Bá tước Monte Cristo

Lượt đọc: 324 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26
Quán trọ Pont du Gard

❊ ❊ ❊

Những độc giả nào từng làm một chuyến đi bộ về miền nam nước Pháp có lẽ đã từng để ý, vào khoảng giữa thị trấn Beaucaire và làng Bellegarde — gần thị trấn hơn một chút — có một quán trọ nhỏ bên đường. Trước quán có treo một tấm tôn kẽt kẹt và lật phần phật trong gió, trên vẽ phác họa hình ảnh cầu Pont du Gard một cách kỳ quặc. Nơi dừng chân hiện đại này nằm ở phía bên trái con đường cái quan, và tựa lưng vào sông Rhône. Nó cũng khoe khoang một thứ mà ở vùng Languedoc gọi là khu vườn, gồm một mảnh đất nhỏ nằm ở phía đối diện lối vào chính, dành để đón tiếp khách khứa. Vài kh cây ô-liu xỉn màu và sung còi cọc chật vật giành giật sự sống, nhưng những tán lá khô héo, đầy bụi của chúng đã chứng minh rõ ràng cuộc chiến ấy bất công đến nhường nào. Giữa những bụi cây ốm yếu ấy mọc lác đác vài khóm tỏi, cà chua và hẹ tây; trong khi đó, đơn độc và lẻ loi như một người lính gác bị lãng quên, một cây thông cao vót giương chiếc đầu ủ rũ ở một góc của chốn kém hấp dẫn này, phô ra thân cây dẻo dai và tán lá hình quạt đã khô nứt dưới sức nóng thiêu đốt của mặt trời cận nhiệt đới.

Tất cả những cái cây ấy, lớn hay nhỏ, đều ngả về hướng gió Mistral thổi — một trong ba tai họa của xứ Provence, hai tai họa kia là sông Durance và Nghị viện.

Nơi vùng đồng bằng xung quanh, vốn trông giống một hồ nước đầy bụi hơn là đất liền, rải rác vài cọng lúa mì còi cọc, chắc hẳn là hậu quả từ một sự tò mò kỳ lạ của giới nông dân trong vùng nhằm xem việc trồng ngũ cốc ở những vùng đất khô cằn ấy có khả thi hay không. Mỗi cọng lúa là một chỗ đậu cho một con châu chấu, với tiếng kêu rít đều đều, nó tấu khúc nhạc làm vui lòng những lữ khách qua đường giữa khung cảnh Ai Cập này.

Khoảng bảy, tám năm nay, quán rượu nhỏ do một cặp vợ chồng quản lý cùng hai người hầu — một cô hầu phòng tên là Trinette, và một người dắt ngựa tên là Pecaud. Đội ngũ ít ỏi này hoàn toàn đáp ứng đủ mọi nhu cầu, bởi một con kênh đào nối Beaucaire với Aiguemortes đã cách mạng hóa việc vận chuyển bằng cách thay thế xe bò và xe ngựa bằng thuyền bè. Và như để nhân lên nỗi bất hạnh hằng ngày mà con kênh thịnh vượng này giáng xuống người chủ quán khốn khổ — kẻ đang nhanh chóng đẩy hắn đến bờ vực phá sản hoàn toàn, quán trọ lại nằm giữa dòng sông Rhône bắt nguồn và con đường cái quan mà nó đã làm vắng bóng khách, cách quán trọ chưa đầy một trăm bước chân — nơi mà chúng ta vừa phác thảo một cách ngắn gọn nhưng chân thực.

Bản thân chủ quán là một người đàn ông trạc từ bốn mươi đến năm mươi lăm tuổi, cao lớn, lực lưỡng và gân guốc, một mẫu hình hoàn hảo của cư dân miền nam ấy; hắn có đôi mắt đen, sáng quắc và trũng sâu, sống mũi khoằm và hàm răng trắng như loài thú ăn thịt; mái tóc hắn, cũng giống như bộ râu quai nón mọc dưới cằm, dày và xoăn, dù đã có tuổi nhưng chỉ lấm tấm vài sợi bạc. Làn da vốn sẫm màu của hắn lại càng sạm đi vì thói quen xấu mà kẻ khốn khổ này đã nhiễm phải: đứng từ sáng đến tối ngay bậc cửa, ngóng chờ những vị khách hiếm hoi ghé qua. Hắn cứ đứng đó ngày qua ngày dưới ánh nắng gay gắt của miền nam, chẳng có gì che đầu ngoài chiếc khăn đỏ quấn quanh theo kiểu những kẻ dẫn la người Tây Ban Nha. Người đàn ông này chính là người quen cũ của chúng ta, Gaspard Caderousse.

Ngược lại, vợ hắn, nhũ danh là Madeleine Radelle, lại xanh xao, gầy gò và mang vẻ mặt ốm yếu. Sinh ra ở vùng lân cận Arles, bà từng sở hữu vẻ đẹp nổi tiếng của những người phụ nữ nơi đây; nhưng nét đẹp ấy đã phai tàn dần dưới ảnh hưởng tàn phá của cơn sốt rét âm ỉ vốn hoành hành trong những cư dân sống bên các đầm lầy Aiguemortes và vùng đất ngập nước Camargue. Bà hầu như luôn ở trong căn phòng tầng hai, co ro trên ghế, hoặc nằm dài phờ phạc, yếu ớt trên giường, trong khi chồng bà canh gác ngoài cửa suốt cả ngày — một nhiệm vụ mà hắn thực hiện với sự sẵn lòng lớn đến thế, bởi nó giúp hắn tránh phải nghe những lời than vãn, cằn nhãi không dứt của người vợ, người chưa bao giờ nhìn thấy hắn mà không tuôn ra những lời cay độc nguyền rủa số phận; để rồi người chồng chỉ điềm tĩnh đáp lại bằng một câu trả lời duy nhất qua những lời đầy vẻ triết lý này:

“Im đi, La Carconte. Đó là ý Chúa muốn mọi sự diễn ra như vậy.”

Biệt hiệu La Carconte đã được gắn cho Madeleine Radelle bởi bà sinh ra ở một ngôi làng cùng tên, nằm giữa Salon và Lambesc; và vì cư dân ở vùng đất nơi Caderousse sống có thói quen gọi mỗi người bằng một biệt danh riêng biệt, chồng bà đã đặt cho bà cái tên La Carconte thay cho cái tên ngọt ngào, êm ái Madeleine của bà — một cái tên mà rất có thể chất giọng khàn đẹt, thô ráp của hắn không tài nào phát âm nổi.

Tuy nhiên, chớ nên tưởng rằng giữa sự nhẫn nhục giả tạo trước ý muốn của Đấng Tối Cao ấy, người chủ quán khốn khổ lại không quằn quại dưới nỗi đau kép: vừa chứng kiến con kênh đáng ghét cướp đi khách hàng lẫn lợi nhuận, vừa phải chịu đựng những lời cằn nhãi, than khóc đầy cáu kỉnh của người vợ đỏng đảnh mỗi ngày.

Giống như những cư dân khác ở miền nam, hắn là một người có lối sống điều độ và mong muốn khiêm nhường, nhưng lại thích vẻ hào nhoáng bên ngoài, hư vinh và mê phô trương. Những ngày tháng thịnh vượng trước kia, chẳng có lễ hội nào diễn ra mà vợ chồng hắn lại không có mặt trong số những khán giả. Hắn ăn mặc theo trang phục rực rỡ mà cư dân miền nam nước Pháp thường mặc trong những dịp đại lễ, trông vừa giống phong cách của người Catalan vừa giống người Andalusia; trong khi La Carconte diện mốt quyến rũ thịnh hành của những phụ nữ Arles, một kiểu trang phục vay mượn từ cả Hy Lạp lẫn Ả Rập. Nhưng dần dần, dây đồng hồ, vòng cổ, khăn choàng sặc sỡ, áo nịt thêu, áo ghi-lê nhung, tất dệt tinh xảo, xà cạp kẻ sọc và khóa giày bằng bạc đều lần lượt biến mất; và Gaspard Caderousse, không còn khả năng xuất hiện nơi đông người với vẻ lộng lẫy thuở ban đầu, đã từ bỏ mọi chốn hoa lệ và hư vinh cho cả vợ lẫn mình, mặc dù một cảm giác ghen tị đắng cay vẫn ngập tràn tâm trí hắn khi tiếng cười vui và âm nhạc rộn rã từ những kẻ đang hoan ca vọng đến tận quán trọ khốn khổ — nơi hắn vẫn bám trụ, cốt để che mưa che nắng nhiều hơn là vì lợi nhuận mà nó mang lại.

Thế là Caderousse, cũng như mọi khi, đang đứng ở trạm quan sát trước cửa, đôi mắt lơ đễnh đảo từ một đám cỏ xén ngắn — nơi vài con gà đang cần mẫn nhưng vô vọng bới tìm hạt hay côn trùng hợp khẩu vị — ra con đường vắng lặng dẫn về hướng bắc và nam, thì hắn bị giật mình bởi giọng nói đanh thé của vợ. Vừa lầm bầm phàn nàn một mình, hắn vừa bước lên lác gác, nhưng trước tiên không quên mở toang cửa ra vào để mời gọi bất kỳ vị lữ khách nào vô tình đi ngang qua.

Vào khoảnh khắc Caderousse rời khỏi vị trí canh gác trước cửa, con đường mà hắn vừa đăm đăm hướng mắt nhìn ra vốn trống trải và cô tịch như một hoang mạc giữa ngọ. Nó nằm đó, trải dài thành một dải bụi và cát vô tận, hai bên lề viền những hàng cây cao gầy, tổng thể mang một vẻ ngoài vô cùng ảm đạm đến mức không một kẻ nào còn tỉnh táo lại có thể tưởng tượng rằng có vị lữ khách nào, được tự do sắp xếp giờ giấc đi lại, lại chọn cách phơi mình giữa một Sahara đáng sợ đến thế.

Tuy nhiên, giá như Caderousse chịu ở lại vị trí thêm vài phút nữa, hắn hẳn đã bắt gặp bóng dáng mờ ảo của một thứ gì đó đang tiến lại từ hướng Bellegarde; khi vật thể chuyển động đến gần hơn, hắn sẽ dễ dàng nhận ra đó là một người và một ngựa, giữa họ dường như tồn tại một sự thấu hiểu vô cùng thân thiết và hòa hợp. Con ngựa thuộc giống Hung-ga-ri, thong thả bước đi với nhịp điệu nhẹ nhàng. Kỵ mã của nó là một vị linh mục, mặc áo đen và đội chiếc mũ tam giác; bất chấp những tia nắng gay gắt của buổi trưa hè, cả hai vẫn tiến tới với một tốc độ khá nhanh.

Đến trước quán Pont du Gard, con ngựa dừng lại, nhưng thật khó để nói là do nó tự ý hay theo ý chủ. Dù thế nào đi nữa, vị linh mục cũng xuống ngựa, cầm cương dắt nó đi tìm chỗ buộc. Tận dụng một chiếc khuyên nhô ra từ một cánh cửa đã mục nát một nửa, ông buộc con vật lại một cách chắc chắn; sau đó, rút chiếc khăn tay bằng vải bông đỏ trong túi ra lau mồ hôi nhễ nhại trên trán, ông bước tới trước cửa và gõ ba tiếng bằng đầu chiếc gậy bọc sắt của mình.

Trước âm thanh bất thường ấy, một con chó đen to lớn lao xổ ra để đối phó với kẻ cả gan xâm phạm chốn vốn dĩ yên bình của nó, nhe nanh gầm gừ cùng vẻ thù địch quyết liệt, chứng minh rõ ràng rằng nó ít khi nào quen tiếp xúc với xã hội loài người. Đúng lúc ấy, một tiếng bước chân nặng nề vang lên trên cầu thang gỗ dẫn từ tầng trên xuống, và với muôn vàn cái cúi đầu cùng nụ cười lịch sự, người chủ quán Pont du Gard nài nỉ vị khách bước vào.

“Xin kính chào ngài, nhiệt liệt chào mừng ngài!” Caderousse ngạc nhiên lặp lại. “Nào, Margotin,” hắn cất tiếng quát con chó, “mày có chịu im đi không? Xin ngài đừng để ý đến nó! — nó chỉ sủa vậy thôi chứ không cắn đâu. Chắc chắn là một ly rượu ngon sẽ rất tuyệt vời trong cái nóng khủng khiếp này.” Rồi chợt nhận ra trang phục của vị lữ khách mà hắn đang tiếp đón, Caderousse vội vã thốt lên: “Ngàn lần tha lỗi cho tôi! Thú thật là tôi đã không để ý xem mình có vinh dự được đón tiếp ai dưới mái tranh nghèo này. Đức cha muốn dùng gì ạ? Tôi có thể dâng ngài thức uống gì đây? Tất cả những gì tôi có đều xin phục vụ ngài.”

Vị linh mục đăm đăm nhìn người đang nói với mình bằng ánh mắt dài và dò xét — thậm chí dường như còn có ý muốn nghênh đón một cái nhìn săm soi tương tự từ phía chủ quán; rồi, khi nhận ra trên nét mặt của đối phương không có biểu hiện nào khác ngoài sự ngạc nhiên tột độ vì sự lơ đễnh của chính mình trước một câu hỏi được diễn đạt vô cùng lịch thiệp, ông cho rằng tốt hơn là nên chấm dứt màn câm lặng này, liền cất lời với giọng Ý đặc sệt: “Chắc hẳn ngài là ông Caderousse?”

“Vâng, thưa ngài,” chủ quán đáp, thậm chí còn ngạc nhiên hơn bởi câu hỏi so với sự im lặng trước đó; “tôi là Gaspard Caderousse, xin sẵn lòng phục vụ ngài.”

“Gaspard Caderousse,” vị linh mục nhắc lại. “Phải — tên và họ đều khớp. Trước kia ngài từng sống ở khu Allées de Meilhan, trên tầng bốn phải không?”

“Đúng vậy.”

“Và ngài làm nghề thợ may?”

“Đúng thế, tôi từng làm thợ may, cho đến khi nghề nghiệp mai mốt. Ở Marseille trời nóng đến mức tôi thực sự tin rằng chẳng mấy chốc những cư dân đáng kính nơi đây sẽ đi lại mà chẳng cần mặc quần áo gì sất. Mà nhắc đến chuyện nóng nực, liệu tôi có thể mời ngài dùng chút gì để giải khát không?”

“Có chứ; hãy mang cho tôi một chai rượu ngon nhất của ngài, rồi, với sự cho phép của ngài, chúng ta sẽ tiếp tục câu chuyện từ chỗ đã dở dang.”

“Tùy ngài thôi,” Caderousse nói. Hắn vốn đang sốt sắng không muốn bỏ lỡ cơ hội bán đi một trong số ít những chai rượu Cahors còn sót lại trong nhà, nên vội vàng cạy một tấm cửa sập trên sàn căn phòng họ đang đứng — nơi vừa làm phòng khách vừa làm bếp.

Khi chui lên từ căn hầm tối tăm sau năm phút, hắn thấy vị tu sĩ đang ngồi trên một chiếc ghế đẩu bằng gỗ, tỳ khuỷu tay lên bàn, trong khi con Margotin — với sự thù địch dường như đã dịu đi trước lời đề nghị giải khát bất ngờ của vị khách — đã bò đến sát bên, ngồi rất thoải mái giữa hai chân ông. Chiếc cổ dài, gầy guộc của nó tựa lên đùi ông, còn đôi mắt mờ đục đăm đăm nhìn vào khuôn mặt vị lữ khách.

“Ngài ở có một mình thôi sao?” vị khách cất giọng hỏi khi Caderousse đặt chai rượu và một chiếc ly xuống trước mặt ông.

“Một mình, hoàn toàn một mình,” người đàn ông đáp — “hoặc ít ra là thế, vì tội nghiệp vợ tôi, người duy nhất trong nhà ngoài tôi ra, đang lâm trọng bệnh và chẳng thể giúp đỡ tôi chút gì, khổ thân bà ấy!”

“Vậy ra ngài đã có gia đình?” vị linh mục nói với vẻ tò mò, vừa nói vừa đảo mắt nhìn quanh đồ đạc nghèo nàn trong phòng.

“Ah, thưa ngài,” Caderousse thở dài nói, “thế mới thấy tôi chẳng phải kẻ giàu có gì; nhưng ở cái đời này, làm người lương thiện chẳng giúp kẻ ta khá giả hơn đâu.” Vị linh mục đăm đăm nhìn hắn bằng ánh mắt sắc bén, xuyên thấu.

“Đúng, lương thiện — ít ra tôi có thể tự hào khẳng định điều đó về bản thân,” chủ quán tiếp lời, hiên ngang chịu đựng ánh mắt săm soi của vị linh mục; “tôi có thể tự hào nói rằng mình là một người lương thiện; và,” hắn nói tiếp đầy ngụ ý, đặt tay lên ngực và lắc đầu, “đó là điều mà không phải ai ngày nay cũng dám nói.”

“Thế thì mừng cho ngài, nếu những gì ngài quả quyết là sự thật,” vị linh mục nói; “vì tôi đinh ninh rằng, sớm muộn gì thì người tốt cũng được thưởng, kẻ ác sẽ bị trừng phạt.”

“Những lời như thế là chuyên môn của ngài,” Caderousse đáp, “và ngài làm đúng khi nhắc lại chúng; nhưng,” hắn nói thêm với vẻ mặt đầy cay đắng, “người ta có quyền tin hay không tùy ý.”

“Ngài đã lầm khi nói thế,” vị linh mục bảo; “và biết đâu, chính bản thân tôi lại có thể chứng minh cho ngài thấy ngài đã sai lầm đến nhường nào.”

“Ý ngài là sao?” Caderousse ngạc nhiên hỏi.

“Trước hết, tôi phải chắc chắn rằng ngài chính là người tôi đang tìm kiếm.”

“Ngài cần bằng chứng gì?”

“Vào năm 1814 hoặc 1815, ngài có biết gì về một thủy thủ trẻ tên là Dantès không?”

“Dantès? Tôi có biết cậu Edmond tội nghiệp chứ? Chà, Edmond Dantès và tôi từng là bạn thâm giao đấy!” Caderousse thốt lên, mặt bỗng sầm lại khi bắt gặp ánh mắt sắc bén của vị linh mục đang dán chặt vào mình, trong khi đôi mắt trong trẻo, điềm tĩnh của người hỏi dường như giãn ra với sự quan sát đầy vẻ kích động.

“Ngài vừa nhắc tôi nhớ,” vị linh mục nói, “rằng người thanh niên mà tôi đang hỏi ngài mang tên là Edmond.”

“Mang tên là!” Caderousse lặp lại, trở nên hào hứng và sốt sắng. “Cậu ấy được gọi như thế chẳng kém gì tôi mang cái tên Gaspard Caderousse vậy; nhưng xin ngài hãy nói cho tôi biết, chuyện gì đã xảy ra với Edmond tội nghiệp rồi? Ngài có biết cậu ấy không? Cậu ấy còn sống và được tự do chứ? Cậu ấy có sung túc và hạnh phúc không?”

“Cậu ta đã chết trong cảnh tù đày khốn khổ, tuyệt vọng và đau đớn hơn cả những tên tội phạm phải trả giá cho tội ác tại nhà tù khổ sai Toulon.”

Một sắc tái xanh xao chết chóc bao trùm lên gương mặt Caderousse ngay sau nỗi nức nở vừa rồi. Hắn quay mặt đi, và vị linh mục nhìn thấy hắn đang dùng góc chiếc khăn đỏ quấn trên đầu để lau những giọt nước mắt lăn dài trên khóe mi.

“Tội nghiệp cậu ấy, tội nghiệp cậu ấy quá!” Caderousse lầm bầm. “Thế đấy, thưa ngài, đó lại là một bằng chứng nữa cho thấy người tốt chẳng bao giờ được đền đáp ở cõi đời này, và chẳng có ai ngoài kẻ ác là khá lên được. À,” Caderousse tiếp tục, dùng thứ ngôn ngữ bóng bẩy của miền Nam, “thế giới ngày càng tồi tệ hơn. Tại sao Chúa, nếu ngài thực sự ghét kẻ ác như người ta vẫn đồn đại, lại không giáng lửa và diêm sinh xuống thiêu rụi bọn chúng đi cho rồi?”

“Ngài nói cứ như thể ngài rất quý mến người thanh niên Dantès này vậy,” vị linh mục nhận xét, không hề bận tâm đến sự kích động của người đối thoại.

“Thì đúng là vậy mà,” Caderousse đáp; “dù thú thật, có lúc tôi từng ganh tị với vận may của cậu ấy. Nhưng tôi thề với ngài, thưa ngài, tôi thề bằng tất cả những gì trân quý nhất, rằng kể từ dạo ấy, tôi đã vô cùng sâu sắc và chân thành thương tiếc cho số phận bất hạnh của cậu ấy.”

Một khoảng im lặng ngắn ngủi diễn ra, trong khi ánh mắt đăm đăm, dò xét của vị linh mục đang bận quan sát nét mặt đầy dao động của chủ quán.

“Vậy ra ngài quen biết cậu thanh niên tội nghiệp đó sao?” Caderousse tiếp lời.

“Tôi được mời đến gặp cậu ấy trên giường bệnh, để ban cho cậu ấy những lời an ủi của tôn giáo.”

“Và cậu ấy chết vì bệnh gì?” Caderousse hỏi với giọng nghẹn ngào.

“Theo ngài thì những người trẻ tuổi và khỏe mạnh, khi chưa bước qua tuổi ba mươi, sẽ chết vì bệnh gì trong tù, ngoài ngục tù ra chứ?” Caderousse đưa tay lau những giọt mồ hôi lớn túa ra trên trán.

“Nhưng điều kỳ lạ nhất trong câu chuyện này,” vị linh mục tiếp tục, “là ngay cả trong khoảnh khắc cận kề cái chết, Dantès vẫn thề trước Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh rằng cậu ta hoàn toàn mù tịt về nguyên nhân khiến mình bị giam cầm.”

“Và đúng là cậu ta không biết thật,” Caderousse lầm bầm. “Làm sao mà cậu ấy biết được chứ? Ồ, thưa ngài, anh bạn tội nghiệp ấy đã nói thật với ngài đấy.”

“Và chính vì lý do đó, cậu ta đã nài nỉ tôi hãy cố gắng làm sáng tỏ một bí ẩn mà cậu ta chưa bao giờ có thể thấu tỏ, đồng thời rửa sạch cho danh dự của cậu ta nếu chẳng may có vết nhơ hay tì vết nào bôi bẩn nó.”

Đến đây, ánh mắt của vị linh mục càng lúc càng đăm đăm, dường như đang dừng lại với sự thỏa mãn khó giấu trên vẻ ảm đạm đang nhanh chóng lan rộng khắp khuôn mặt Caderousse.

“Một người Anh giàu có,” vị linh mục tiếp tục, “từng là bạn tù bất hạnh của cậu ấy, nhưng đã được phóng thích trong thời kỳ phục hoàng thứ hai, sở hữu một viên kim cương có giá trị vô cùng lớn; ông ta đã trao viên ngọc này cho Dantès khi rời khỏi nhà tù, như một dấu hiệu tri ân cho lòng tốt và sự chăm sóc tận tình như anh em ruột thịt mà Dantès dành cho ông trong một cơn bệnh nặng lúc họ còn bị giam giữ. Thay vì dùng viên kim cương này để hốt hác mua chuộc bọn ngục tốt — những kẻ có lẽ chỉ cầm lấy rồi đem phản bội cậu ta với viên quản giấu — Dantès đã cẩn thận cất giữ nó, để lỡ khi thoát khỏi ngục tối, cậu ta vẫn có vốn liếng mà sống, vì việc bán một viên kim cương như thế thừa đủ để làm giàu.”

“Thế thì, tôi đoán,” Caderousse hỏi với đôi mắt háo hức, rực sáng, “đó phải là một viên đá vô cùng giá trị?”

“Chà, mọi thứ đều mang tính tương đối,” vị linh mục đáp. “Đối với một kẻ ở hoàn cảnh của Edmond thì viên kim cương chắc chắn có giá trị rất lớn. Nó được định giá năm mươi nghìn franc.”

“Trời ạ!” Caderousse thốt lên, “năm mươi nghìn franc! Chắc chắn viên kim cương phải to bằng quả hạch thì mới đáng giá ngần ấy.”

“Không,” vị linh mục đáp, “nó không to đến mức đó; nhưng ngài có thể tự phán đoán lấy. Tôi đang mang nó đây.”

Ánh mắt sắc sảo của Caderousse lập tức dán chặt vào trang phục của vị linh mục, như thể hy vọng phát hiện ra nơi cất giấu kho báu. Điềm tĩnh lấy từ trong túi ra một chiếc hộp nhỏ bọc da nhám màu đen, vị linh mục mở ra, phơi bày trước đôi mắt lóa láng của Caderousse viên ngọc lấp lánh được khít trong một chiếc nhẫn với tay nghề chế tác tinh xảo.

“Và viên kim cương ấy,” Caderousse thốt lên, gần như nghẹt thở vì sự ngưỡng mộ háo hức, “ngài bảo là đáng giá năm mươi nghìn franc ư?”

“Đúng vậy, tính cả cái ổ nhẫn vốn cũng rất có giá trị,” vị linh mục đáp, rồi khép hộp lại và đút vào túi, trong khi những tia sáng rực rỡ của nó dường như vẫn còn nhảy múa trước đôi mắt đang bị thôi miên của lão chủ quán.

“Nhưng sao viên kim cương lại rơi vào tay ngài? Edmond đã chọn ngài làm người thừa kế ư?”

“Không, chỉ là người thi hành di chúc của cậu ấy thôi. ‘Tôi từng có bốn người bạn thân thiết và trung thành, bên cạnh người thiếu nữ mà tôi đính hôn,’ cậu ấy nói; ‘và tôi tin chắc rằng tất cả họ đều đã vô cùng đau buồn trước sự ra đi của tôi. Tên của một trong bốn người bạn ấy là Caderousse.’” Chủ quán rùng mình.

“‘Một người nữa trong số đó,’” vị linh mục tiếp tục, dường như không màng đến sự dao động của Caderousse, “‘tên là Danglars; và người thứ ba, dẫu là tình địch của tôi, nhưng lại dành cho tôi một tình cảm chân thành.’”

Một nụ cười quỷ quái thoáng hiện trên gương mặt Caderousse, lão toan cắt lời vị linh mục, nhưng ông xua tay nói: “Xin hãy để tôi nói hết đã, rồi nếu ngài có ý kiến gì thì hãy phát biểu sau. ‘Người bạn thứ ba của tôi, dẫu là tình địch nhưng rất quý mến tôi — tên hắn là Fernand; còn tên của vị hôn thê tôi là’ — Khoan đã, khoan đã,” vị linh mục tiếp tục, “tôi quên mất cậu ấy gọi cô ấy là gì rồi.”

“Mercédès,” Caderousse háo hức đáp.

“Đúng thế,” vị linh mục thở dài nén nhịn, “chính là Mercédès.”

“Nói tiếp đi,” Caderousse giục.

“Mang cho tôi một bình nước,” vị linh mục nói.

Caderousse nhanh chóng làm theo yêu cầu của vị khách; và sau khi rót một ít ra ly, từ từ nuốt lấy, vị linh mục lấy lại vẻ bình thản thường ngày, đặt chiếc ly không xuống bàn và nói:

“Chúng ta vừa nói đến đâu rồi nhỉ?”

“Tên vị hôn thê của Edmond là Mercédès.”

“À phải rồi. ‘Anh hãy đến Marseille,’ Dantès nói — vì ngài hiểu đấy, tôi thuật lại y nguyên lời cậu ấy. Ngài hiểu chứ?”

“Hiểu rõ lắm.”

“‘Anh hãy bán viên kim cương này; chia số tiền làm năm phần bằng nhau, và trao một phần cho những người bạn tốt đó, những người duy nhất đã yêu thương tôi trên cõi đời này.’”

“Nhưng sao lại chia làm năm phần?” Caderousse hỏi; “ngài chỉ mới nhắc đến bốn người thôi mà.”

“Bởi vì người thứ năm đã qua đời, theo như tôi nghe được. Người thứ năm được hưởng di chúc của Edmond chính là cha ruột của cậu ấy.”

“Đúng quá, đúng quá rồi!” Caderousse thốt lên, suýt ngạt thở vì những cảm xúc hỗn độn đang cào xé tâm can, “ông cụ tội nghiệp ấy đã chết thật mà.”

“Tôi đã hay tin đó ở Marseille,” vị linh mục đáp, cố gắng tỏ ra dửng dưng; “nhưng vì thời gian trôi qua đã lâu kể từ khi cha của Dantès qua đời, tôi không thể thu thập thêm chi tiết nào về những ngày cuối đời của ông cụ. Ngài có thể làm sáng tỏ điểm đó giúp tôi chứ?”

“Nếu tôi mà không biết thì chẳng còn ai biết nữa,” Caderousse nói. “Chà, tôi từng sống gần như chung một tầng với ông cụ tội nghiệp ấy mà. À vâng, khoảng một năm sau khi con trai ông biến mất thì ông cụ qua đời.”

“Ông ấy mất vì bệnh gì?”

“Chà, bác sĩ gọi chứng bệnh của ông là viêm dạ dày ruột thì phải; những người quen thì bảo ông chết vì đau buồn; nhưng tôi, kẻ từng chứng kiến những giây phút cuối đời của ông, tôi dám nói rằng ông chết vì——”

Caderousse khựng lại.

“Vì cái gì?” vị linh mục lo lắng, sốt sắng hỏi.

“Chà, vì chết đói đúng nghĩa đen.”

“Chết đói!” vị linh mục thốt lên, vùng đứng phắt dậy khỏi ghế. “Chà, ngay cả những loài vật hèn mimpresa nhất cũng không phải chịu cái chết như thế. Đến những con chó lang thang vô gia cư trên đường phố còn tìm được một bàn tay thương hại bố thí cho mẩu bánh mì; thế mà một con người, một tín đồ Cơ đốc giáo, lại bị bỏ mặc cho chết đói giữa những kẻ khác cũng tự xưng là Cơ đốc giáo thì quả là quá mức kinh hoàng để có thể tin nổi. Ôi, thật không thể tưởng tượng nổi! — hoàn toàn không thể!”

“Tôi nói thế nào thì sự thật là thế ấy,” Caderousse đáp.

“Và ngài thật ngốc khi đi oang oang điều đó,” một giọng nói từ đỉnh cầu thang vang lên. “Sao ngài lại đi xía vào chuyện không phải của mình?”

Hai người giật mình quay lại và nhìn thấy khuôn mặt xanh xao của La Carconte đang nhòm ra từ giữa các thanh con tiện cầu thang; bị thu hút bởi tiếng nói chuyện, bà đã lê tấm thân yếu ớt xuống cầu thang, và giờ đang ngồi trên bậc thấp nhất, đầu gối gục vào tay, lắng nghe toàn bộ cuộc đối thoại vừa rồi.

“Lo chuyện của mụ đi, vợ ơi,” Caderousse cộc cằn đáp. “Vị quý ông này hỏi tôi thông tin, phép lịch sự tối thiểu không cho phép tôi từ chối.”

“Lịch sự cái đồ ngốc này!” La Carconte vặn lại. “Ngài thì dính dáng gì đến lịch sự chứ, tôi muốn biết đấy? Sao không học lấy một chút khôn ngoan bình thường đi. Ngài làm sao biết được mục đích của kẻ đó khi cố moi móc tất cả những gì có thể từ ngài cơ chứ?”

“Tôi xin lấy danh dự bảo đảm với phu nhân,” vị linh mục nói, “rằng ý định của tôi hoàn toàn tốt đẹp; và chồng phu nhân sẽ chẳng gặp rủi ro gì, miễn là ông ấy trả lời tôi một cách thành thật.”

“À, nói thế thì hay lắm,” người phụ nữ đốp chát. “Chẳng có gì dễ hơn là mở đầu bằng những lời hứa hẹn tốt đẹp và cam đoan không có gì phải sợ; nhưng khi những kẻ khờ khạo, ngốc nghếch như chồng tôi đây bị dụ dỗ kể ra hết những gì hắn biết, thì những lời hứa hẹn và cam đoan an toàn ấy nhanh chóng bị quên sạch; để rồi vào một lúc chẳng ai ngờ tới, rắc rối, khốn khổ cùng đủ mọi thứ bức hại lại giáng xuống những kẻ khốn cùng vốn chẳng thể biết nổi tai họa từ đâu đổ xuống đầu.”

“Thôi nào, thôi nào, thưa phu nhân tốt bụng, xin hãy hoàn toàn yên tâm. Dù có tai họa nào giáng xuống đầu hai người đi nữa, thì chúng cũng không phải do tôi gây ra đâu, tôi xin long trọng hứa với phu nhân điều đó.”

La Carconte lầm bầm vài từ không rõ nghĩa, đoạn lại gục đầu xuống gối, lên cơn run lẩy bẩy, nhưng vẫn ở lại đó để có thể nghe rõ từng lời hai người đang nói. Vị linh mục lại một lần nữa phải uống cạn một ngụm nước để trấn tĩnh những cảm xúc đang trực bùng nổ trong ông.

Khi đã bình tâm trở lại, ông cất lời: “Xem ra, người đàn ông tội nghiệp mà ngài vừa kể đã bị tất cả bỏ rơi. Chắc chắn nếu không phải thế, ông ấy đã không phải chịu cái chết khủng khiếp nhường kia.”

“Chà, ông ấy không hẳn bị bỏ rơi hoàn toàn,” Caderousse tiếp tục, “vì Mercédès người Catalan và ngài Morrel rất tử tế với ông; nhưng chẳng hiểu sao ông cụ lại nảy sinh một mối thù hằn sâu sắc với Fernand — chính là kẻ,” Caderousse cười nhạt nói thêm, “mà ngài vừa nêu tên lúc nãy là một trong những người bạn gắn bó và trung thành của Dantès.”

“Và hắn không phải thế sao?” vị linh mục hỏi.

“Gaspard, Gaspard!” người phụ nữ lầm bầm từ chỗ ngồi trên cầu thang, “hãy cẩn thận lời ăn tiếng nói đấy!”

Caderousse không đáp lại những lời ấy, dẫu rõ ràng là hắn cảm thấy khó chịu và bực bội vì bị ngắt quãng. Hắn quay sang vị linh mục và nói: “Liệu một kẻ có thể trung thành với người mà hắn lăm le cướp vợ và khao khát sở hữu hay không? Nhưng Dantès có bản tính quá đỗi ngay thẳng và thật thà đến mức cậu ấy tin vào những lời thề non hẹn biển của tất cả mọi người. Edmond tội nghiệp, cậu ấy đã bị lừa dối một cách tàn nhẫn; nhưng thật may là cậu ấy chưa bao giờ hay biết, bằng không khi hấp hối trên giường bệnh, cậu ấy sẽ khó lòng tha thứ cho kẻ thù của mình hơn. Và, dù người ta có nói gì đi nữa,” Caderousse tiếp tục bằng thứ thổ âm quê hương, dẫu không hoàn toàn thiếu đi vẻ thơ thúng thô mộc, “tôi vẫn không sao ngăn được cảm giác sợ hãi lời nguyền của người chết hơn là sự căm thù của kẻ sống.”

“Đồ đần độn!” La Carconte thốt lên.

“Vậy ngài có biết Fernand đã hãm hại Dantès như thế nào không?” vị linh mục hỏi Caderousse.

“Tôi á? Chẳng ai tường tận hơn tôi đâu.”

“Vậy thì hãy nói ra đi, chuyện đó thế nào!”

“Gaspard!” La Carconte hét lên, “tùy anh muốn làm gì thì làm; anh là chủ — nhưng nếu nghe lời tôi thì anh cứ ngậm miệng lại cho xong.”

“Thôi được, vợ ạ,” Caderousse đáp, “biết đâu mụ lại nói đúng!”

“Vậy là ngài không chịu nói gì sao?” vị linh mục hỏi.

“Chà, nói ra thì được tích sự gì chứ?” Caderousse thỏ thẻ. “Giả sử cậu thanh niên tội nghiệp đó còn sống, và đến tìm tôi nài nỉ tôi thành thật chỉ ra ai là bạn chân tình, ai là kẻ phản bội, thì có lẽ tôi đã chẳng ngần ngại. Nhưng ngài bảo cậu ấy không còn nữa, nên chẳng còn dính dáng gì đến thù hận hay trả thù nữa, vậy hãy để những cảm xúc đó chôn vùi theo cậu ấy đi.”

“Vậy ngài thà để tôi trao phần thưởng vốn dành cho tình bạn trung thành vào tay những kẻ mà ngài bảo là giả dối và phản trắc đó sao?”

“Điều đó thì đúng thật,” Caderousse đáp. “Ngài nói phải, món quà của Edmond tội nghiệp không dành cho những kẻ phản bội như Fernand và Danglars; hơn nữa, đối với chúng thì nó có xá gì? chẳng khác nào một giọt nước giữa đại dương.”

“Hãy nhớ lấy,” La Carconte chêm vào, “hai kẻ đó có thể bóp chết anh chỉ bằng một nhát!”

“Sao cơ?” vị linh mục hỏi. “Những kẻ đó giàu có và quyền lực đến thế sao?”

“Ngài không biết lịch sử của chúng à?”

“Tôi không biết. Xin hãy kể cho tôi nghe!”

Caderousse có vẻ đăm chiêu suy nghĩ một lúc, rồi đáp: “Thôi, thực tình thì kể ra sẽ mất nhiều thời gian lắm.”

“Chà, bạn tôi ơi,” vị linh mục đáp với giọng điệu tỏ rõ sự dửng dưng hoàn toàn, “ngài hoàn toàn có quyền nói hoặc giữ im lặng tùy ý; phần tôi, tôi tôn trọng sự e dè và ngưỡng mộ tình cảm của ngài; vậy hãy chấm dứt chuyện này ở đây. Tôi sẽ làm tròn bổn phận của mình một cách tận tâm nhất có thể, và thực hiện lời hứa với người sắp khuất. Việc đầu tiên của tôi sẽ là đem bán viên kim cương này.”

Nói đoạn, vị linh mục lại rút chiếc hộp nhỏ ra khỏi túi, mở nắp và khéo léo xoay nó dưới một góc ánh sáng sao cho một tia sáng rực rỡ lướt qua đôi mắt đang lóa láng của Caderousse.

“Vợ ơi, vợ ơi!” hắn gào lên bằng giọng khàn đặc, “ra đây mau!”

“Kim cương!” La Carconte thốt lên, vùng đứng dậy và bước xuống nhà với những bước chân khá vững vàng; “anh đang lải nhải cái quái gì về viên kim cương thế?”

“Chà, mụ không nghe hết những gì chúng tôi vừa nói nãy giờ à?” Caderousse hỏi. “Đó là một viên kim cương tuyệt đẹp do Edmond Dantès tội nghiệp để lại, đem bán đi rồi chia số tiền cho cha cậu ấy, Mercédès — cô dâu đính hôn của cậu ấy, Fernand, Danglars và tôi. Viên ngọc đáng giá ít nhất năm mươi nghìn franc.”

“Ôi, viên ngọc gì mà lộng lẫy thế!” người phụ nữ ngạc nhiên thốt lên.

“Thế phần năm lợi nhuận từ viên đá này thuộc về chúng ta chứ hả?” Caderousse hỏi.

“Đúng vậy,” vị linh mục đáp; “cộng thêm phần chia đều từ phần dành cho cụ cố Dantès, mà tôi nghĩ mình có quyền chia đều cho bốn người còn sống.”

“Và sao lại chỉ chia cho bốn chúng tôi?” Caderousse hỏi.

“Vì đó là những người bạn mà Edmond đánh giá là trung thành và tận tụy nhất với cậu ấy.”

“Tôi thì chẳng gọi những kẻ phản bội và đẩy ta vào bước đường cùng là bạn bè gì sất,” người vợ lầm bầm càu nhàu trong cổ họng.

“Đương nhiên rồi!” Caderousse tiếp lời nhanh chóng; “tôi cũng thế thôi, và đó chính là điều tôi vừa thưa với vị quý ông này khi nãy. Tôi bảo rằng tôi coi việc thưởng cho sự phản bội, và có khi là tội ác nữa, chẳng khác nào một sự phạm thượng báng bổ.”

“Hãy nhớ lấy,” vị linh mục điềm đạm đáp, khi cất lại viên ngọc và chiếc hộp vào túi áo thầy tu, “đó là lỗi của ngài chứ không phải của tôi. Lát nữa ngài sẽ làm ơn cung cấp cho tôi địa chỉ của cả Fernand lẫn Danglars, để tôi có thể thi hành di nguyện cuối cùng của Edmond.”

Sự dao động của Caderousse trở nên tột độ, những giọt mồ hôi lớn lăn dài trên vầng trán đang nóng bừng của hắn. Thấy vị linh mục đứng dậy khỏi ghế và tiến ra cửa như muốn xem con ngựa của mình đã đủ sức khỏe để tiếp tục hành trình chưa, Caderousse và vợ liền trao đổi cho nhau những ánh mắt đầy ẩn ý.

“Thấy chưa, vợ thấy chưa,” kẻ kia cất tiếng, “viên kim cương lộng lẫy này hoàn toàn có thể là của chúng ta, nếu chúng ta muốn!”

“Anh tin thật thế à?”

“Chà, chắc chắn một người mang tu hãnh cao quý như ngài ấy chẳng đời nào đi lừa chúng ta đâu!”

“Thôi được,” La Carconte đáp, “tùy anh muốn làm gì thì làm. Phần tôi, tôi xin rửa tay gác kiếm vụ này.”

Nói đoạn, bà ta lại ì ạch leo lên cầu thang dẫn về phòng, cơ thể co giật vì những trận rét run, răng đánh lập cập vào nhau dẫu thời tiết đang oi bức dữ dội. Lên đến bậc thang trên cùng, bà quay người lại, cất giọng cảnh báo chồng: “Gaspard, hãy suy nghĩ thật kỹ xem anh đang định làm gì đấy nhé!”

“Ta đã suy tính kỹ và quyết định rồi,” hắn đáp.

La Carconte bước vào phòng, tấm ván sàn kèn kẹt dưới bước chân nặng nề, loạng choạng của bà khi tiến về phía chiếc ghế bành, rồi đổ gục xuống đó như thể đã kiệt sức.

“Thế nào,” vị linh mục hỏi khi quay lại căn phòng bên dưới, “ngài đã quyết định thế nào rồi?”

“Tôi sẽ kể cho ngài nghe tất cả những gì tôi biết,” câu trả lời vang lên.

“Tôi chắc chắn ngài đã có quyết định khôn ngoan,” vị tu sĩ nói. “Không phải vì tôi có chút ham muốn tìm hiểu những điều ngài muốn giấu giếm, mà đơn giản là nếu nhờ sự giúp đỡ của ngài, tôi có thể phân phát gia tài theo đúng di nguyện của người đã khuất thì còn gì bằng, chỉ vậy thôi.”

“Tôi mong là thế,” Caderousse đáp, mặt hầm hầm vì lòng tham lam.

“Tôi đang lắng nghe đây,” vị linh mục nói.

“Khoan đã,” Caderousse đáp; “chúng ta có thể bị cắt ngang vào đoạn thú vị nhất của câu chuyện, thế thì tiếc lắm; và tốt nhất là chuyến viếng thăm của ngài chỉ nên có hai chúng ta biết với nhau thôi.”

Nói rồi, hắn rón rén đi ra cửa, khép lại, và để cẩn thận hơn nữa, hắn sập chốt cài then y như thói quen mỗi khi đêm xuống.

Trong lúc ấy, vị linh mục đã chọn sẵn một chỗ ngồi vừa vặn để lắng nghe cho thoải mái. Ông kéo ghế vào một góc phòng — nơi bóng tối che khuất thân hình ông, trong khi ánh sáng chiếu thẳng vào người kể chuyện; rồi với cái đầu cúi thấp và hai bàn tay đan chặt, hay đúng hơn là siết chặt vào nhau, ông chuẩn bị dồn toàn bộ tâm trí lắng nghe Caderousse, kẻ đang ngồiệch trên chiếc ghế đẩu nhỏ ngay đối diện ông.

“Nhớ lấy, đây không phải chuyện của tôi đâu đấy,” giọng La Carconte run rẩy vang lên, cứ như thể qua lớp ván sàn bà đang quan sát cảnh tượng diễn ra bên dưới.

“Đủ rồi, đủ rồi!” Caderousse đáp; “đừng lải nhải nữa; mọi hậu quả tôi sẽ tự gánh lấy hết.”

Và hắn bắt đầu câu chuyện của mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.