục tối.”
“Và ngài có chắc chắn sẽ thành công không?”
“Pardieu!” kẻ khoác áo choàng thốt lên, bất giác thốt bằng tiếng Pháp.
“Ngài vừa nói gì thế?” gã kia thắc mắc.
“Ý ta là, bạn hiền ạ, một mình ta dùng tiền vàng còn làm được nhiều chuyện hơn cả ngươi cùng toàn bộ băng nhóm cộng lại, kể cả dao găm, súng lục, súng trường và súng hoa cải. Cứ để ta ra tay, và đừng lo lắng về kết quả.”
“Ít nhất thì việc tôi và đám thuộc hạ sẵn sàng chờ sẵn cũng chẳng hại gì, nhỡ đâu ngài thất bại thì sao.”
“Chẳng hại gì sất. Cứ chuẩn bị tùy thích nếu điều đó làm ngươi yên tâm; nhưng hãy tin tưởng vào việc ta sẽ giành được lệnh ân xá mà ta tìm kiếm.”
“Hãy nhớ rằng ngày hành quyết đã được ấn định vào ngày kia, và ngài chỉ còn đúng một ngày để hành động.”
“Thì sao chứ? Một ngày chẳng phải chia thành hai mươi tư giờ, mỗi giờ sáu mươi phút, và mỗi phút lại chia nhỏ thành sáu mươi giây sao? Giờ thì trong 86.400 giây, khối việc có thể được thực hiện đấy.”
“Và làm sao tôi biết được ngài đã thành công hay chưa?”
“Ồ, chuyện đó dễ ợt. Ta đã thuê ba ô cửa sổ ở tầng dưới quán cà phê Café Rospoli; nếu ta giành được lệnh ân xá cần thiết cho Peppino, hai ô cửa sổ ngoài cùng sẽ được treo vải gấm màu vàng, còn ô ở giữa màu trắng và có thêu một hình thánh giá lớn màu đỏ.”
“Và ngài sẽ giao việc mang lệnh ân xá cho sĩ quan chỉ huy buổi hành quyết cho ai?”
“Sai một trong số thuộc hạ của ngươi cải trang thành một tu sĩ sám hối, ta sẽ đưa nó cho hắn. Bộ trang phục đó sẽ mở đường cho hắn tiếp cận ngay đoạn đầu đài, và hắn sẽ trao sắc lệnh chính thức cho viên sĩ quan, rồi viên này sẽ chuyển lại cho đao phủ. Trong lúc đó, tốt nhất là nên báo trước cho Peppino biết những gì chúng ta đã định đoạt, cốt để ngăn hắn chết vì sợ hãi hoặc phát điên, bởi nếu thế thì tốn kém vô ích một khoản tiền.”
“Thưa ngài,” gã kia lên tiếng, “ngài hoàn toàn tin tưởng vào lòng trung thành tuyệt đối của tôi dành cho ngài chứ, phải không?”
“À, ta tự hào là chẳng có gì phải nghi ngờ điều đó cả,” vị quý tộc khoác áo choàng đáp.
“Vậy thì, chỉ cần ngài thực hiện đúng lời hứa cứu lấy Peppino, từ nay về sau, không chỉ lòng trung thành mà cả sự phục tùng tuyệt đối nhất từ tôi và những kẻ dưới quyền sẽ thuộc về ngài — thứ mà một con người có thể dành cho con người khác.”
“Hãy cẩn trọng với lời hứa của ngươi đấy, bạn hiền, bởi có khi ta sẽ nhắc lại nó vào một thời điểm nào đó không xa, khi đến lượt ta cần đến sự trợ giúp và ảnh hưởng của ngươi.”
“Ngày đó có đến sớm hay muộn đi nữa, ngài cũng sẽ thấy tôi đối xử với ngài y như cách tôi thấy ngài trong cơn hoạn nạn này; và nếu từ tận cùng thế giới, ngài chỉ cần viết thư bảo tôi làm việc này hay việc khác, ngài cứ coi như nó đã được làm xong đi, vì nó chắc chắn sẽ được hoàn thành, xin thề trên danh dự và lòng tin của một——”
“Suỵt!” kẻ lạ mặt ngắt lời; “ta nghe thấy tiếng động.”
“Chắc là khách du lịch nào đó đang tham quan đấu trường Colosseum bằng đuốc thôi.”
“Tốt hơn hết là chúng ta không nên bị bắt gặp đang ở cùng nhau; đám hướng dẫn viên chẳng qua chỉ là lũ gián điệp, và rất có thể chúng sẽ nhận ra ngươi; và dẫu ta có vinh hạnh được kết giao với ngươi đi nữa, bạn hiền ạ, nếu mức độ thân mật giữa chúng ta bịộ lộ, ta e rằng cả danh tiếng lẫn uy tín của ta sẽ bị tổn hại nghiêm trọng đấy.”
“Thế thì, nếu ngài lấy được lệnh ân xá?”
“Ô cửa sổ ở giữa tại Café Rospoli sẽ treo gấm trắng, có thêu thánh giá đỏ.”
“Và nếu ngài thất bại?”
“Khi ấy cả ba ô cửa sổ sẽ treo rèm vàng.”
“Và rồi?”
“Và rồi, bạn hiền ạ, cứ dùng dao găm của ngươi theo bất cứ cách nào ngươi muốn, và ta hứa sẽ có mặt ở đó để làm khán giả chứng kiến tài nghệ của các ngươi.”
“Vậy là chúng ta đã hiểu rõ ý nhau. Tạm biệt ngài; hãy tin tưởng ở tôi cũng chắc chắn như tôi tin tưởng ở ngài vậy.”
Nói xong, gã người Transtevere biến mất theo lối cầu thang, trong khi người đồng hành kéo vạt áo choàng che kín mặt hơn trước, bước lướt qua sát Franz và đi xuống khu vực võng đài bằng một bậc thềm ngoài trời. Giây lát sau, Franz nghe thấy tiếng Albert gọi mình, giọng cậu ta vang vọng khắp tòa kiến trúc cao lớn cùng tên của bạn mình. Tuy nhiên, Franz vẫn chưa đáp lời cho đến khi chắc chắn rằng hai kẻ vừa trò chuyện đã rời đi một khoảng cách đủ xa để cậu không chạm mặt chúng trên đường đi xuống. Mười phút sau khi những kẻ lạ mặt rời đi, Franz đã ở trên đường trở về Piazza di Spagna, dửng dưng lắng nghe bài diễn thuyết bác học mà Albert đang tuôn ra theo phong cách của Pliny và Calpurnius về những tấm lưới có gắn đinh sắt từng được dùng để ngăn lũ thú dữ chồm vào khán giả.

Franz cứ để mặc bạn mình huyên thuyên không ngắt lời, và thực ra chẳng lọt tai chữ nào; cậu chỉ khao khát được ở một mình để suy ngẫm về tất cả những gì vừa xảy ra. Một trong hai kẻ có cuộc gặp gỡ bí ẩn ở đấu trường Colosseum mà cậu vô tình chứng kiến là một người hoàn toàn xa lạ, nhưng kẻ còn lại thì không; và dù Franz không thể nhận diện khuôn mặt hắn vì bị khuất sau chiếc áo choàng và bóng tối, thì âm sắc giọng nói ấy đã để lại ấn tượng quá mạnh mẽ trong lần đầu tiên nghe thấy, khiến cậu chẳng thể nào quên được dẫu có nghe lại ở bất cứ đâu hay bất cứ lúc nào. Đặc biệt là khi kẻ đó cất giọng nửa đùa nửa cay đắng, tai Franz lại vô cùng sống động gợi nhớ đến chất giọng trầm ấm, vang dội nhưng tròn vành rõ chữ từng cất lên với cậu trong hang động ở Monte Cristo — thứ âm thanh mà cậu được nghe lần thứ hai giữa màn đêm và vẻ hoang tàn đổ nát của đấu trường Colosseum. Và càng suy nghĩ, cậu càng đinh ninh rằng kẻ khoác áo choàng chẳng phải ai khác ngoài người chủ nhà cũ của mình — “Thủy thủ Sinbad”.
Trong bất kỳ hoàn cảnh nào khác, Franz hẳn đã chẳng tài nào cưỡng lại sự tò mò tột độ để tìm hiểu thêm về một nhân vật kỳ lạ như thế, và với ý định đó, cậu sẽ tìm cách nối lại mối quan hệ ngắn ngủi giữa hai người. Thế nhưng ở hiện tại, tính chất cơ mật của cuộc trò chuyện vừa lọt vào tai khiến cậu nhận thức rõ ràng rằng sự xuất hiện của mình vào lúc ấy sẽ chẳng hề hay ho chút nào. Do đó, như chúng ta đã thấy, cậu đã để người chủ nhà cũ rời đi mà không tìm cách vạch trần, đồng thời tự nhứa hẹn sẽ bù đắp thật xứng đáng cho sự nhẫn nhịn này nếu cơ hội một lần nữa mỉm cười.
Franz hoài công cố gắng xua đi những suy nghĩ rối ren bủa vây lấy mình; cậu hoài công tìm kiếm sự thư thái trong giấc ngủ. Giấc ngủ cự tuyệt đôi mi cậu, và cả đêm trôi qua trong nỗi trăn trở đầy sốt sút trước chuỗi tình tiết chứng minh sự trùng khớp giữa vị khách bí ẩn ở Colosseum với cư dân trong hang động Monte Cristo; và càng ngẫm nghĩ, nhận định của cậu về vấn đề này càng trở nên kiên cố.
Cuối cùng, kiệt sức vì thao thức, cậu chìm vào giấc ngủ khi trời rạng sáng và chỉ tỉnh dậy khi mặt trời đã đứng bóng. Giống như một người Pháp chính cống, Albert đã tận dụng thời gian để sắp xếp cho các hoạt động vui chơi buổi tối; cậu ta đã sai người đặt một lô gô tại Teatro Argentina. Còn Franz, vì có cả đống thư từ cần viết, nên đã nhường hẳn chiếc xe cho Albert dùng trong suốt cả ngày.
Đến năm giờ, Albert trở về với vẻ mặt vô cùng đắc ý vì những việc đã làm được trong ngày; cậu ta bận rộn đi phát thiếp mời và đổi lại nhận được nhiều lời mời dự tiệc tùng, dạ hội hơn mức có thể tham dự. Ngoài ra, cậu ta đã chiêm ngưỡng (như cách cậu ta gọi) mọi thắng cảnh nổi bật ở Roma. Vâng, chỉ trong một ngày, cậu ta đã hoàn thành những gì mà người bạn điềm đạm hơn phải mất cả tuần mới làm nổi. Cậu ta cũng không quên dò la tên vở kịch được biểu diễn tối nay tại Teatro Argentina, cũng như những nghệ sĩ góp mặt trong đó. Vở opera Parisina được thông báo sẽ công diễn, với các diễn viên chính là Coselli, Moriani và La Specchia.
Do đó, hai chàng trai có lý do để thấy mình thật may mắn khi có cơ hội thưởng thức một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của nhà soạn nhạc vở Lucia di Lammermoor, lại được thể hiện bởi ba giọng ca lừng lẫy bậc nhất nước Ý.
Albert vốn chưa bao giờ chịu nổi các nhà hát kiểu Ý, với dàn nhạc khiến người ta chẳng thể nhìn thấy gì và sự vắng bóng của các ban công hay lô gô lộ thiên; tất cả những khiếm khuyết đó là một cực hình đối với một kẻ từng có ghế riêng tại Bouffes và sở hữu chung một lô gô ở tầng dưới của nhà hát Opera. Dù vậy, bất chấp điều đó, Albert vẫn diện những bộ trang phục lộng lẫy và bắt mắt nhất mỗi khi ghé thăm các nhà hát; nhưng hỡi ôi, sự chải chuốt thanh lịch ấy hoàn toàn đổ sông đổ bể, và một trong những đại diện ưu tú nhất của thời trang Paris lại phải mang theo nỗi thất vọng ê chề khi nhận ra mình đã đi gần hết nước Ý mà chẳng hề vớ lấy nổi dù chỉ một cuộc tình phiêu lưu.
Đôi khi, Albert cũng bày ra vẻ giễu cợt chính sự thất bại của mình; nhưng thâm tâm cậu ta lại bị tổn thương sâu sắc, và lòng tự ái bị chọc tức dữ dội khi nghĩ rằng Albert de Morcerf — kẻ được ngưỡng mộ và săn đón nhiều nhất trong số các thanh niên cùng thời — lại bị ngó lơ một cách phũ phàng, để rồi công sức bỏ ra chỉ đổi lấy con số không tròn trỉnh. Điều đó càng trở nên bực bội hơn bội phần, bởi với thói quen tự phụ đặc trưng của một người Pháp, Albert từng rời Paris với đinh ninh chắc nịch rằng cậu ta chỉ cần đặt chân đến Ý là sẽ quét sạch mọi trái tim, để rồi khi trở về sẽ khiến giới thượng lưu Paris phải lác mắt với những chiến tích tình trường dày đặc.
Hỡi ôi, tội nghiệp Albert! Chẳng có lấy một cuộc phiêu lưu lý thú nào rơi vào tầm ngắm của cậu ta; những tiểu thư kiều diễm người Genoa, Florence và Naples đều cực kỳ chung thủy — nếu không muốn nói là với chồng họ, thì ít nhất cũng với người tình — và chẳng mảy mai nghĩ đến chuyện đổi thay dẫu trước mắt là vẻ ngoài hào nhoáng của Albert de Morcerf; và tất cả những gì cậu ta thu về chỉ là nhận thức cay đắng rằng phụ nữ Ý có điểm hơn hẳn phụ nữ Pháp ở chỗ họ vẫn chung thủy ngay cả trong sự không chung thủy của mình.
Dù vậy, cậu ta vẫn không thôi hy vọng rằng ở Ý, cũng như bất kỳ nơi nào khác, sẽ luôn có những ngoại lệ cho quy luật chung ấy.
Bên cạnh vẻ ngoài lịch lãm, ưa nhìn, Albert còn sở hữu tài năng và năng lực đáng kể; hơn nữa, cậu ta lại là một tử tước — dĩ nhiên là tước hiệu mới được phong gần đây, nhưng thời buổi này thì chẳng cần phải ngược dòng tìm về tận thời No-ê để tra cứu tông ti họ hàng nữa, và một phả hệ được đánh giá cao như nhau dù khởi nguồn từ năm 1399 hay chỉ mới từ năm 1815; và để tô điểm thêm cho tất cả những lợi thế ấy, Albert de Morcerf còn nắm giữ mức thu nhập 50.000 livres — một con số quá đủ để biến cậu ta thành một nhân vật có trọng lượng ở Paris. Thế nên, việc ghé thăm hầu hết các thành phố lớn của Ý mà chẳng thu hút nổi dù chỉ một ánh nhìn chú ý cỏn con quả là một đòn giáng mạnh vào lòng tự trọng của cậu ta.
Tuy nhiên, Albert vẫn hy vọng sẽ vớt vát lại tất cả sự thờ ơ và lạnh nhạt ấy trong dịp lễ hội hóa trang Carnival, bởi cậu ta thừa thừa biết rằng giữa các vương quốc và lãnh địa tổ chức lễ hội này, Roma chính là nơi mà ngay cả những kẻ khôn ngoan và nghiêm túc nhất cũng vứt bỏ sự cứng nhắc thường ngày để đắm mình vào những trò điên rồ của thời kỳ tự do và phóng túng đó. Lễ hội Carnival sẽ bắt đầu vào ngày mai; thế nên Albert chẳng còn chút thời gian nào để lãng phí trong việc vạch ra những dự định, kỳ vọng và khẳng định sức hút của bản thân.
Với mưu đồ đó, cậu đã đặt một lô gô ở vị trí đắc địa nhất trong nhà hát và dốc sức tô điểm cho vẻ ngoài của mình bằng sự trợ giúp của bộ trang phục xa hoa, cầu kỳ nhất. Lô gô mà Albert thuê nằm ở tầng đầu tiên; dẫu cả ba tầng lô gô đều được xem là có vị thế quý tộc ngang nhau và vì thế thường được gọi là "lô gô của giới quý tộc", và dẫu lô gô của hai người đủ rộng để chứa ít nhất chục vị khách, thì chi phí của nó lại rẻ hơn hẳn so với việc mua vé cho bốn người ở một số nhà hát Pháp.
Một động cơ khác cũng chi phối lựa chọn chỗ ngồi của Albert — biết đâu đấy, với vị thế đắc địa này, cậu ta lại có thể lọt vào mắt xanh của một tiểu thư người Roma nào đó, để rồi từ mối lương duyên ấy sẽ dẫn đến lời mời lên xe hoa hoặc một chỗ đứng trên ban công vương giả nào đó để chiêm ngưỡng không khí rộn ràng của lễ hội Carnival?
Những cân nhắc kết hợp ấy khiến Albert trở nên hào hứng và khao khát lấy lòng hơn bao giờ hết. Hoàn toàn phớt lờ nội dung diễn xuất trên sân khấu, cậu ta nhoài người khỏi lô gô và bắt đầu dùng chiếc ống nhòm cấu hình mạnh để soi mói sắc đẹp của từng người phụ nữ xinh xắn; thế nhưng hỡi ôi, nỗ lực thu hút sự chú ý ấy hoàn toàn đổ bể, chẳng dấy lên nổi dù chỉ một chút tò mò, và rõ mười mươi là những giai nhân mà cậu ta khao khát tiếp cận đều đang bận tâm đến bản thân, người tình hoặc những suy nghĩ riêng tư của họ, đến mức chẳng thèm liếc lấy cậu ta hay cái ống nhòm trên tay dù chỉ một nửa cái nhìn.
Sự thật là những niềm vui được mong chờ của lễ hội Carnival, cùng với "Tuần lễ Thánh" nối tiếp ngay sau đó, đã chiếm trọn tâm trí của mỗi giai nhân, khiến họ chẳng mảy điều tâm đến cả những diễn biến trên sân khấu. Các diễn viên ra vào sân khấu trong sự thờ ơ hoặc chẳng mảy ai bận tâm; vào những thời điểm ước lệ nhất định, khán giả sẽ bất chợt ngắt quãng câu chuyện hoặc bừng tỉnh khỏi cơn mơ màng để lắng nghe một khúc cao trào rực rỡ của Moriani, một đoạn ngâm thơ điêu luyện của Coselli, hay cùng hòa vào tràng pháo tay rền vang trước tài năng kinh ngạc của La Specchia; nhưng ngay khi khoảnh khắc phấn khích ấy qua đi, họ lại nhanh chóng chìm đắm trở lại vào trạng thái bận rộn hay những cuộc trò chuyện thú vị ban đầu.
Gần cuối màn thứ nhất, cánh cửa của một lô gô nãy giờ vẫn bỏ trống bật mở; một phụ nữ bước vào — người mà Franz từng được giới thiệu ở Paris, nơi mà thực ra cậu vẫn tưởng rằng nàng đang ở đó. Ánh mắt tinh tường của Albert bắt gặp cái giật mình vô thức của bạn mình khi nhìn thấy vị khách mới đến, bèn quay sang hỏi dồn:
“Cậu có quen người phụ nữ vừa bước vào lô gô kia không?”
“Có chứ; cậu thấy nàng thế nào?”
“Ồ, đẹp tuyệt trần — làn da mới hoàn mỹ làm sao! Lại thêm mái tóc lộng lẫy nữa chứ. Nàng là người Pháp à?”
“Không; người Venice.”
“Và tên nàng là——”
“Nữ bá tước G——.”
“À, tớ nghe danh nàng rồi!” Albert thốt lên; “người ta đồn rằng nàng thông minh sắc sảo chẳng kém gì nhan sắc. Lẽ ra tớ đã được diện kiến nàng khi chạm mặt ở bữa tiệc của phu nhân Villefort rồi.”
“Cậu có muốn tớ giúp sửa chữa sự lơ đễnh ngày trước không?” Franz hỏi.
“Bạn hiền ơi, cậu thực sự thân thiết với nàng đến mức dám mạo muội dẫn tớ vào lô gô của nàng ấy cơ à?”
“Chà, tớ mới chỉ có vinh dự tiếp xúc và trò chuyện với nàng ba bốn lần trong đời; nhưng cậu biết đấy, dẫu chỉ là ngần ấy quen biết cũng đủ để tớ làm điều cậu vừa xin rồi.”
Ngay khoảnh khắc đó, nữ bá tước nhận ra Franz và duyên dáng vẫy tay chào cậu, và cậu đáp lại bằng một cái cúi đầu cung kính. “Trời ạ,” Albert thốt lên, “xem ra cậu đang có quan hệ rất tốt với nữ bá tước kiều diễm đấy chứ.”
“Cậu hiểu lầm rồi đấy,” Franz điềm tĩnh đáp; “cậu chỉ đang vướng vào cái sai lầm tai hại khiến rất nhiều đồng bào chúng ta mắc phải những cú ngã ngựa ngớ ngẩn — ý tớ là cái thói áp đặt lề thói và phong tục của Ý hay Tây Ban Nha theo lăng kính của người Paris; tin tớ đi, chẳng có gì sai lầm hơn việc đánh giá mức độ thân thiết giữa mọi người dựa vào vẻ bề ngoài sỗ sàng đâu; giữa tớ và nữ bá tước lúc này chỉ có sự đồng điệu về tâm hồn — chẳng hơn không kém.”
“Thế ư, bạn hiền? Làm ơn nói cho tớ nghe, đó là sự đồng điệu của trái tim phải không?”
“Không; của khẩu vị,” Franz nghiêm túc tiếp lời.
“Và sự tương đồng trong tâm hồn ấy đã được thể hiện qua cách nào?”
“Bằng việc nữ bá tước cũng ghé thăm đấu trường Colosseum, y như tớ và cậu tối qua, dưới ánh trăng và gần như chỉ có một mình.”
“Thế ra cậu đã đi cùng nàng ta à?”
“Đúng vậy.”
“Và cậu đã nói gì với nàng ấy thế?”
“Ồ, chúng tớ bàn về những bậc vĩ nhân đã khuất — những người mà tàn tích tráng lệ ấy chính là đài kỷ niệm huy hoàng!”

“Nói thật nhé,” Albert kêu lên, “cậu quả là một kẻ tẻ nhạt khi ở một mình, hoặc gần như một mình, với một người phụ nữ đẹp ở chốn mang nặng tính hoài niệm như đấu trường Colosseum, thế mà lại chẳng tìm được đề tài nào hay ho hơn ngoài người chết! Tớ chỉ có thể nói rằng, nếu tớ mà vớ được cơ hội đó, người sống mới là chủ đề của tớ.”
“Và có lẽ cậu sẽ chọn nhầm chủ đề đấy.”
“Nhưng,” Albert ngắt lời, “thôi đừng nhắc chuyện quá khứ nữa; hãy nhớ đến hiện tại đi. Cậu không định giữ lời hứa giới thiệu tớ với chủ nhân xinh đẹp của câu chuyện chúng ta vừa nhắc chứ?”
“Tất nhiên rồi, ngay khi hạ màn sân khấu.”
“Sao cái màn thứ nhất này kéo dài dằn vặt thế không biết. Thề có Chúa, tớ tưởng họ chẳng bao giờ định kết thúc nó nữa cơ chứ.”
“Ồ, rồi sẽ kết thúc thôi; cứ nghe khúc kết quyến rũ kia kìa. Coselli hát phần của mình mới tuyệt vời làm sao.”
“Nhưng gã ta trông vụng về và kém duyên quá chừng.”
“Thế thì, cậu nghĩ sao về La Specchia? Đã bao giờ cậu thấy màn trình diễn nào hoàn hảo hơn thế chưa?”
“Thì cậu biết đấy, khi người ta đã quen với Malibran và Sontag, những ca sĩ thế này sẽ chẳng để lại ấn tượng mạnh mẽ như với những người khác.”
“Ít nhất thì cậu cũng phải ngưỡng mộ phong cách và kỹ thuật điêu luyện của Moriani chứ.”
“Tớ chưa bao giờ thấy thích những gã có vẻ ngoài sẫm màu, nặng nề lại hát với chất giọng như đàn bà cả.”
“Bạn hiền ạ,” Franz quay sang nói, trong khi Albert vẫn tiếp tục chĩa ống nhòm vào từng lô gô trong nhà hát, “cậu có vẻ quyết tâm không chịu khen ngợi ai cả; cậu đúng là khó chiều quá mức rồi đấy.”
Cuối cùng thì tấm màn cũng hạ xuống trong sự mãn nguyện vô bờ của tử tước Morcerf. Cậu ta vơ lấy chiếc mũ, nhanh chóng luồn những ngón tay qua mái tóc, chỉnh lại chiếc cà vạt cùng cổ tay áo, rồi ra hiệu cho Franz rằng mình đã sẵn sàng để dẫn đường.
Franz — người vừa dùng ánh mắt dò hỏi nữ bá tước và nhận lại nụ cười ưng thuận xem như lời chào đón — không hề trì hoãn sự nôn nóng háo hức của Albert, mà bước thẳng một mạch quanh nhà hát, theo sát phía sau là Albert — kẻ đang tận dụng vài phút ngắn ngủi đi sang phía bên kia để nắn lại độ cao và độ phẳng của cổ áo cùng vạt áo khoác. Nhiệm vụ trọng đại ấy vừa hoàn tất thì họ cũng đặt chân tới lô gô của nữ bá tước.
Cánh cửa lập tức được mở tung sau một tiếng gõ, và chàng thanh niên đang ngồi cạnh nữ bá tước — theo đúng phong tục Ý — liền đứng dậy nhường chỗ cho hai vị khách mới, những kẻ mà đến lượt mình cũng sẽ phải lui ra khi có những vị khách khác ghé thăm.
Franz giới thiệu Albert như một trong những gương mặt thanh niên ưu tú nhất thời đại, cả về địa vị xã hội lẫn tài năng xuất chúng; và những gì cậu nói hoàn toàn đúng sự thật, bởi ở Paris và trong vòng tròn các mối quan hệ của vị tử tước, cậu ta luôn được xem và được nhắc đến như một hình mẫu của sự hoàn hảo. Franz nói thêm rằng người bạn đồng hành của mình vô cùng tiếc nuối vì đã lỡ mất vinh dự diện kiến nữ bá tước trong thời gian nàng lưu trú ở Paris, nên nay đang vô cùng khao khát được bù đắp, đồng thời nhờ Franz sửa chữa sai lầm quá khứ bằng cách dẫn đến tận lô gô này, và cuối cùng cất lời xin lỗi vì sự mạo muội tự ý hành động của mình.
Đáp lại, nữ bá tước duyên dáng cúi đầu chào Albert và trìu mến đưa tay ra đón lấy Franz; sau đó, nàng mời Albert ngồi vào chiếc ghế trống cạnh mình, đồng thời gợi ý Franz chọn chiếc ghế tốt thứ nhì nếu muốn thưởng thức trọn vẹn màn múa ba lê, và chỉ tay về phía chiếc ghế đằng sau lưng ghế của chính nàng.
Albert nhanh chóng chìm đắm trong cuộc trò chuyện về Paris cùng các vấn đề thời sự nơi đó, say sưa bàn luận với nữ bá tước về những người quen chung của cả hai. Franz nhận ra bạn mình đã hoàn toàn nhập cuộc và trúng "tủ", nên chẳng muốn làm phiền niềm vui rõ mồn một ấy. Cậu cầm lấy chiếc ống nhòm của Albert và bắt đầu quét mắt quan sát khán giả.
Ngồi một mình ở hàng ghế đầu của một lô gô nằm ngay phía đối diện, nhưng tọa lạc ở tầng ba, là một người phụ nữ tuyệt sắc với trang phục Hy Lạp — qua dáng vẻ tự nhiên và duyên dáng khi diện nó, rõ ràng đó chính là trang phục truyền thống của nàng. Phía sau nàng, ẩn khuất sâu trong bóng râm, là hình bóng phác thảo của một dáng người nam giới, nhưng diện mạo của nhân vật này thì hoàn toàn không tài nào phân biệt được. Franz không sao kìm nén được việc chen ngang vào cuộc trò chuyện có vẻ rất thú vị giữa nữ bá tước và Albert để hỏi xem nàng có biết vị tiểu thư người Albania ở đối diện là ai không, bởi nhan sắc rực rỡ như thế rất xứng đáng nhận được sự chú ý từ bất kỳ phái nào.
“Tất cả những gì tôi biết về nàng ta,” nữ bá tước đáp, “đó là nàng đã có mặt ở Roma từ đầu mùa giải; bởi tôi từng thấy nàng ngồi đúng vị trí đó ngay trong đêm khai mạc, và kể từ đó đến nay nàng chưa từng bỏ lỡ một buổi biểu diễn nào. Thỉnh thoảng nàng đi cùng người đang ngồi cạnh lúc này, có lúc lại chỉ có một tên hầu da đen đi theo hầu.”
“Và cô nghĩ sao về vẻ bề ngoài của nàng ấy?”
“Ồ, tôi thấy nàng đẹp hoàn mỹ — đúng y hệt hình mẫu trong tưởng tượng của tôi về nhân vật Medora.”
Franz và nữ bá tước trao nhau một nụ cười, rồi vị nữ bá tước tiếp tục quay lại câu chuyện với Albert, trong khi Franz quay trở về với công cuộc quan sát nhà hát và khán giả của mình. Tấm màn múa ba lê được kéo lên — đó là một trong những màn biểu diễn xuất sắc mang đậm phong cách Ý, được dàn dựng và đạo diễn tuyệt vời bởi Henri, người từng tạo dựng được danh tiếng lẫy lừng khắp nước Ý nhờ gu thẩm mỹ và kỹ nghệ múa ba lê — một kiệt tác của sự uyển chuyển, quy củ và thanh lịch, nơi toàn bộ vũ đoàn, từ các vũ công chính cho đến những người phụ diễn khiêm tốn nhất, đều đồng loạt xuất hiện trên sân khấu. Người ta có thể thấy một trăm năm mươi con người cùng trưng ra một tư thế, cùng giơ cao một cánh tay hay cẳng chân với những chuyển động đồng điệu đến mức khiến người ta ngỡ rằng chỉ có chung một khối óc, một ý chí duy nhất đang chi phối cả đám đông đang chuyển động ấy.
Vở ba lê có tựa đề Poliska.
Dù màn ba lê có hấp dẫn đến đâu đi nữa, Franz vẫn quá bận tâm đến người đẹp Hy Lạp để mà đếm xỉa gì đến nó; trong khi đó, nàng dường như tìm thấy niềm vui ngây thơ như trẻ thơ khi theo dõi, đôi mắt háo hức, sống động của nàng hoàn toàn trái ngược với sự dửng dưng đến lạnh lùng của người đồng hành. Trong suốt thời gian vở diễn kéo dài, gã thậm chí chẳng thề nhúc nhích, kể cả khi âm thanh đinh tai nhức óc, rầm rộ phát ra từ kèn trumpet, chũm chọe và chuông Trung Hoa vang lên chói lọi nhất từ dàn nhạc. Gã chẳng mảy may bận tâm đến điều ấy, mà theo bề ngoài có thể tin được, đang tận hưởng một giấc ngủ sâu dịu êm cùng những giấc mơ thiên đường rực rỡ.
Cuối cùng thì vở ba lê cũng khép lại, và tấm màn hạ xuống giữa tràng pháo tay rền vang, đồng lòng của một khán giả đầy nhiệt huyết và say mê.
Nhờ vào kế hoạch vô cùng hợp lý là chia hai màn của vở opera bằng một tiết mục ba lê, các khoảng nghỉ giữa các màn diễn rất ngắn. Các ca sĩ trong vở opera có thời gian nghỉ ngơi và thay trang phục khi cần thiết, trong lúc các vũ công đang biểu diễn những bước quay tròn và khoe những bước nhảy uyển chuyển của mình.
Khúc dạo đầu của màn thứ hai bắt đầu; và ngay tiếng vĩ cầm đầu tiên của nhạc trưởng vang lên, Franz nhận ra kẻ đang ngủ từ từ đứng dậy và tiến lại gần cô gái người Hy Lạp. Nàng quay đầu nói vài lời với gã, rồi lại nhoài người tựa lên lan can lô gô, đắm chìm trở lại như trước vào những gì đang diễn ra.
Khuôn mặt của kẻ vừa cất lời với nàng vẫn chìm khuất hoàn toàn trong bóng râm, đến mức dù Franz đã cố gắng hết sức, cậu vẫn chẳng tài nào phân biệt nổi dù chỉ một đường nét. Tấm màn kéo lên, sự chú ý của Franz bị thu hút bởi các diễn viên, và đôi mắt cậu rời khỏi lô gô của cô gái người Hy Lạp cùng người đồng hành kỳ lạ để dõi theo diễn biến trên sân khấu.
Hầu hết độc giả của tôi đều biết rằng màn thứ hai của Parisina mở đầu bằng khúc song ca nổi tiếng và đầy sức nặng, trong đó Parisina khi đang ngủ đã vô tình hé lộ với Azzo bí mật về tình yêu của nàng dành cho Ugo. Người chồng bị tổn thương trải qua đủ mọi cung bậc ghen tuông cho đến khi sự thật chắc chắn nắm lấy tâm trí, để rồi trong cơn cuồng nộ và phẫn uộ, hắn đánh thức người vợ tội lỗi để nói cho nàng biết rằng hắn đã thấu tỏ tội lỗi và đe dọa nàng bằng sự trả thù của mình.
Khúc song ca này là một trong những ý tưởng đẹp đẽ, biểu cảm và khủng khiếp nhất từng tuôn ra từ ngòi bút dồi dào của Donizetti. Franz lúc này đang lắng nghe nó lần thứ ba; thế nhưng những nốt nhạc ấy — vừa mang vẻ biểu cảm dịu dàng vừa hoành tráng đến sợ hãi khi người vợ và người chồng khốn khổ trút hết nỗi đau khổ và đam mê của họ — vẫn cứ xoáy sâu vào tâm hồn Franz với sức công phá chẳng kém gì cảm xúc ban đầu khi cậu lần đầu nghe thấy nó. Bị kích động vượt qua vẻ điềm tĩnh thường ngày, Franz đứng bật dậy cùng khán giả và toan hòa vào tràng pháo tay cuồng nhiệt, náo nhiệt nối tiếp theo sau; nhưng đột ngột, ý định của cậu khựng lại, hai bàn tay buông thõng bên sườn và tiếng "bravo" còn ngậm ngứ trên bờ môi.
Kẻ đang ngồi trong lô gô của cô gái người Hy Lạp dường như cũng chia sẻ sự ngưỡng mộ chung bao trùm khắp nơi; bởi hắn đã rời chỗ ngồi để đứng hẳn ra phía trước, khiến khuôn mặt lộ diện hoàn toàn và giúp Franz chẳng gặp chút khó khăn nào để nhận ra đó chính là cư dân bí ẩn ở Monte Cristo — cũng chính là kẻ mà cậu từng chạm trán vào tối hôm trước giữa những tàn tích của đấu trường Colosseum, người có giọng nói và dáng vóc quen thuộc đến lạ kỳ.
Mọi nghi ngờ về danh tính của hắn giờ đây đã chấm dứt; người chủ nhà kỳ lạ của cậu rõ ràng đang sinh sống ở Roma. Sự ngạc nhiên và bàng hoàng do sự xác thực đầy đủ này mang lại chắc hẳn đã in hằn một biểu cảm tương ứng lên khuôn mặt Franz, bởi nữ bá tước sau khi ngước nhìn đầy khó hiểu vào mặt cậu liền bật cười nức nẻ và nài nỉ muốn biết chuyện gì đã xảy ra.
“Nữ bá tước,” Franz đáp lại, hoàn toàn phớt lờ sự trêu chọc của nàng, “vừa nãy tôi có hỏi cô có biết chút thông tin nào về vị tiểu thư người Albania ở đối diện không; giờ tôi phải nài nỉ cô cho tôi biết chồng nàng là ai và là người thế nào đây?”
“Ơ hay,” nữ bá tước đáp, “tôi còn lạ gì hắn ta hơn anh đâu.”
“Có lẽ cô chưa từng chú ý đến hắn trước đây chăng?”
“Câu hỏi gì chứ — đúng chất Pháp thật đấy! Anh không biết rằng tụi tôi — những người Ý — chỉ có mắt dành riêng cho người đàn ông mình yêu thôi sao?”
“Phải rồi,” Franz đáp.
“Tất cả những gì tôi có thể nói,” nữ bá tước tiếp lời, đưa ống nhòm lên hướng về phía lô gô nọ, “đó là gã đàn ông mà tôi chẳng tài nào moi ra được lý lịch ấy trông cứ như vừa mới được đào lên từ mồ mả vậy; hắn ta giống một thây ma được một gã đào huyệt thân thiện nào đó cho phép rời khỏi nấm mồ một thời gian để quay lại cõi trần này hơn là một con người bằng xương bằng thịt. Trông hắn xanh xao ghê rợn làm sao!”
“Ồ, lúc nào hắn cũng trắng bệch như cô đang thấy đấy thôi.”
“Thế ra anh quen hắn à?” nữ bá tước suýt thét lên. “Ồ, vì Chúa, làm ơn kể hết cho chúng tôi nghe đi — hắn là ma cà rồng, hay một xác chết hồi sinh, hay cái quái gì thế?”
“Tôi tưởng mình từng gặp hắn trước đây; và tôi thậm chí còn nghĩ hắn nhận ra tôi nữa cơ.”
“Và tôi hoàn toàn có thể hiểu được,” nữ bá tước nói, nhún vai thon thả cứ như có một cơn rùng mình vô thức chạy dọc sống lưng, “rằng những ai từng một lần chạm mặt gã đàn ông đó sẽ chẳng bao giờ có thể quên nổi hắn.”
Cảm giác mà Franz trải qua rõ ràng không chỉ của riêng cậu; một người khác, chẳng hề liên quan, cũng cảm thấy nỗi sợ hãi và hoài nghi khó lý giải tương tự.

“Nào,” Franz hỏi sau khi nữ bá tước lần thứ hai nâng ống nhòm hướng về phía lô gô nọ, “cô nghĩ gì về người hàng xóm đối diện của chúng ta?”
“Rằng hắn chẳng phải ai khác ngoài chính Chúa tể Ruthven bằng xương bằng thịt.”
Sự liên tưởng mới mẻ này đến Byron vẽ nên một nụ cười trên khuôn mặt Franz; dẫu cậu phải thừa nhận rằng nếu có thứ gì đó khơi gợi niềm tin về sự tồn tại của ma cà rồng, thì đó chính là sự hiện diện của một kẻ bí ẩn như nhân vật trước mặt cậu lúc này.
“Tôi nhất định phải tìm ra hắn là ai và làm nghề gì mới được,” Franz đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
“Không, không,” nữ bá tước kêu lên; “anh không được phép bỏ tôi. Tôi đang trông cậy anh hộ tống về nhà đấy. Ồ, tôi cương quyết không cho anh đi đâu.”
“Chẳng lẽ,” Franz thì thầm, “cô đang mang trong lòng sự sợ hãi nào sao?”
“Tôi sẽ nói cho anh nghe,” nữ bá tước đáp. “Byron từng có niềm tin tuyệt đối vào sự tồn tại của ma cà rồng, và thậm chí còn quả quyết với tôi rằng ông ấy đã từng nhìn thấy chúng. Bản miêu tả ông ấy kể lại hoàn toàn trùng khớp với các đường nét và tính cách của gã đàn ông trước mặt chúng ta đây. Ồ, hắn chính là hiện thân sống động của những gì tôi hằng mường tượng! Mái tóc đen nhánh như than, đôi mắt to sáng rực, lấp lánh thứ ánh lửa hoang dã, phi trần gian — cùng thứ nước da xanh xao ghê rợn ấy. Rồi hãy nhìn xem, người phụ nữ đi cùng hắn hoàn toàn khác biệt với tất cả những người cùng phái. Nàng ta là một kẻ ngoại lai — một vị khách lạ. Chẳng ai biết nàng là ai hay đến từ đâu. Chắc chắn nàng thuộc cùng một chủng tộc quái đản với hắn, và cũng giống hắn, là một kẻ hành nghề ma thuật. Tôi khẩn khoản xin anh đừng bén mảng tới gần hắn — ít nhất là đêm nay; và nếu ngày mai sự tò mò của anh vẫn còn lớn đến thế, hãy cứ tiếp tục cuộc điều tra tùy ý; nhưng đêm nay anh không thể và sẽ không được đi đâu hết. Vì mục đích đó, tôi có ý định giữ chặt anh lại cho riêng mình đấy.”
Franz phản đối rằng cậu không thể hoãn lại cuộc truy lùng đến ngày hôm sau vì rất nhiều lý do.
“Hãy nghe tôi,” nữ bá tước nói, “và đừng có bướng bỉnh thế chứ. Tôi về nhà đây. Tối nay nhà tôi có tiệc nên chắc chắn không thể ở lại đến hết buổi biểu diễn opera được. Giờ thì, tôi không thể tin là anh lại thiếu tinh tế đến mức từ chối hộ tống một quý cô khi nàng cất lời nài nỉ điều đó đâu nhỉ?”
Franz chẳng còn cách nào khác ngoài việc với lấy chiếc mũ, mở cửa lô gô và đưa tay ra hiệu mời nữ bá tước vịnh tay mình. Nhìn thái độ của nàng, rõ ràng nỗi bất an kia không hề là giả vờ; và bản thân Franz cũng không tài nào cưỡng lại cảm giác sợ hãi mang màu sắc mê tín — càng mạnh mẽ hơn trong cậu khi nó bắt nguồn từ hàng loạt ký ức củng cố lẫn nhau, trong khi nỗi kinh hoàng của nữ bá tước sinh ra từ niềm tin bản năng vốn được khơi nguồn trong tâm trí nàng bởi những câu chuyện hoang đường được nghe kể cho đến khi nàng tin chúng là sự thật. Franz thậm chí có thể cảm nhận được cánh tay nàng đang run rẩy khi cậu dìu nàng lên xe. Khi xe tới khách sạn, Franz nhận ra nàng đã nói dối khi bảo rằng đang mong đợi khách khứa; trái lại, việc nàng về nhà trước giờ hẹn dường như khiến đám gia nhân vô cùng kinh ngạc.
“Thứ lỗi cho cái trò bịp nho nhỏ của tôi nhé,” nữ bá tước nói, đáp lại lời nhận xét nửa đùa nửa trách của bạn đồng hành; “nhưng gã đàn ông đáng sợ kia khiến tôi thấy thật bất an, và tôi khao khát được ở một mình để trấn tĩnh lại tâm trí đang hoảng loạn.”
Franz toan cười trừ.
“Thôi nào,” nàng nói, “đừng có cười; nó chẳng hề phù hợp với biểu cảm trên mặt anh chút nào, và tôi chắc chắn nó chẳng xuất phát từ trái tim anh đâu. Dù sao đi nữa, hãy hứa với tôi một điều.”
“Chuyện gì thế?”
“Hứa với tôi đi đã.”
“Tôi sẽ làm bất cứ điều gì cô muốn, trừ việc từ bỏ quyết tâm tìm ra gã đàn ông này là ai. Tôi có nhiều lý do hơn cô tưởng để mong muốn biết hắn từ đâu đến, và đang định đi đâu.”
“Hắn đến từ đâu thì tôi chịu; nhưng tôi có thể đoán ngay hắn sắp đi đâu — xuống dưới âm ty chứ đâu, chẳng nghi ngờ gì sất.”
“Chúng ta chỉ nên nói về lời hứa mà cô muốn tôi thực hiện thôi,” Franz ngắt lời.
“Được rồi, vậy thì anh phải hứa danh dự là sẽ quay thẳng về khách sạn và không tìm cách bám theo gã đó đêm nay. Giữa những người chúng ta vừa từ biệt và những kẻ chúng ta gặp sau đó luôn có những sợi dây liên kết vô hình nào đấy. Vì Chúa, xin anh đừng đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa gã đàn ông đó với tôi. Ngày mai muốn rượt đuổi theo hắn thế nào tùy ý; nhưng tuyệt đối đừng mang hắn đến gần tôi, nếu anh không muốn thấy tôi chết vì kinh hãi. Và giờ thì, chúc ngủ ngon; hãy về phòng và cố gắng ngủ vùi để quên đi mọi ký ức về buổi tối hôm nay đi. Riêng tôi, tôi chắc chắn mình sẽ chẳng tài nào nhắm nổi mắt đâu.”
Nói xong, nữ bá tước rời khỏi Franz, để lại cậu trong nỗi hoang mang chẳng biết nàng chỉ đang đùa cợt trên sự tò mò của cậu hay những nỗi sợ và sự kích động kia là thật lòng.
Trở về khách sạn, Franz thấy Albert đang mặc áo ngủ và đi dép lê, uể oải nằm dài trên sô-pha và phì phèo điếu xì-gà.
“Bạn hiền!” cậu ta kêu lên, vùng dậy, “thực sự là cậu đấy phỏ? Chà, tớ cứ tưởng phải đến ngày mai mới gặp lại cậu cơ chứ.”
“Albert thân mến,” Franz đáp, “tớ rất mừng vì có cơ hội này để nói cho cậu biết một lần lào là mãi mãi rằng cậu đang mang một quan niệm vô cùng sai lầm về phụ nữ Ý. Tớ cứ ngỡ những thất bại liên miên trong mọi cuộc tình của cậu bấy lâu nay đã đủ để dạy cho cậu bài học này rồi chứ.”
“Thề có Chúa, tụi phụ nữ này làm khó cả ma quỷ nếu muốn đọc vị cho đúng ý họ đấy. Nhìn xem — họ trao tay cho cậu — họ siết chặt tay cậu đáp trả — họ duy trì những câu chuyện thì thầm — cho phép cậu hộ tống về nhà. Chà, nếu một tiểu thư Paris mà dám trưng ra dù chỉ một phần tư những biểu hiện quan tâm đầy tán tỉnh ấy, danh tiếng của nàng ta coi như tiêu đời vĩnh viễn.”
“Và lý do chính khiến phụ nữ ở đất nước tuyệt vời này — nơi ‘tiếng si ngân vang’, như Dante viết — lại ít gò bó lời nói và hành động đến thế, là bởi họ sống quá nhiều ở nơi công cộng và thực ra chẳng có gì phải che giấu cả. Hơn nữa, chắc chắn cậu cũng phải nhận ra nữ bá tước thực sự hoảng sợ mà.”
“Vì cái gì chứ? Vì chạm trán vị quý ông đáng kính ngồi đối diện chúng ta trong cùng lô gô với cô gái Hy Lạp xinh đẹp á? Này nhé, tớ vừa chạm trán họ ở sảnh sau khi vở diễn kết thúc, và đố cậu tìm ra mấy khái niệm về thế giới bên kia từ đâu ra đấy. Tớ đảm bảo với cậu rằng cái gã yêu tinh của cậu đúng là một tay cực kỳ đẹp trai — ăn vận chỉnh tề. Thậm chí tớ dám cá qua kiểu dáng cắt may, trang phục của hắn ta do một thợ may hàng đầu Paris thực hiện — có lẽ là Blin hoặc Humann đấy. Hắn có hơi xanh xao một chút thật; nhưng cậu biết đấy, làn da xanh xao vẫn luôn được xem là minh chứng đanh thép cho dòng dõi quý tộc và phong thái xuất chúng mà.”
Franz mỉm cười; vì cậu thừa nhớ Albert luôn đặc biệt tự hào về sự vắng bóng sắc hồng trên làn da của chính mình.
“Chà, điều đó càng củng cố thêm suy nghĩ của tớ,” Franz nói, “rằng những nghi ngờ của nữ bá tước hoàn toàn vô căn cứ và chẳng có chút logic nào. Hắn có nói câu nào khi cậu ở đó không? Cậu có bắt được từ nào của hắn không?”
“Có chứ; nhưng chúng được thốt bằng phương ngữ Romaic. Tớ nhận ra điều đó nhờ sự pha trộn của các từ tiếng Hy Lạp. Tớ không biết mình từng kể với cậu chưa, hồi còn đi học tớ khá là... khá là cừ về tiếng Hy Lạp đấy.”
“Hắn nói tiếng Romaic cơ à?”
“Tớ nghĩ thế.”
“Thế thì rõ rồi,” Franz lẩm bẩm. “Chính là hắn, không còn nghi ngờ gì nữa.”
“Cậu nói gì cơ?”
“Không có gì, không có gì. Nhưng nói nghe xem, lúc tớ bước vào cậu đang nghĩ gì thế?”
“Ồ, tớ đang chuẩn bị một bất ngờ nhỏ cho cậu đây.”
“Thật á? Bất ngờ gì thế?”
“Thì, cậu biết rõ việc thuê được một chiếc xe ngựa lúc này là điều bất khả thi mà.”
“Tất nhiên; và tớ cũng biết chúng ta đã làm mọi cách trong khả năng con người để cố kiếm lấy một chiếc rồi.”
“Thế rồi, giữa lúc khó khăn đó, một ý tưởng lóe lên trong đầu tớ.”
Franz nhìn Albert với ánh mắt chẳng mấy đặt niềm tin vào sức tưởng tượng của cậu ta.
“Này nhé, Monsieur Franz,” Albert kêu lên, “cậu xứng đáng bị thách đấu vì cái ánh mắt hoài nghi và ngờ vực vừa dành cho tớ đấy.”
“Và tớ hứa sẽ cho cậu sự thỏa mãn của một quý ông nếu kế hoạch của cậu tài tình đúng như những gì cậu đang khoác lác.”
“Được rồi, vậy thì hãy lắng nghe đây.”
“Tớ đang nghe đây.”
“Cậu đồng ý là việc kiếm xe ngựa là chuyện hoang đường đúng không?”
“Đúng.”
“Chúng ta cũng chẳng thể kiếm nổi ngựa?”
“Chuẩn; chúng ta đã treo thưởng bất kỳ giá nào nhưng vẫn thất bại.”
“Thế thì, cậu nghĩ sao về một chiếc xe bò? Tớ dám cá là loại đó vẫn kiếm được.”
“Rất có thể.”
“Và một cặp bò kéo?”
“Cũng dễ tìm như xe bò thôi.”
“Thế thì cậu thấy đấy, bạn hiền, với một chiếc xe bò và một cặp bò, mọi chuyện của chúng ta được giải quyết. Chiếc xe phải được trang trí thật nhã nhặn; và nếu cậu với tớ hóa trang thành những gã thợ gặt người Neapolitan, chúng ta có thể dựng lên một bức tranh sống động phỏng theo tác phẩm tuyệt mỹ của Léopold Robert. Mọi thứ sẽ càng hiệu quả hơn nếu nữ bá tước chịu gia nhập nhóm chúng ta trong trang phục thiếu nữ vùng Pozzuoli hoặc Sorrento. Nhóm của chúng ta khi ấy sẽ hoàn hảo tuyệt đối, nhất là khi nữ bá tước đủ xinh đẹp để đóng vai Đức Mẹ.”
“Chà,” Franz nói, “lần này thì Monsieur Albert, tớ phải công nhận là cậu vừa nảy ra một ý tưởng siêu việt đấy.”
“Lại mang đậm bản sắc dân tộc nữa chứ,” Albert tự đắc đáp. “Một màn hóa trang mượn từ lễ hội của chính chúng ta. Ha ha, lũ người Roma nhé! Cứ tưởng có thể bắt tụi lữ khách khốn khổ chúng mày lê lết theo sau những đoàn diễu hành như lũ lazzaroni vì thành phố nghèo kiết xác của chúng mày chẳng kiếm đâu ra một cỗ xe hay con ngựa nào. Nhưng chúng mày nhầm to; khi không có thứ này, bọn tao sẽ phát minh ra thứ khác.”
“Và cậu đã phổ biến ý tưởng đắc thắng này cho ai chưa?”
“Mỗi chủ nhà trọ thôi. Vừa về đến nhà là tớ cho gọi lão lên và giải thích những gì tớ muốn kiếm. Lão ta đảm bảo rằng chẳng có gì dễ hơn việc cung cấp tất cả những thứ tớ đòi hỏi. Chỉ có một điều làm tớ tiếc; lúc tớ bảo lão mạ vàng sừng con bò, lão ta bảo không kịp vì việc đó mất tận ba ngày; thế nên chúng ta đành phải nhịn cái sự sung sướng nhỏ nhặt này vậy.”
“Và hắn đang ở đâu?”
“Ai cơ?”
“Chủ nhà trọ chứ ai.”
“Đi lùng phương tiện di chuyển cho chúng ta rồi, chứ để đến ngày mai thì muộn mất.”
“Thế thì lão ấy sẽ trả lời chúng ta ngay tối nay nhỉ.”
“Ồ, tớ đang ngóng lão từng phút đây.”
Đúng lúc đó, cánh cửa bật mở và cái đầu của Signor Pastrini thò vào. “Permesso?” lão hỏi.
“Được chứ, được chứ,” Franz kêu lên. “Vào đi, chủ nhà thân mến.”
“Nào,” Albert sốắng sắng hỏi, “đã tìm ra chiếc xe bò và cặp bò theo ý muốn chưa?”
“Còn hơn thế nữa cơ!” Signor Pastrini đáp với vẻ mặt mãn nguyện tột cùng.
“Cẩn thận đấy, chủ nhà trọ thân mến,” Albert cản lại, “cái tốt thường là kẻ thù của cái hoàn hảo đấy.”
“Hai ngài cứ mặc cứ phó mặc mọi chuyện cho tôi,” Signor Pastrini đáp với giọng điệu ngập tràn tự tin.
“Thế rốt cuộc ông đã làm được gì?” Franz hỏi. “Nói toẹt ra đi, bạn hiền.”
“Hai ngài thừa biết đấy,” lão chủ nhà ưỡn ngực đắc ý, “rằng Bá tước Monte Cristo đang ở cùng một tầng lầu với hai ngài!”
“Tụi này thừa biết là đằng khác,” Albert thốt lên, “vì chính nhờ hoàn cảnh oái oăm đó mà chúng ta mới bị nhét vào những căn phòng chật chội này, y như hai cậu sinh viên nghèo túng ở góc khuất Paris vậy.”
“Thế nên, khi Bá tước Monte Cristo hay tin về tình thế khó xử của hai ngài, ngài ấy đã sai người đến mời hai ngài chia sẻ chỗ trên xe ngựa của ngài ấy, đồng thời tặng hai chỗ ngồi tại ô cửa sổ của ngài ấy ở cung điện Palazzo Rospoli.” Hai người bạn ngước nhìn nhau đầy kinh ngạc không nói nên lời.
“Nhưng cậu có nghĩ,” Albert thắc mắc, “rằng chúng ta nên nhận lời đề nghị từ một kẻ hoàn toàn xa lạ như thế không?”
“Vị Bá tước Monte Cristo này là người thế nào?” Franz hỏi chủ nhà.
“Một nhà quý tộc rất lớn, nhưng là người Malta hay Sicily thì tôi không dám chắc; chỉ biết rằng ngài ấy cao quý tựa nhà Borghese và giàu có chẳng kém mỏ vàng.”
“Tớ thấy thế này,” Franz thì thầm với Albert, “nếu con người này thực sự xứng đáng với những lời ca tụng ngút trời của lão chủ nhà, thì hẳn ngài ta đã gửi lời mời qua một kênh khác chứ không phải để nó được mang tới theo cái kiểu xuề xòa này. Ngài ấy lẽ ra phải viết thư — hoặc là——”
Ngay lúc đó, tiếng gõ cửa vang lên.
“Vào đi,” Franz nói.
Một tên gia nhân diện bộ đồng phục cực kỳ lịch lãm và sang trọng xuất hiện ở ngưỡng cửa, đặt hai tấm danh thiếp vào tay chủ nhà, và lão lập tức dâng lên cho hai chàng trai, rồi hắn cất lời:
“Xin gửi những thứ này từ Bá tước Monte Cristo đến Tử tước Albert de Morcerf và ngài Franz d’Épinay. Bá tước Monte Cristo,” tên gia nhân tiếp lời, “xin phép các ngài cho phép ngài ấy được ghé thăm với tư cách là người hàng xóm, và ngài ấy sẽ rất vinh hạnh nếu nhận được thông báo về thời điểm hai ngài sẵn sàng tiếp đón.”
“Thề có Chúa, Franz,” Albert thì thầm, “chẳng có điểm gì để chê trách ở đây cả.”
“Hãy nhắn lại với bá tước rằng chúng tôi rất vinh hạnh được sang diện kiến ngài ấy,” Franz đáp.
Tên gia nhân cúi đầu lui ra.
“Đấy mới gọi là kiểu tấn công thanh lịch chứ,” Albert nói. “Cậu nói chuẩn không cần chỉnh, Signor Pastrini ạ. Bá tước Monte Cristo đích thị là một người có giáo dục và am hiểu thế thượng lưu hàng đầu.”
“Thế hai ngài nhận lời đề nghị chứ?” lão chủ nhà hỏi.
“Tất nhiên rồi,” Albert đáp. “Dù vậy, thú thực tớ vẫn thấy tiếc vì phải từ bỏ chiếc xe bò và nhóm thợ gặt — hẳn nó đã tạo ra hiệu ứng bùng nổ lắm đấy! Và nếu không vì mấy ô cửa sổ ở cung điện Palazzo Rospoli để bù đắp cho sự mất mát của kế hoạch tuyệt mỹ ấy, tớ chưa chắc đã bỏ qua dự định ban đầu đâu. Cậu thấy sao, Franz?”
“Ồ, tớ đồng ý với cậu; chính mấy ô cửa sổ tại Palazzo Rospoli mới là thứ quyết định tớ.”
Sự thật là việc nhắc đến hai chỗ ngồi ở Palazzo Rospoli đã kéo trí nhớ Franz trở lại cuộc trò chuyện tối hôm trước giữa gã bí ẩn và tên người Transtevere trong tàn tích đấu trường Colosseum, nơi kẻ khoác áo choàng đã nhận trách nhiệm giải cứu một tử tù; và nếu nhân vật trùm kín mít đó chứng minh được (như Franz đinh ninh chắc chắn) chính là kẻ cậu vừa chạm trán tại Teatro Argentina, thì cậu sẽ có thể vạch trần danh tính hắn, đồng thời tiến hành các cuộc điều tra liên quan một cách vô cùng thuận lợi và tự do.
Franz trải qua đêm dài trong những giấc mơ hỗn độn về hai lần chạm trán kẻ hành hạ bí ẩn của mình, kèm theo những suy đoán tỉnh táo về những gì ngày mai sẽ mang lại. Ngày hôm sau chắc chắn sẽ làm sáng tỏ mọi nghi ngờ; và trừ phi người hàng xóm kiêm "ân nhân hụt" Bá tước Monte Cristo sở hữu chiếc nhẫn của Gyges và có năng lực tàng hình nhờ nó, còn không thì chắc chắn hắn không thể trốn thoát lần này.
Tám giờ sáng, Franz đã thức dậy và chỉnhốn trang phục, trong khi Albert — kẻ không có cùng động lực dậy sớm — vẫn đang say giấc nồng. Việc đầu tiên của Franz là gọi chủ nhà trọ, và lão xuất hiện với vẻ khép nép quen thuộc.
“Này Signor Pastrini,” Franz hỏi, “hôm nay có buổi hành quyết nào được ấn định diễn ra không thế?”
“Vâng, thưa ngài; nhưng nếu ngài hỏi để kiếm một ô cửa sổ ngắm nhìn thì e rằng ngài đến muộn mất rồi.”
“Ồ, không,” Franz đáp; “tôi đâu có ý định đó; và dẫu có thèm muốn chứng kiến cảnh tượng ấy đi nữa, tôi hoàn toàn có thể xem từ đồi Monte Pincio mà, phải không?”
“À!” lão chủ nhà kêu lên, “tôi không nghĩ ngài lại chọn cách hòa mình vào đám đông ô hợp hay tụ tập trên ngọn đồi đó — nơi mà bọn chúng vốn coi là lãnh địa độc quyền của riêng mình.”
“Rất có thể tôi sẽ không đến đó,” Franz đáp; “nhưng nhỡ hứng lên, hãy cung cấp cho tôi vài thông tin chi tiết về các vụ hành quyết hôm nay đi.”
“Ngài muốn nghe những chi tiết nào ạ?”
“Chà, số lượng kẻ bị kết án, tên tuổi của chúng, và hình thức xử tử.”
“Thật là may mắn làm sao, thưa ngài! Mới vài phút trước người ta vừa mang tavoletta tới đây cho tôi xong.”
“Chúng là cái gì thế?”
“Một dạng bảng gỗ được treo ở các góc phố vào buổi tối trước ngày hành quyết, trên đó dán một tờ giấy ghi tên những kẻ tử tội, tội danh và hình thức thi hành án. Lý do công bố rùm beng như vậy là để mọi người Công giáo tốt lành có thể cầu nguyện cho những kẻ bất hạnh ấy, và trên hết là van xin Thiên Chúa ban cho họ sự ăn năn thành khẩn.”
“Và những tấm bảng này được mang tới cho ông để ông cộng dồn lời cầu nguyện cùng đám tín đồ phải không?” Franz hoài nghi hỏi.
“Ôi dào, không đâu thưa ngài! Tôi nào có thời gian lo chuyện thiên hạ ngoài việc quản lý bản thân và những vị khách quý của mình; nhưng tôi có thỏa thuận với kẻ dán giấy, và hắn mang chúng đến cho tôi y như cách phát tờ rơi kịch vậy, nhỡ có vị khách nào trọ tại đây muốn mục kích một buổi hành quyết thì sẽ nắm bắt được mọi thông tin cần thiết về thời gian, địa điểm, v.v.”
“Nói thật nhé, ông chu đáo thật đấy, Signor Pastrini,” Franz thốt lên.
“Thì thưa ngài,” lão chủ nhà cười khúc khích, xoa hai bàn tay đầy mãn nguyện, “tôi nghĩ mình có thể tự hào mà nói rằng tôi chẳng bỏ sót điều gì để xứng đáng với sự ủng hộ và chiếu cố của các vị khách quý dành cho cái khách sạn nghèo nàn này.”
“Tôi thấy rõ điều đó rồi, chủ nhà xuất sắc ạ, và ông hoàn toàn có thể tin tưởng vào việc tôi sẽ đi rao giảng bằng chứng rõ mồn một về sự tận tâm của ông với khách hàng ở bất cứ đâu tôi đặt chân tới. Trong lúc này, làm ơn cho tôi ngắm qua một trong những tấm tavoletta đó xem nào.”
“Chẳng có gì dễ hơn việc chiều ý ngài,” lão chủ nhà nói, mở toang cửa phòng; “tôi đã bảo người đặt một cái ngay ngoài chiếu nghỉ, sát sạt căn hộ của ngài đây.”
Rồi, gỡ tấm bảng trên tường xuống, lão trao nó cho Franz, và cậu đọc những dòng sau:
“‘Công chúng được thông báo rằng vào thứ Tư, ngày 23 tháng 2, tức ngày đầu tiên của lễ hội Carnival, các vụ hành quyết sẽ diễn ra tại Piazza del Popolo theo lệnh của Tòa án Rota đối với hai kẻ mang tên Andrea Rondolo và Peppino, còn gọi là Rocca Priori; kẻ thứ nhất bị kết tội sát hại vị linh mục đáng kính và mẫu mực Don César Torlini, kinh sĩ nhà thờ St. John Lateran; kẻ thứ hai bị kết án là đồng phạm của tên cướp khát máu Luigi Vampa cùng băng nhóm của hắn. Kẻ phạm tội đầu tiên sẽ chịu hình thức mazzolato, kẻ thứ hai bị decapitato.
‘Xin hãy dâng lời cầu nguyện của mọi Kitô hữu tốt lành cho những kẻ khốn khổ này, cầu xin Chúa thức tỉnh họ nhận ra tội lỗi và ban cho họ sự ăn năn thành khẩn đối với những tội ác đã gây ra.’”
Đúng y chang những gì Franz từng nghe tối hôm trước trong tàn tích đấu trường Colosseum. Chẳng có lấy một chi tiết nào trong lịch trình khác biệt — tên tuổi của những kẻ tử tội, tội ác và hình thức xử tử, tất cả đều trùng khớp hoàn toàn với thông tin cậu thu thập trước đó. Do đó, xét mọi xác suất, gã người Transtevere chẳng phải ai khác ngoài tên cướp Luigi Vampa, còn kẻ trùm áo choàng chính là người mà cậu từng biết đến với danh xưng "Thủy thủ Sinbad", nhưng nay chắc chắn vẫn đang tiếp tục sứ mệnh thiện nguyện của hắn ở Roma, y như những gì từng làm ở Porto-Vecchio và Tunis.
Tuy nhiên, thời gian chẳng chờ đợi ai, và Franz thấy cần phải đánh thức Albert; nhưng ngay khoảnh khắc cậu toan bước sang phòng bạn, Albert đã bước vào phòng với bộ trang phục chỉnh tề sẵn sàng cho cả ngày. Sự náo nhiệt được mong chờ của lễ hội Carnival cứ luẩn quẩn trong đầu khiến cậu ta rời khỏi giường từ lâu trước giờ thức dậy thông thường.
“Nào, Signor Pastrini thân mến,” Franz cất lời khi thấy chủ nhà, “vì cả hai chúng tôi đã sẵn sàng, ông nghĩ chúng ta có thể sang diện kiến ngay Bá tước Monte Cristo được chưa?”
“Chắc chắn rồi,” lão đáp. “Bá tước Monte Cristo luôn dậy sớm; và tôi có thể bảo đảm ngài ấy đã thức dậy từ hai tiếng trước rồi.”

“Thế thì ông thực sự nghĩ chúng ta sẽ không làm phiền nếu đến chào hỏi ngài ấy ngay lúc này chứ?”
“Ồ, tôi hoàn toàn chắc chắn. Tôi sẽ gánh mọi trách nhiệm nếu ngài thấy tôi dẫn đường sai sót.”
“Thế thì, nếu mọi chuyện đã rõ, cậu sẵn sàng chưa Albert?”
“Hoàn toàn rồi.”
“Đi thôi, sang gửi lời cảm ơn chân thành nhất vì sự nhã nhặn của ngài ấy nào.”
“Ừ, đi thôi.”
Lão chủ nhà đi trước hai người qua khoảng chiếu nghỉ — khoảng không gian duy nhất ngăn cách căn hộ của họ với phòng ốc của bá tước — chuông cửa vang lên, và khi cánh cửa được một tên gia nhân mở toang, lão cất tiếng:
“I signori Francesi.”
Tên gia nhân cung kính cúi đầu mời họ bước vào. Họ đi qua hai căn phòng được trang hoàng sang trọng ngoài sức tưởng tượng dưới một mái nhà như của Signor Pastrini, rồi được dẫn vào một phòng khách được thiết kế vô cùng tinh tế. Những tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ xa hoa nhất phủ kín sàn nhà, những chiếc ghế dài, ghế bành bọc đệm êm ái và mềm mại nhất mời gọi những ai tìm kiếm sự nghỉ ngơi hay thư giãn bằng những lớp đệm dày dặn, nhún nhảy. Những bức tranh tuyệt mỹ của các bậc thầy được treo dọc các bức tường, đan xen với những chiến tích chiến tranh lộng lẫy, trong khi những tấm rèm thêu nặng trĩu bằng vải gấm đắt tiền được buông hờ hững trước các khung cửa trong phòng.
“Nếu hai ngài vui lòng ngồi xuống,” tên gia nhân nói, “tôi sẽ vào bẩm với bá tước rằng hai ngài đã tới.”
Nói đoạn, hắn biến mất sau một tấm rèm thêu. Ngay khi cánh cửa hé mở, âm thanh của một cây đàn guzla lọt vào tai hai chàng trai, nhưng rồi lập tức vụt tắt bởi tiếng đóng cửa nhanh gọn chỉ kịp cho phép một đợt hòa âm phong phú len lỏi vào không gian. Franz và Albert ngước nhìn nhau đầy dò hỏi, rồi lại nhìn quanh nội thất lộng lẫy của căn phòng. Mọi thứ trông còn tráng lệ hơn gấp bội qua cái nhìn thứ hai so với màn khảo sát chớp nhoáng ban đầu.
“Chà,” Franz quay sang nói với bạn, “cậu nghĩ sao về tất cả những thứ này?”
“Thề có Chúa, bạn hiền ạ, tớ có cảm giác người hàng xóm lịch lãm và chu đáo của chúng ta hoặc là một tay buôn chứng khoán phất lên nhờ đánh cược vào sự suy thoái của công trái Tây Ban Nha, hoặc là một vị hoàng tử đang du hành cải trang ẩn danh rồi.”
“Suỵt, suỵt!” Franz đáp; “chúng ta sẽ sớm biết hắn là ai và làm nghề gì thôi — ngài ấy tới kìa!”

Vừa dứt lời, Franz nghe thấy tiếng cửa bản lề cọt kẹt quay, và gần như ngay lập tức tấm rèm thêu được vén lên, chủ nhân của toàn bộ sự giàu sang ấy hiện diện trước mặt hai chàng trai. Albert lập tức đứng dậy đón chào, nhưng Franz thì cứ ngây người như bị thôi miên trên chiếc ghế; bởi ở nhân vật vừa bước vào, cậu không chỉ nhận ra vị khách bí ẩn ở đấu trường Colosseum, vị khán giả trong lô gô tại Teatro Argentina, mà còn chính là người chủ nhà kỳ lạ của cậu tại Monte Cristo.