Còng xuống như mái chèo quằn quại giữa sóng cồn đại dương,
Còng, nhưng chẳng sờn, tuổi tác đã làm còng vóc dáng vị công chứng viên;
Những lọn tóc vàng, tựa tơ ngô mượt mà, xõa buông
Trên đôi vai; trán ông cao; và chiếc kính gọng sừng
Vắt ngang mũi, mang vẻ uy nghiêm tựa thần thánh.
Cha của hai mươi người con là ông, và hơn một trăm
Đứa cháu chắt từng ngồi trên đầu gối ông, nghe chiếc đồng hồ quả quýt lớn tích tắc.
Bốn năm đằng đẵng thời chiến tranh ông từng mòn mỏi làm con tin,
Chịu đựng bao cay đắng trong đồn cũ người Pháp với tư cách là bạn của nước Anh.
Giờ đây, dẫu từng trải hơn, nhưng hoàn toàn chân chất không chút ngờ vực hay gian xảo,
Tuổi tác mang lại cho ông sự khôn ngoan, nhưng điềm đạm, giản dị và ngây thơ như trẻ nhỏ.
Ông được tất cả mọi người yêu mến, và nhất là lũ trẻ;
Bởi ông thường kể chúng nghe chuyện về yêu tinh người sói trong rừng sâu,
Và về con yêu tinh đêm đêm đến cho ngựa uống nước,
Và về con ma Letiche trắng muốt, hồn phách một đứa trẻ qua đời
Khi chưa kịp rửa tội, bị nguyền rủa phải vất vưởng vô hình trong phòng của trẻ thơ;
Và cách loài bò chuyện trò trong chuồng vào đêm giáng sinh,
Và cách chữa khỏi cơn sốt nhờ một con nhện nhốt trong vỏ hạt dẻ,
Và về quyền năng diệu kỳ của cỏ bốn lá cùng những chiếc móng ngựa,
Cùng bao điều kỳ lạ khác được ghi chép trong kho tàng truyền thuyết làng quê.
Bấy giờ, từ chiếc ghế bên lò sưởi, bác thợ rèn Basil đứng dậy,
Gạt tàn thuốc khỏi tẩu, rồi chậm rãi giơ tay phải lên,
"Cha Leblanc," bác thốt lên, "ngài hẳn đã nghe bàn tán trong làng,
Và biết đâu, có thể cho chúng con dăm tin tức về những con tàu này cùng sứ mệnh của chúng."
Rồi với phong thái nhún nhường, vị công chứng viên đáp lời,—
"Chuyện ba hoa ta nghe thì nhiều thật, ngặt nỗi chẳng khôn thêm được chút nào;
Còn mục đích của chúng là gì, ta nào biết rõ hơn ai khác.
Dẫu vậy, ta không phải kẻ hễ thấy chúng đến là nghĩ ngay đến ác tâm,
Bởi chúng ta đang sống trong hòa bình; cớ sao chúng lại đến quấy nhiễu ta?"
"Lạy Chúa!" bác thợ rèn nóng tính và có phần dễ cáu gắt quát lên;
"Chẳng lẽ việc gì chúng ta cũng phải tìm hiểu đầu đuôi ngọn ngành sao?
Bất công diễn ra từng ngày, và kẻ mạnh chính là công lý của kẻ cầm quyền!"
Nhưng mặc cho sự nóng giận ấy, vị công chứng viên điềm tĩnh tiếp lời,—
"Con người vốn bất công, nhưng Chúa thì công minh; và rồi cuối cùng công lý
Sẽ chiến thắng; và ta nhớ mãi một câu chuyện từng nhiều lần an ủi ta,
Những khi ta bị giam cầm như một tù nhân tại đồn cũ của Pháp ở Port Royal."
Đó là câu chuyện yêu thích nhất của cụ già, và cụ rất thích kể lại
Mỗi khi xóm giềng than thở về những nỗi bất công mà họ phải gánh chịu.
„Thuở ấy ở một thành phố cổ kính nào đó, ta nay không còn nhớ tên,
Được dựng cao trên một chiếc cột, bức tượng đồng Nữ thần Công lý
Đứng sừng sững giữa quảng trường, tay trái giương cao chiếc cân,
Và tay phải cầm thanh gươm, như biểu tượng cho thấy công lý ngự trị
Trên luật pháp xứ sở, cũng như trong trái tim và mái ấm của nhân dân.
Đến cả loài chim cũng làm tổ ngay trong hai đĩa cân,
Chẳng mảy may sợ hãi thanh gươm đang lóe sáng dưới ánh nắng mặt trời phía trên chúng.
Nhưng rồi theo thời gian, luật pháp trong xứ dần bị vấy bẩn;
Cường quyền thay thế công lý, kẻ yếu bị áp bức, còn kẻ mạnh
Cai trị bằng thiết luật. Bấy giờ trong dinh thự của một nhà quý tộc nọ,
Người ta để mất một chuỗi hạt ngọc trai, và chẳng bao lâu mối nghi ngờ
Đổ dồn lên đầu một cô gái mồ côi làm hầu gái trong gia đình ấy.
Nàng, sau một phiên tòa hình thức, bị kết án tử hình trên đoạn đầu đài,
Đã bình thản đón nhận cái chết ngay dưới chân bức tượng Nữ thần Công lý.
Khi linh hồn trong trắng của nàng bay về với Chúa trời trên cao,
Kìa! một cơn giông bão nổi lên khắp thành phố; những tia chớp sét
Giáng xuống bức tượng đồng, hất văng đầy thị nộ từ tay trái nó
Rơi xuống mặt đường bên dưới là hai đĩa cân đang khua lách cách,
Và bên trong lòng đĩa, người ta tìm thấy chiếc tổ của một con chim ác là,
Được đan xen bằng những vách đất chứa chuỗi hạt ngọc trai thất lạc."
Dù phải câm nín nhưng vẫn chưa bị thuyết phục, khi câu chuyện vừa dứt, bác thợ rèn
Đứng lặng như một kẻ rất muốn thốt nên lời mà chẳng tài nào tìm được ngôn từ;
Mọi suy nghĩ trong bác cô đọng thành những đường nét hằn trên khuôn mặt, hệt như hơi nước
Đông đặc thành muôn hình vạn trạng trên khung cửa sổ mùa đông.
Bấy giờ Evangeline thắp ngọn đèn đồng trên bàn,
Rót đầy đến mức tràn cả chiếc vại thiếc đựng thứ bia lúa mạch nâu sẫm nhà nấu,
Vốn nổi tiếng về độ nặng đô trong làng Grand-Pre;
Trong khi từ trong túi, vị công chứng viên rút ra giấy tờ cùng lọ mực,
Nhanh nhẹn viết rõ ngày tháng và tuổi tác của đôi uyên ương,
Ghi lại cả phần hồi môn của cô dâu gồm cừu và gia súc.
Mọi việc diễn ra vô cùng ngăn nắp, đâu ra đấy và suôn sẻ hoàn toàn,
Và con dấu lớn của pháp luật được đóng đỏ rực như vầng thái dương bên lề tờ giấy.
Rồi từ chiếc túi da, bác nông dân ném lên bàn
Số tiền thù lao gấp ba lần của cụ già bằng những đồng bạc ròng chắc nịch;
Và vị công chứng viên đứng dậy, chúc phúc cho cô dâu chú rể,
Nâng cao vại bia uống cạn để mừng cho hạnh phúc của họ.
Lấy tay lau bọt bia trên mép, cụ trang trọng cúi đầu rồi cáo từ,
Trong khi những người khác lặng lẽ ngồi trầm ngâm bên lò sưởi,
Cho đến khi Evangeline mang bàn cờ ca-rô ra khỏi góc phòng.
Chẳng mấy chốc ván cờ đã bắt đầu. Trong bầu không khí tranh tài thân thiện, những cụ già
Cười vang mỗi khi đi được nước cờ đẹp hoặc một nước đi hiểm hóc,
Cười khi một quân cờ được phong hậu, hay một khoảng trống mở ra trong hàng quân của đối phương.
Trong khi đó ở một góc khuất, nơi bóng tối chập choạng của ô cửa sổ lồi,
Đôi tình nhân ngồi thì thầm cùng nhau, ngắm nhìn vầng trăng từ từ nhô lên
Phía trên mặt biển tái nhợt và lớp sương bạc phủ mờ những cánh đồng.
Lặng lẽ từng ngôi sao một, giữa chốn thảo nguyên thiên đường vô tận,
Nở rộ những đóa hoa tươi đẹp, chính là những chùm hoa lưu ly của các thiên thần.
Buổi tối cứ thế trôi qua. Chẳng mấy chốc tiếng chuông từ tháp chuông nhà thờ
Ngân vang điểm chín giờ, tiếng chuông giới nghiêm của làng, và ngay lập tức
Khách khứa đứng dậy ra về; và sự tĩnh lặng ngự trị khắp ngôi nhà.
Bao lời từ biệt cùng câu chúc ngủ ngon ngọt ngào nơi bậc cửa
Vương vấn mãi trong tim Evangeline, lấp đầy tâm hồn nàng niềm vui sướng.
Cẩn thận làm sao, những tàn than hồng rực trên mặt lò sưởi được vun vén lại,
Và trên bậc cầu thang gỗ sồi vang lên tiếng bước chân của bác nông dân.
Chẳng mấy chốc, theo sau là tiếng bước chân không tiếng động của Evangeline.
Lướt lên cầu thang là một vùng sáng mờ ảo giữa bóng đêm,
Được soi rọi ít là nhờ ánh đèn, nhiều là nhờ gương mặt rạng ngời của thiếu nữ.
Nàng lặng lẽ bước qua hành lang, đẩy cửa bước vào căn phòng của mình.
Căn phòng ấy thật giản dị, với những chiếc rèm cửa trắng tinh và chiếc tủ đựng quần áo
Rộng rãi, cao ráo, nơi những ngăn tủ thoáng đãng xếp ngay ngắn
Đồ vải lanh và vải dạ, do chính đôi bàn tay Evangeline dệt nên.
Đó là món hồi môn quý giá mà nàng sẽ mang theo về nhà chồng,
Còn quý hơn cả đàn cừu hay bầy gia súc, bởi đó là minh chứng cho sự đảm dang của một người nội trợ.
Chẳng mấy chốc nàng thổi tắt ngọn đèn, bởi ánh trăng dịu ngọt và rực rỡ
Đang tuôn tràn qua những khung cửa sổ, chiếu rọi căn phòng đến mức trái tim thiếu nữ
Phồng lên và thuần phục trước sức mạnh ấy, tựa như những con nước triều dao động của đại dương.
A! Nàng thật xinh đẹp, đẹp đến ngỡ ngàng khi đứng đó với
Đôi bàn chân trần trắng ngần trên sàn nhà lấp lánh ánh trăng!
Nàng nào đâu ngờ rằng ở bên dưới, giữa những tán cây trong vườn cây ăn trái,
Người thương của nàng đang đứng đợi, ngóng chờ ánh đèn cùng bóng hình nàng.
Thế nhưng tâm trí nàng vẫn hướng về chàng, và đôi khi một nỗi buồn thoáng qua
Trôi dạt qua tâm hồn nàng, hệt như cái bóng lướt qua của mây trời dưới ánh trăng
Bỗng bay ngang qua căn phòng rồi phủ bóng tối lên đó trong chốc lát.
Và khi đưa mắt nhìn qua ô cửa sổ, nàng thấy vầng trăng bình thản trôi
Thoát ra khỏi những lớp mây mờ, và một ngôi sao theo sát gót chân nàng,
Hệt như khi thiếu niên Ishmael cùng Hagar bước ra khỏi lều của Abraham!