Truyện Cổ Tích Hans Christian Andersen

Lượt đọc: 323 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đứa Con Gái Của Vua Đầm Lầy

❊ ❊ ❊

Bầy cò thường kể cho đàn con nghe rất nhiều câu chuyện, và tất cả đều xoay quanh những vùng đầm lầy cùng các dải bãi sậy, sao cho vừa vặn với lứa tuổi và sức tiếp thu của chúng. Những chú cò non nhất thì chỉ cần nghe dăm ba tiếng "lách chách, lóc chóc" hay mấy thứ nhảm nhí đại loại thế là đã mãn nguyện lắm rồi, cứ ngỡ thế là hay ho ghê gớm lắm; nhưng những đứa lớn hơn lại đòi hỏi điều gì đó mang ý nghĩa sâu xa hơn, hoặc ít nhất cũng phải liên quan đến chính gia đình chúng.

Chúng ta chỉ được biết đến một trong hai câu chuyện dài nhất và cổ xưa nhất mà loài cò vẫn hay truyền tụng — đó là câu chuyện về Môsê, người từng được mẹ đặt nằm bên bờ sông Nin, rồi được công chúa nhà vua phát hiện, nuôi dạy thành tài để rồi sau này trở thành một vĩ nhân; thế nhưng nơi ông yên nghỉ đến nay vẫn là một ẩn số.

Ai ai cũng biết câu chuyện này, nhưng lại chẳng mấy ai hay về câu chuyện thứ hai; rất có thể là bởi đây hoàn toàn là một sự tích chốn thâm sơn cùng cốc. Nó đã được truyền miệng từ đời này qua đời khác, từ bà cò này sang bà cò nọ suốt hàng ngàn năm trời; mỗi kẻ kể lại đều tô vẽ cho câu chuyện hay hơn người đi trước; và giờ đây, đến lượt chúng ta, chúng ta sẽ kể nó hay hơn tất cả.

Cặp cò đầu tiên kể lại câu chuyện ấy chính là những nhân chứng sống ở thời điểm sự việc xảy ra, từng chọn mái nhà tranh của vị thủ lĩnh Viking làm chốn cư ngụ mùa hè; ngôi nhà ấy tọa lạc gần vùng đầm lầy hoang vu ở Wendsyssell, hay nói một cách chính xác hơn, chính là cánh đồng hoang đại ngàn nằm tít tắp về phía bắc xứ Jutland, sát mỏm Skjagen. Vùng hoang mạc ấy cho đến nay vẫn là một dải đất hoang dã mênh mông ngập nước, nơi chúng ta có thể tìm đọc trong "Sách Hướng dẫn Chính thức". Người ta bảo rằng thủa xưa nơi đây từng là một hồ nước, có phần đáy trồi lên từ lòng đất, và giờ đây miền đầm lầy ấy cứ trải dài dằng dặc về mọi hướng, được bao bọc bởi những đồng cỏ ẩm ướt, những vùng sụt lún chòng chành, cùng những khoảng đất bùn phủ đầy rêu phong, nơi mọc lên lúp xúp những bụi việt quất và dăm chòm cây còi cọc. Sương mù hầu như lúc nào cũng lảng vảng trên vùng đất này, nơi mà cách đây bảy mươi năm vẫn còn là giang sơn của bầy sói hoang. Nơi đây quả xứng danh là Đầm Lầy Hoang Dã; và người ta hoàn toàn có thể hình dung được, với một không gian mênh mông ngập nước và đầm lầy như thế, nơi ấy từng quạnh hiu và hoang vắng đến nhường nào từ một ngàn năm về trước. Giờ đây, người ta vẫn có thể nhận ra nhiều thứ từng tồn tại từ thuở ấy. Sậy vẫn vươn cao ngần ấy, khoác trên mình thứ lá dài ngả màu tía sậm với những chóp tua tủa như lông chim. Cây bạch dương với lớp vỏ trắng ngần cùng tán lá mỏng manh rủ lơi vẫn đứng đó; và đối với những sinh vật từng lui tới chốn này, loài ruồi vẫn khoác lên mình tấm áo voan cùng kiểu dáng, còn sắc màu ưa thích của loài cò vẫn là trắng, kết hợp cùng đôi tất đỏ và đen. Con người thời đó dĩ nhiên ăn mặc rất khác so với bây giờ, nhưng nếu có ai đó, dẫu là thợ săn hay hiệp sĩ, chủ nhân hay đầy tớ, cả gan đặt chân lên nền đất sụt lún, chòng chành của đầm lầy, họ sẽ phải chịu chung một số phận hệt như ngàn năm trước cho đến tận ngày nay. Kẻ lữ hành sẽ chìm nghỉm, sa xuống tận chỗ Vua Đầm Lầy — vị chúa tể cai quản vương quốc thẳm sâu bên dưới đầm lầy vĩ đại, theo cách gọi của người ta. Họ đôi khi cũng gọi ngài là "Vua Gunkel", nhưng chúng ta thích cái tên "Vua Đầm Lầy" hơn, và chúng ta sẽ gọi ngài bằng cái tên ấy hệt như loài cò. Người ta biết rất ít về vương triều của Vua Đầm Lầy, nhưng có lẽ, điều đó lại là một ơn phước.

Vùng lân cận đầm lầy, cách không xa nhánh lớn của Biển Bắc và eo biển Cattegat được gọi là Lumfjorden, là lâu đài của vị thủ lĩnh Viking với những tầng hầm đá kiên cố chống thấm nước, ngọn tháp canh cao vút và ba tầng nhà nhô ra. Trên chóp mái, loài cò đã làm tổ ở đó, và mụ cò mẹ đang ấp những quả trứng của mình với niềm tin chắc chắn rằng công cuộc ấp nở sẽ đơm hoa kết trái.

Một buổi tối nọ, cò bố về nhà hơi muộn, và khi vừa đặt chân về đến tổ, trông ông có vẻ tất bật, bận rộn và vô cùng quan trọng hóa. "Anh có chuyện này cực kỳ kinh khủng muốn kể với em," ông nói với cò mẹ.

"Vậy thì cứ giữ lấy mà rỉ tai một mình đi," nàng đáp. "Hãy nhớ rằng tôi đang bấp trứng; chuyện đó có thể làm tôi hoảng hốt, và sẽ ảnh hưởng xấu đến chúng đấy."

"Em buộc phải biết ngay lập tức," ông nói. "Ái nữ của vị chủ nhân chúng ta bên Ai Cập đã đặt chân đến đây rồi. Nàng đã cả gan thực hiện chuyến hành trình này, và giờ thì nàng đã mất tích."

"Ý anh là vị tiểu thư xuất thân từ dòng dõi thần tiên ấy á?" cò mẹ kêu lên. "Ồ, kể hết cho tôi nghe đi; anh thừa biết tôi không tài nào chịu được cảnh phải chờ đợi trong lúc đang ấp trứng cơ mà."

"Thì thế này nhé, mình ạ," ông đáp. "Nàng đã tin vào lời phán của các vị danh y, cũng như điều mà anh từng nghe em khẳng định, rằng những đóa hoa đầm lầy mọc quanh đây có thể chữa khỏi bệnh cho người cha đang lâm trọng bệnh của nàng; và nàng đã bay về phương bắc trong lốp vỏ thiên nga, đồng hành cùng một số nàng công chúa thiên nga khác - những kẻ vẫn thường bay đến những vùng này mỗi khi đến hẹn để hồi xuân. Nàng đã đến, và giờ thì nàng đang ở xó xỉnh nào rồi chứ!"

"Anh cứ lê thê mãi vào mấy chi tiết vụn vặt," cò mẹ cằn nhằn, "trong khi trứng có thể bị nhiễm lạnh đấy; tôi không tài nào chịu thấu sự thấp thỏm thế này đâu."

"Được rồi," ông tiếp lời. "Anh đã canh chừng cẩn thận; và tối nay, khi anh rảo bước giữa đám sậy ở nơi anh nghĩ nền đầm lầy còn đủ sức chịu đựng trọng lượng của mình, thì ba con thiên nga xuất hiện. Có điều gì đó trong dáng bay của chúng như đang thì thầm với anh rằng: 'Hãy nhìn cho kỹ vào; có một kẻ không hoàn toàn là thiên nga đâu, chỉ khoác lông thiên nga thôi đấy.' Em biết đấy, mình ạ, em cũng có trực giác bén nhạy hệt như anh; em thừa sức nhận biết ngay lập tức một sự việc là đúng hay sai."

"Vâng, dĩ nhiên rồi," nàng đáp; "nhưng mau kể cho tôi nghe chuyện về nàng công chúa đi; tôi chán ngấy việc nghe bàn chuyện lông lá thiên nga lắm rồi."

"Thì thế này, em biết đấy, ở giữa đầm lầy có một chốn trông giống như cái hồ vậy," cò bố kể. "Em có thể nhìn thấy mép hồ nếu rướn người lên một chút. Đúng ngay chỗ ấy, cạnh bãi sậy và những bờ cỏ xanh, có thân cây cơm cháy nằm vắt vẻo; ba con thiên nga liền đậu lên đó, vỗ cánh phành phịch và ngó nghiêng xung quanh; một trong số chúng trút bỏ lớp vỏ lông vũ, và anh lập tức nhận ra nàng chính là một trong những vị công chúa từ mái nhà chung của chúng ta ở Ai Cập. Nàng ngồi đó, chẳng che đậy gì ngoài mái tóc dài đen tuyền. Anh nghe thấy nàng dặn dò hai kẻ kia phải hết sức cẩn thận giữ gìn bộ lông thiên nga, trong khi nàng lặn xuống làn nước để hái những đóa hoa mà nàng tưởng tượng là mình nhìn thấy ở dưới đó. Hai kẻ kia gật đầu, nhặt bộ cánh lông vũ lên và chiếm đoạt nó luôn. Tự hỏi không biết rồi số phận nó sẽ trôi dạt về đâu đây? anh thầm nghĩ, và có lẽ nàng cũng đang tự hỏi chính mình câu hỏi ấy. Nếu quả thật vậy, nàng đã nhận được câu trả lời, một câu trả lời vô cùng thực tế; bởi hai con thiên nga kia liền vỗ cánh bay vụt lên, mang theo cả bộ lông thiên nga của nàng. 'Giờ thì lặn xuống đấy đi!' chúng ré lên; 'ngươi sẽ chẳng bao giờ còn được bay lượn trong lớp vỏ thiên nga nữa, ngươi sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy Ai Cập thêm lần nào đâu, ngươi sẽ mãi mãi ở lại đây, giữa chốn đầm lầy này cho mà xem.' Dứt lời, chúng xé nát bộ lông thiên nga ra thành muôn mảnh, những chiếc lông trắng bay lả tả như một trận mưa tuyết, rồi hai ả công chúa bội bạc ấy vỗ cánh bay đi mất."

"Ôi, thật là kinh hoàng," cò mẹ thốt lên; "tôi có cảm giác như mình chẳng tài nào nghe thêm nổi nữa, nhưng anh phải kể tiếp xem chuyện gì đã xảy ra sau đó chứ."

"Nàng công chúa oà khóc nức nở và cất lời than van thảm thiết; những giọt nước mắt của nàng thấm đẫm vào khúc gỗ cơm cháy — mà thực chất chẳng phải khúc gỗ nào sất, đó chính là Vua Đầm Lầy, kẻ đang sống và cai trị chốn bùn lầy này. Chính mắt anh đã thấy khúc thân cây ấy xoay chuyển vòng tròn, và chẳng còn là một thân cây nữa, trong khi từ đó mọc ra những nhánh cây dài, dính nhầy nhụa tựa như những cánh tay. Đoạn, tội nghiệp đứa trẻ vô cùng hoảng sợ, vùng đứng dậy toan bỏ chạy. Nàng hộc tốc băng qua lớp bùn xanh nhầy nhụa; nhưng làm sao nó chịu nổi trọng lượng nào, huống chi là sức nặng của nàng. Nàng chìm nghỉm rất nhanh, và khúc cây cơm cháy cũng lặn xuống theo ngay sau đó; thực chất, chính là hắn đã kéo nàng xuống. Những bóng nước đen ngòm trồi lên từ lớp bùn đầm lầy, và cùng với chúng, mọi dấu tích về hai kẻ vừa rồi đều biến mất tăm. Và giờ thì nàng công chúa đã bị chôn vùi trong chốn đầm lầy hoang dã, nàng sẽ chẳng bao giờ còn có thể mang hoa về Ai Cập để cứu cha mình được nữa. Chắc tim em sẽ vỡ tung ra mất, mình ạ, nếu được chứng kiến cảnh đó."

"Lẽ ra anh không nên kể cho tôi nghe chuyện này," nàng cằn nhằn, "vào cái lúc thế này chứ; những quả trứng có thể bị tổn hại đấy. Nhưng tôi tin là nàng công chúa sẽ sớm tìm được sự giúp đỡ thôi; sẽ có ai đó đứng lên cứu giúp nàng. A! nếu đó là anh hoặc tôi, hay một thành viên trong họ nhà ta, thì đời chúng ta chắc chắn đã tiêu tùng rồi."

"Anh định ngày nào cũng bay ra đó," ông nói, "để xem có điều gì kỳ diệu xảy ra không;" và quả thực ông đã làm thế.

Một khoảng thời gian dài trôi qua, cuối cùng ông cũng nhìn thấy một mầm xanh đâm chồi vươn lên từ lớp bùn đầm lầy sâu thẳm. Khi vươn tới mặt nước, một chiếc lá xòe ra, mở rộng dần, rộng mãi, và ngay sát bên cạnh, một nụ hoa đang hé nở.

Vào một buổi sáng nọ, khi cò bố bay ngang qua cuống hoa, ông nhìn thấy sức nóng từ những tia nắng mặt trời đã khiến nụ hoa bung nở, và trong đài hoa nằm cuộn mình một sinh vật đáng yêu — một bé gái xinh xắn, trông cứ như vừa bước ra từ mộtArtist bồn tắm. Đứa bé trông giống hệt nàng công chúa Ai Cập, khiến thoạt đầu cò tưởng đó chính là nàng công chúa, nhưng ngẫm lại một lát, ông cho rằng khả năng lớn hơn là đứa con gái của nàng công chúa và Vua Đầm Lầy; và điều này cũng lý giải vì sao con bé lại được đặt nằm trong đài hoa súng. "Nhưng không thể cứ để con bé nằm trơ trọi ở đây được," cò bố thầm nghĩ, "hơn nữa trong tổ của ta đã có quá nhiều miệng ăn rồi. Nhưng khoan đã, ta vừa nảy ra một ý: vợ của vị thủ lĩnh Viking không có con, và mụ từng ao ước có được một đứa con biết nhường nào. Người ta vẫn thường bảo cò là kẻ mang trẻ thơ đến; lần này ta sẽ làm thật xem sao. Ta sẽ bay cùng đứa trẻ đến chỗ người vợ của vị thủ lĩnh Viking; khi ấy không biết họ sẽ vui mừng đến nhường nào!"

Rồi cò bố cẩn thận nhấc cô bé ra khỏi đài hoa, bay thẳng đến lâu đài, dùng mỏ mổ thủng một lỗ trên tấm da căng che khung cửa sổ, rồi đặt đứa trẻ xinh đẹp vào lòng người vợ của vị thủ lĩnh Viking. Đoạn, ông vội vã bay về tổ với cò mẹ để kể lại những gì mình vừa chứng kiến và làm được; và bầy cò con đều chăm chú lắng nghe, bởi lúc bấy giờ chúng đã đủ lớn để hiểu mọi chuyện. "Thế đấy," ông tiếp lời, "nàng công chúa vẫn chưa chết, bởi hẳn nàng đã sai con mình lên đây; và giờ thì anh đã tìm được cho con bé một mái ấm rồi."

"Ồ, tôi đã bảo ngay từ đầu là thế nào cũng có chuyện đó xảy ra mà," cò mẹ đáp; "nhưng giờ thì hãy bận tâm một chút đến gia đình chúng ta đi thôi. Thời điểm di cư đang đến gần, và thỉnh thoảng tôi đã cảm thấy hơi ngứa ngáy dưới cánh rồi đấy. Lũ chim cúc cu và chim sơn ca đã bay đi hết rồi, và tôi nghe bầy chim cút bảo chúng cũng sẽ cất cánh ngay khi có gió thuận. Đội hình trẻ nhà ta sẽ thực hiện các động tác trong buổi duyệt binh một cách hoàn hảo cho mà xem, trừ phi tôi đoán sai bét nhè về chúng."

Vợ của vị thủ lĩnh Viking vui mừng khôn xiết khi thức dậy vào sáng hôm sau và phát hiện ra đứa trẻ xinh đẹp đang nằm gọn trong lòng mình. Bà ôm hôn và ve vuốt nó; nhưng con bé lại gào khóc thảm thiết, quơ quào tay chân tứ tung và có vẻ chẳng hề thích thú chút nào. Cuối cùng, nó khóc lóc đến mức lả đi rồi thiếp ngủ; và khi nằm đó một cách lặng thím, yên bình, trông nó mới đẹp đẽ làm sao. Vợ của vị thủ lĩnh Viking vui mừng đến mức tâm can ngập tràn hạnh phúc. Trái tim bà nhẹ bẫng, có cảm giác như thể người chồng cùng các tráng sĩ của ông, những kẻ đang vắng nhà, sắp sửa trở về một cách đột ngột và bất ngờ hệt như cách đứa trẻ xuất hiện vậy. Thế là bà cùng toàn bộ gia nhân tất bật chuẩn bị mọi thứ để đón vị phu quân trở về. Những tấm thảm treo tường rực rỡ sắc màu, nơi bà và các nữ tỳ thêu hình các vị thần của họ là Odin, Thor và Friga, đã được treo lên. Đám nô lệ lau chùi sáng bóng những chiếc khiên cổ vốn dùng để trang trí; những chiếc gối được xếp ngay ngắn trên ghế, và củi khô chất đầy trong những lò sưởi ở giữa đại sảnh để ngọn lửa có thể bùng lên bất cứ lúc nào. Bản thân vợ vị thủ lĩnh Viking cũng xắn tay áo giúp một tay, để rồi đến tối bà cảm thấy vô cùng mệt mỏi và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ say. Khi tỉnh giấc vào sát lúc trời rạng sáng, bà bàng hoàng kinh hãi khi phát hiện ra đứa trẻ đã biến mất tăm. Bà vùng dậy khỏi giường, châm một thanh gỗ thông rồi lùng sục khắp phòng, để rồi cuối cùng, ở cái góc giường mà ban nãy đặt đôi chân bà, không phải là đứa trẻ, mà là một con cóc to sù sì, xấu xí. Bà vô cùng ghê sợ khi chứng kiến cảnh đó, liền vớ lấy một cây gậy nặng định đập chết con vật; nhưng sinh vật ấy lại nhìn bà bằng đôi mắt kỳ lạ, đượm buồn đến mức bà chẳng nỡ ra tay. Bà lại lùng sục khắp phòng một lần nữa; rồi giật mình thon thót khi nghe tiếng con cóc cất lên một âm thanh ồ ề, đau đớn. Bà nhảyu phắt khỏi giường và vội vã đẩy tung cửa sổ; đúng lúc ấy mặt trời ló rạng, chiếu những tia nắng qua khung cửa, rọi thẳng lên chiếc giường nơi con cóc lớn đang nằm. Bất chợt, cái miệng rộng ngoác của con cóc dường như thu hẹp lại, trở nên chúm chím và đỏ hồng. Tay chân nó cựa quậy, duỗi thẳng ra và vươn dài cho đến khi mang một vóc dáng kiều diễm; và kìa, hiện ra trước mắt bà là một đứa trẻ xinh xắn, còn con cóc xấu xí đã biến đi đằng nào mất. "Thế này là thế nào?" bà kêu lên, "mình vừa gặp ác mộng sao? Chẳng lẽ đây không phải là thiên thần nhỏ đáng yêu của ta đang nằm kia ư." Đoạn, bà ôm hôn và ve vuốt nó; nhưng đứa trẻ lại giãy giụa, cào cấu và cắn xé như thể một con mèo hoang nhỏ tuổi.

Vị thủ lĩnh Viking đã không trở về vào ngày hôm đó, cũng chẳng về vào hôm sau; dẫu vậy, ông đang trên đường về nhà; nhưng cơn gió vốn rất thuận lợi cho loài cò nay lại chống lại ông; bởi nó thổi về hướng nam. Ngọn gió thuận lợi cho kẻ này đôi khi lại bất lợi cho kẻ khác.

Sau hai hoặc ba ngày trôi qua, vợ vị thủ lĩnh Viking cuối cùng cũng vỡ lẽ ra cơ sự về đứa trẻ; nó đang nằm dưới ma lực của một tên phù thủy vô cùng quyền năng. Ban ngày, nó mang vẻ đẹp quyến rũ tựa thiên thần ánh sáng, nhưng tính cách lại hung dữ và ngỗ ngược; trong khi vào ban đêm, dưới lốt một con cóc xấu xí, nó lại ngoan ngoãn và đượm buồn, với đôi mắt ngập tràn ưu tư. Hóa ra ở đây tồn tại hai bản tính, chuyển hóa cả trong lẫn ngoài theo sự vắng mặt hay trở lại của ánh mặt trời. Và cứ thế, ban ngày đứa trẻ mang hình hài thực sự của người mẹ, nhưng lại sở hữu bản tính hung hãn của người cha; trái lại, vào ban đêm, diện mạo bên ngoài phơi bày rõ ràng gốc gác từ đằng cha, trong khi tâm hồn bên trong lại mang trái tim và tâm tư của người mẹ. Nào ai có thể phá giải được thứ ma thuật độc ác mà tên phù thủy đã yểm vào sinh vật này? Vợ vị thủ lĩnh Viking sống trong nỗi đau đớn và dằn vặt khôn nguôi vì chuyện đó. Trái tim bà đã bám rễ sâu vào sinh vật nhỏ bé ấy, nhưng bà lại chẳng thể hé lộ với chồng mình hoàn cảnh thực sự của nó. Ông sắp sửa trở về; và nếu bà nói cho ông nghe, rất có thể, theo phong tục thời bấy giờ, ông sẽ đem vứt đứa tội nghiệp ra giữa đường cái quan và mặc kệ ai muốn bắt đi đâu thì đi. Người vợ hiền của vị thủ lĩnh Viking không đời nào để chuyện đó xảy ra, thế nên bà quyết định sẽ không bao giờ để chồng nhìn thấy đứa trẻ trừ khi trời còn sáng.

Vào một buổi sáng nọ, tiếng vỗ cánh rào rào của loài cò vang lên trên mái nhà. Hơn một trăm cặp cò đã dừng chân ở đó qua đêm để lấy lại sức sau chuyến hành trình dài; và giờ đây, chúng tung cánh bay vút lên bầu trời, chuẩn bị cho cuộc hành trình về phương nam.

"Tất cả các ông chồng đều đã có mặt và sẵn sàng!" chúng kêu lên; "cả vợ và con cái nữa chứ!"

"Chúng ta mới nhẹ nhõm làm sao!" đám cò non đồng thanh ré lên. "Có cái gì đó thật dễ chịu đang lan tỏa khắp cơ thể chúng ta, tận xuống đến ngón chân, cứ như thể trong người chúng ta đầy ắp những con cóc sống vậy. A, thật tuyệt vời làm sao khi được bay đi chu du những xứ sở xa xôi!"

"Hãy giữ đúng vị trí trong đội hình với chúng ta," cò bố và cò mẹ quát lớn. "Đừng có dùng cái mỏ quẹt quẹt nhiều quá; hại phổi lắm đấy." Thế rồi bầy cò tung cánh bay đi.

Cùng lúc ấy, tiếng kèn của đám tráng sĩ vang dội khắp cánh đồng hoang. Vị thủ lĩnh Viking cùng đoàn tùy tùng đã cập bến. Họ trở về nhà, mang theo những chiến lợi phẩm trĩu nặng từ bờ biển xứ Gaul - nơi người dân, cũng giống như cư dân xứ Britain, thường khóc thét lên trong hoảng sợ: "Hãy cứu chúng tôi khỏi những kẻ man tộc phương bắc."

Cuộc sống náo nhiệt cùng niềm vui tột độ theo chân họ tràn vào lâu đài của vị thủ lĩnh Viking giữa chốn đầm lầy. Một thùng rượu mật ong lớn được khiêng vào đại sảnh, củi cháy rực rỡ, gia súc bị hạ sát và dọn lên để họ tha hồ yến tiệc linh đình. Vị thầy tế dâng tế vật vảy dòng máu ấm nóng lên những giáo dân sùng đạo; lửa lách tách cháy và khói cuồn cuộn cuộn dưới mái nhà; bồ hóng từ những thanh xà rơi lả tả xuống người họ; nhưng họ đã quen với tất cả những điều đó rồi. Khách khứa được mời đến và nhận những món quà giá trị. Mọi hiềm khích và sự phản bội đều được xí xóa. Họ nâng chén cạn ly, ném những mẩu xương thừa vào mặt nhau - hành động được xem là biểu hiện của sự thân thiết và thiện chí giữa họ với nhau. Một thi sĩ, kẻ vừa là nhạc công vừa là chiến binh từng sát cánh cùng vị thủ lĩnh Viking trong các chuyến viễn chinh và thông thuộc những khúc ca hào hùng, liền cất lên một trong những bài thơ hay nhất của mình, ca ngợi mọi chiến tích lẫy lừng và tôn vinh những hành động phi thường của họ. Mỗi khổ thơ đều kết thúc bằng điệp khúc này,—

Vàng bạc rồi sẽ bay đi,

Bạn thù rồi cũng có khi từ trần;

Mỗi con người ở dương trần,

Tên tuổi lừng lẫy muôn phần chẳng phai.

Và thế là họ dồn dập đập khiên, nện dao và xương xẩu xuống bàn một cách điên cuồng.

Vợ vị thủ lĩnh Viking ngồi trên chiếc ghế bành danh dự ở chính điện. Bà khoác lên mình tấm áo lụa là, đeo vòng vàng và chuỗi hạt hổ phách lớn. Trông bà vô cùng đài các trong bộ trang phục đắt tiền, và vị thi sĩ đã xướng tên bà trong khúc ca, ca ngợi khối tài sản vàng bạc khổng lồ mà bà mang về cho chồng. Vị thủ lĩnh đã sớm nhìn thấy đứa trẻ kỳ diệu xinh đẹp ấy vào ban ngày, và vô cùng ngây ngất trước nhan sắc của nó; thậm chí cả tính khí ngang tàng của con bé cũng làm ông thích thú. Ông phán rằng cô bé mai sau lớn lên chắc chắn sẽ trở thành một nữ anh hùng, với ý chí sắt đá và sự quả quyết của một đấng nam nhi. Nó sẽ chẳng bao giờ thèm chớp mắt, dẫu cho một kẻ tay nghề lão luyện có đem kiếm sắc đùa giỡn định cạo đứt hàng lông mày của nó đi chăng nữa.

Thùng rượu mật ong chẳng mấy chốc đã cạn khô, và một thùng mới lại được khiêng ra; bởi đây là những con người vô cùng phàm ăn thức uống. Câu tục ngữ cổ mà ai ai cũng biết có câu rằng: "Gia súc còn biết khi nào nên rời bãi cỏ, kẻ ngu ngốc lại chẳng biết đâu là điểm dừng cho cái bụng của chính mình." Vâng, tất cả bọn họ đều thừa hiểu điều đó; nhưng con người ta đôi khi vẫn thừa biết điều phải quáng mà cứ hay làm trái. Họ cũng biết rằng "dẫu là vị khách quý đến đâu rồi cũng thành phiền toái nếu cứ ngồi lỳ mãi trong nhà." Thế nhưng họ vẫn cứ ngồi lì ở đó; bởi thịt xông khói và rượu mật ong vốn là những thứ quá đỗi tuyệt vời. Và thế là họ cứ tiếp tục lưu lại lâu đài của vị thủ lĩnh Viking để tận hưởng cuộc vui; đến đêm, đám nô lệ ngả lưng trên đống tro tàn, mút mát phần mỡ dính trên ngón tay đến chán chê. Ồ, đó quả là những ngày tháng tươi đẹp làm sao!

Lại một lần nữa trong cùng năm đó, vị thủ lĩnh Viking lại kéo quân ra khơi, dẫu những cơn bão mùa thu đã bắt đầu gầm rít. Ông cùng các tráng sĩ tiến đánh bờ biển xứ Britain; ông bảo đó chỉ là một chuyến du ngoạn dạo chơi qua bên kia bờ biển, thế nên người vợ ở lại nhà cùng cô con gái nhỏ. Sau một thời gian, chắc chắn một điều là người mẹ nuôi đã bắt đầu đem lòng yêu mến con cóc tội nghiệp với đôi mắt hiền từ và những tiếng thở dài não nề, còn hơn cả đứa trẻ xinh đẹp đanh đá chuyên cắn xé và gây sự với tất cả mọi người xung quanh.

Những làn sương mù mùa thu nặng trĩu, ẩm ướt, kẻ tàn phá những chiếc lá trong rừng, đã phủ kín rừng cây và đồng hoang. Những chiếc lông vũ của loài chim bị vặt trụi, thứ mà người ta vẫn gọi là tuyết, bay lả tả trong những trận cuồng phong dày đặc, báo hiệu mùa đông đang đến gần. Bầy chim sẻ chiếm đoạt lấy tổ cò và bàn tán về những người chủ vắng nhà theo cách riêng của chúng; còn họ, cặp cò cùng toàn bộ bấy cò con, giờ đang trú ngụ nơi đâu? Người ta có thể tìm thấy loài cò ở xứ sở Ai Cập, nơi ánh mặt trời chiếu rọi rực rỡ và ấm áp hệt như những ngày giữa hè ở đây. Cây me và cây keo nở hoa rợp trời khắp mọi miền, lưỡi liềm của đạo Hồi lấp lánh rực rỡ từ những mái vòm của các đền thờ, và trên những ngọn tháp nhọn hoắt có rất nhiều chú cò đang đậu nghỉ ngơi sau chặng đường dài mệt mỏi. Từng đàn cò chia nhau chiếm lấy những chiếc tổ nằm sát bên nhau giữa những hàng cột cổ kính, chen chúc dưới các vòm cuốn của những ngôi đền ở các thành phố đã lùi vào dĩ vãng. Cây chà và cây cọ vươn mình che chở như một tấm bình phong hay chiếc ô rợp bóng mát trên đầu chúng. Những kim tự tháp xám xịt trông như những chiếc bóng đứt quãng giữa bầu không khí trong vãng và vùng sa mạc trải dài tít tắp, nơi đà điểu phóng những bước chạy xé gió và chúa sơn lâm với ánh mắt ranh mãnh đang đăm đăm nhìn bức tượng nhân sư bằng cẩm thạch nửa chìm nửa nổi trong cát. Dòng sông Nin đã rút nước, và toàn bộ lòng sông phủ đầy những con cóc, một viễn cảnh vô cùng mầu mỡ đối với các gia đình cò. Bầy cò non ngỡ mắt mình đang đánh lừa chúng, vì vạn vật xung quanh trông quá đổi tuyệt diệu.

"Lúc nào ở đây cũng thế này, và đây là cách chúng ta sống ở xứ sở ấm áp của mình," cò mẹ bảo, và ý nghĩ đó khiến lũ cò non phát cuồng vì sung sướng.

"Còn gì để ngắm nữa không ạ?" chúng hỏi; "chúng ta có bay sâu hơn vào đất liền nữa không?"

"Chẳng còn gì cho chúng ta ngắm nghía thêm đâu," cò mẹ đáp. "Vượt qua vùng đất tuyệt diệu này là những khu rừng nguyên sinh bạt ngàn, nơi các nhành cây quấn quýt lấy nhau, trong khi những dây leo chằng chịt gai góc phủ kín lối đi, và chỉ có loài voi mới đủ sức dùng đôi chân vĩ đại để rẽ lối dọn đường. Rắn thì quá khổ, còn thằn lằn thì quá nhanh nhẹn để chúng ta có thể bắt nổi. Rồi đến sa mạc; nếu các con bước chân vào đó, mắt các con sẽ sớm đầy cát chỉ với một cơn gió nhẹ hiu hiu, và nếu gặp bão lớn, rất có thể các con sẽ bị chôn vùi trong bão cát mất. Ở đây mới là nơi tốt nhất cho các con, nơi có đầy cóc và châu chấu; mẹ sẽ ở lại đây, và các con cũng vậy." Thế là chúng ở lại.

Cặp cò bố mẹ đậu trong chiếc tổ trên ngọn tháp nhọn thanh mảnh để nghỉ ngơi, nhưng vẫn bận rộn dọn dẹp, trau chuốt lại bộ lông và mài chiếc mỏ sắc nhọn vào đôi tất đỏ; sau đó chúng vươn cổ, chào nhau và khoan thai ngẩng cao đầu với phần trán bóng loáng cùng lớp lông mượt mà, trong khi đôi mắt nâu ánh lên vẻ khôn ngoan. Bầy cò mái tơ rảo bước giữa đám sậy ẩm ướt, liếc nhìn những chú cò non khác để làm quen, đồng thời nuốt trọn một con cóc cứ sau mỗi ba bước chân, hoặc dùng mỏ hất tung một con rắn nhỏ theo cái cách mà chúng cho là duyên dáng nhất, hơn nữa lại vô cùng ngon miệng. Bầy cò đực nhanh chóng bắt đầu gây gổ; chúng vung cánh đánh nhau và mổ tơi bời cho đến khi máu chảy ròng ròng. Và cứ thế, rất nhiều cặp cò trai gái đã đính ước với nhau: đó dĩ nhiên là điều chúng hằng mong muốn, và cũng chính là lẽ sống của đời chúng. Sau đó chúng quay về tổ, và những cuộc cãi vã lại bùng lên từ đầu; bởi ở những xứ sở oi bức, con người ta hầu như ai cũng nóng tính và bốc đồng. Nhưng dẫu vậy, mọi thứ vẫn thật tuyệt, nhất là đối với mấy vị phụ huynh, những kẻ đứng nhìn chúng với niềm vui sướng ngập tràn: mọi hành động của lũ trẻ đều vừa mắt họ. Ngày nào ở đây cũng ngập tràn ánh nắng, thức ăn dồi dào và chẳng phải bận tâm điều gì ngoài việc hưởng thụ niềm vui. Nhưng tại lâu đài nguy nga của vị chủ nhân Ai Cập - theo cách gọi của chúng, thì niềm vui ấy lại chẳng thể tìm thấy. Vị chúa tể quyền uy và giàu có của lâu đài đang nằm bẹp trên chiếc ghế dài giữa đại sảnh rộng lớn với những bức tường sặc sỡ trông như tâm của một đóa hoa tu-líp khổng lồ; nhưng toàn thân ông cứng đờ, tê liệt và nằm duỗi thẳng đơ như một thây ma được ướp xác. Gia nhân và người thân đứng vây quanh ông; ông chưa chết, dẫu khó mà coi là đang sống. Đóa hoa đầm lầy chữa bệnh từ phương bắc, thứ lẽ ra phải được tìm thấy và mang đến bởi kẻ yêu thương ông sâu sắc, vẫn chưa xuất hiện. Nàng ái nữ trẻ đẹp và kiều diễm của ông - kẻ từng khoác lốp thiên nga bay vượt ngàn dặm sông ngòi đất liền đến phương bắc xa xôi, chưa bao giờ trở về. Nàng đã chết, đó là những gì hai ả tiên thiên nga đã khẳng định khi họ trở về nhà; và họ đã bịa ra nguyên một câu chuyện về nàng, đây là những gì họ đã kể,—

"Cả ba chúng tôi cùng bay vút qua bầu trời," họ kể: "một gã thợ săn đã phát hiện ra chúng tôi và giương cung bắn. Mũi tên trúng vào người bạn trẻ kiêm người em gái của chúng tôi, và vừa cất lên khúc ca biệt ly khe khẽ, nàng vừa chìm dần xuống như một con thiên nga hấp hối rơi vào hồ nước trong rừng. Bên bờ hồ, dưới tán cây bạch dương xòe rộng, chúng tôi đã vùi xác nàng xuống lớp đất lạnh lẽo. Chúng tôi đã trả được thù; chúng tôi buộc lửa vào cánh một con chim én vốn làm tổ trên mái tranh của gã thợ săn. Ngôi nhà bốc cháy ngùn ngụt; gã thợ săn bị thiêu rụi cùng ngôi nhà, và ánh lửa rọi sáng cả vùng biển tít tận gốc cây bạch dương, nơi chúng tôi an táng giấc ngủ ngàn thu của nàng. Nàng sẽ chẳng bao giờ trở về đất nước Ai Cập nữa đâu." Và rồi cả hai òa khóc nức nở. Cò bố, kẻ đứng nghe trọn câu chuyện, bèn đập mỏ kêu lách cách vang động cả một khoảng trời xa.

"Toàn là dối trá và bịp bợm!" lão hét lên; "ta chỉ muốn cắm thật sâu cái mỏ này vào lồng ngực chúng."

"Rồi lại gãy toi mất cho xem," cò mẹ càu nhàu, "lúc ấy trông anh sẽ ra cái thể thống gì. Hãy nghĩ đến bản thân mình trước đã, rồi hẵng lo cho gia đình; thiên hạ ngoài kia chẳng can gì đến chúng ta."

"Ừ, anh biết chứ," cò bố đáp; "nhưng ngày mai anh hoàn toàn có thể đậu ở mép mái vòm lộ thiên, nơi các bậc hiền triết và bác học tụ họp để bàn về tình hình của người bệnh; biết đâu họ sẽ tìm ra chân tướng sự việc." Và các bậc hiền triết, bác học tụ tập lại, bàn tán rôm rả đủ mọi vấn đề; nhưng cò bố chẳng tài nào hiểu nổi họ đang nói cái quái gì; và những cuộc hội họp ấy cũng chẳng mang lại kết quả tốt đẹp nào cho người bệnh lẫn nàng công chúa đang mắc kẹt nơi đầm lầy hoang dã. Khi lắng nghe những điều thiên hạ bàn tán trên cõi đời này, ta sẽ nghe được vô số thứ; nhưng việc nắm bắt những gì từng xảy ra trong quá khứ sẽ là một lợi thế khi ta lắng nghe một cuộc trò chuyện. Cò ta đã làm thế, và chí ít chúng ta cũng biết được nhiều như lão, gã cò ấy.

"Tình yêu là cội nguồn của sự sống. Tình yêu đích thực sản sinh ra sự sống cao cả nhất. Chỉ có tình yêu mới cứu chữa được người bệnh." Điều này đã được rất nhiều người khẳng định, và ngay cả các bậc bác học cũng thừa nhận đó là một chân lý khôn ngoan.

"Thật là một ý tưởng tuyệt vời làm sao!" cò bố thốt lên ngay tức khắc.

"Tôi chẳng hiểu cho lắm," cò mẹ lẩm bẩm khi chồng nhắc lại; "tuy nhiên, đó không phải lỗi của tôi, mà là lỗi của cái ý tưởng ấy; dẫu sao đi nữa, tôi còn khối việc quan trọng khác phải bận tâm."

Bấy giờ các bậc hiền triết đã bàn luận về tình yêu giữa người này với kẻ khác; về sự khác biệt giữa tình yêu thương đồng loại và tình yêu tồn tại giữa cha mẹ với con cái; về tình yêu của thực vật hướng về ánh sáng, và cách mà mầm sống vươn mình trỗi dậy khi tia nắng mặt trời hôn lên mặt đất. Tất cả những điều đó được giảng giải một cách vô cùng uyên bác và phức tạp đến mức cò bố chẳng tài nào theo kịp, huống chi là đem ra bàn luận. Những suy nghĩ xoay quanh chủ đề ấy đè nặng lên tâm trí lão; suốt ngày hôm sau, lão cứ đứng một chân trên bờ, nhắm nghiền một nửa đôi mắt và trầm ngâm suy nghĩ. Quá nhiều kiến thức uyên bác quả là một gánh nặng quá sức đối với lão. Tuy nhiên, có một điều mà cò bố hoàn toàn có thể hiểu được. Hết thảy mọi người, từ cao sang đến kẻ hèn mim, từ tận đáy lòng đều bày tỏ quan điểm rằng việc một người đàn ông quan trọng — và thực ra là cả một đất nước — lâm trọng bệnh mà không còn hy vọng cứu chữa chính là một thảm họa lớn lao. Và sẽ biết bao niềm vui cùng phước lành lan tỏa khắp nhân gian nếu ngài ấy có thể được cứu chữa bằng bất cứ cách nào! Nhưng đóa hoa mang lại sức khỏe ấy đang nở rộ nơi đâu? Họ đã lùng sục khắp mọi nơi; từ những văn bản cổ kinh, qua các vì tinh tú trên cao, cho đến thời tiết và gió trời. Mọi ngóc ngách khả dĩ đều đã được dò la cặn kẽ, cho đến khi các bậc hiền triết và bác học đưa ra kết luận, hệt như những gì chúng ta đã được nghe kể, rằng "tình yêu, đấng ban phát sự sống, mới có thể thổi bùng sự sống mới cho một người cha"; và khi thốt lên điều đó, họ đã đi quá đà và nói vượt quá tầm hiểu biết của chính mình. Họ lặp đi lặp lại câu nói ấy, ghi chép nó lại như một công thức thuốc: "Tình yêu là cội nguồn sự sống." Nhưng làm sao để bào chế ra thứ công thức ấy — đó lại là một bài toán hóc búa mà họ chẳng thể vượt qua. Cuối cùng, người ta đi đến thống nhất rằng sự cứu rỗi chỉ có thể đến từ chính nàng công chúa - người có tâm hồn đã gắn chặt với người cha, nhất là khi nàng đã vạch ra một kế hoạch để tự mình tìm kiếm phương dược cứu chữa.

Hơn một năm đã trôi qua kể từ đêm nàng công chúa lên đường, khi ánh trăng non vừa khuất dạng sau đường chân trời. Nàng đã đến bên bức tượng nhân sư bằng cẩm thạch giữa sa mạc, phủi sạch cát trên đôi giày xăng-đan, rồi bước qua đường hầm dài dẫn thẳng đến trung tâm của một trong những kim tự tháp vĩ đại, nơi các vị vua đời cổ đại đang nằm ngủ trong lăng mộ bọc vải liệm, vây quanh bởi chốn xa hoa tráng lệ. Các bậc hiền triết đã dặn nàng rằng, nếu nàng áp đầu lên ngực của một trong số các vị vua ấy, nàng sẽ thấu triệt được nơi cần tìm phương thuốc cứu rỗi cho cha mình. Nàng đã làm đúng như vậy, và trong một giấc mơ, nàng được chỉ bảo rằng mình phải mang về cho cha đóa hoa sen mọc dưới đáy biển sâu, sát những vùng đầm lầy và hoang mạc trên đất Đan Mạch. Vị trí và địa điểm chính xác đã được chỉ vẽ rõ ràng, và người ta bảo rằng đóa hoa ấy sẽ ban cho cha nàng sức mạnh cùng sự hồi sinh. Và vì thế, nàng đã rời bỏ đất nước Ai Cập, khoác lên mình bộ lông thiên nga bay đến vùng đầm lầy hoang vắng xứ người.

Cò bố và cò mẹ đều hay biết tất cả những điều này, và giờ đây chúng ta cũng đã rõ. Chúng ta cũng biết rằng Vua Đầm Lầy đã kéo nàng xuống tận đáy sâu của lão, và đối với những người thân yêu ở quê nhà, nàng đã vĩnh viễn chết đi. Một trong số những kẻ uyên bác nhất đã thốt lên, hệt như cò mẹ từng nói, rằng "dù thế nào đi nữa, thế nào nàng cũng sẽ tìm được cách xoay sở thành công"; và rồi cuối cùng họ cũng tự an ủi mình bằng niềm hy vọng ấy, kiên nhẫn chờ đợi; thực ra, họ chẳng thể làm gì khác tốt hơn thế.

"Ta rất muốn giật lấy bộ lông thiên nga từ tay hai ả công chúa bội bạc kia," cò bố càu nhàu; "thế thì ít nhất chúng cũng chẳng thể bay ngược trở lại đầm lầy hoang dã để giở thói độc ác thêm lần nào nữa. Ta có thể giấu hai bộ lông ấy ở mãi đằng kia, cho đến khi tìm được dịp dùng đến."

"Nhưng anh định nhét chúng vào đâu?" cò mẹ hỏi.

"Trong tổ của chúng ta ở đầm lầy chứ đâu. Anh và lũ trẻ sẽ thay phiên nhau ngậm chúng trong suốt chặng bay qua bên đó; và khi trở về, nếu thấy quá nặng nhọc, chúng ta hoàn toàn có thể tìm được vô số chỗ dọc đường để cất giấu cho đến chuyến di cư tới. Dĩ nhiên một bộ lông thiên nga là quá đủ cho nàng công chúa, nhưng có hai bộ vẫn hơn. Ở những xứ sở phương bắc lạnh giá ấy, chẳng ai chê thừa áo ấm để đi đường cả."

"Chẳng ai thèm cảm ơn anh đâu," cò mẹ phán; "nhưng anh là chủ gia đình; và ngoài mùa sinh sản ra, tôi chẳng có quyền ý kiến gì sất."

Tại lâu đài của vị thủ lĩnh Viking nằm bên đầm lầy hoang dã, nơi bầy cò hướng cánh bay về vào mùa xuân năm sau, đứa trẻ vẫn ở đó. Họ đặt tên nó là Helga, một cái tên có vẻ quá dịu dàng đối với một đứa trẻ mang tính cách ngỗ ngược hệt như nó, dẫu diện mạo vẫn vô cùng kiều diễm. Cứ qua mỗi tháng, tính khí ấy lại càng bộc lộ rõ nét sắc bén hơn; và qua năm tháng, trong khi loài cò vẫn thực hiện những chuyến di cư quen thuộc đến những ngọn đồi vào mùa thu và quay về đầm lầy vào mùa xuân, đứa trẻ đã lớn phổng lên thành một thiếu nữ, và trước khi ai kịp nhận ra, con bé đã trở thành một thiếu nữ mười sáu tuổi vô cùng xinh đẹp. Chiếc tráp bên ngoài thì lộng lẫy, nhưng bên trong lại rỗng tuếch chẳng có giá trị gì. Quả thực, con bé vẫn hoang dã và hung tợn ngay cả trong thời đại thô sơ, cằn cỗi ấy. Nó lấy làm thích thú khi dùng đôi bàn tay trắng ngần quẫy tung dòng máu nóng hổi của chú ngựa vừa bị đem ra làm vật hiến tế. Trong một cơn cuồng nộ, nó từng cắn đứt đầu con gà trống đen mà vị thầy tế chuẩn bị đem dâng thần linh. Có lần nó nói với người cha nuôi rằng: "Giả như kẻ thù có san bằng ngôi nhà này trên đầu cha và cha đang say ngủ trong vô thức, con cũng chẳng thèm đánh thức cha dậy đâu; dẫu có năng lực trong tay con cũng đời nào làm thế, bởi tai con vẫn còn đang ong lên vì cú tát mà cha giáng xuống đời con từ nhiều năm trước. Con chưa bao giờ quên điều đó cả." Nhưng vị thủ lĩnh Viking chỉ xem những lời đó như một trò đùa; ông cũng giống như tất cả mọi người, bị mê hoặc bởi nhan sắc tuyệt trần của con bé và chẳng hề hay biết gì về sự biến đổi kỳ lạ trong hình hài lẫn tính cách của Helga vào ban đêm. Nó có thể cưỡi ngựa không cần yên, phóng như bay trên lưng ngựa hệt như một khối thống nhất với con vật, và chẳng mảy mai nhảy xuống dẫu lũ ngựa có húc nhau cắn xé. Nó thường xuyên lao mình từ vách đá cao xuống biển trong khi vẫn mặc nguyên quần áo, bơi ra đón vị thủ lĩnh Viking khi thuyền của ông đang hướng bờ trở về. Đã có lần nó tự tay cắt một lọn tóc dài óng ả của mình để bện thành dây cung. "Muốn việc gì được hoàn chỉnh," nó tuyên bố, "tự ta phải ra tay."

Vợ của vị thủ lĩnh Viking vốn là một phụ nữ có tính cách và ý chí kiên cường trong thời đại của bà; thế nhưng so với cô con gái nuôi, bà chỉ là một kẻ dịu dàng, nhút nhát, và bà thừa nhận rằng có một tên phù thủy độc ác đang nắm giữ linh hồn đứa trẻ quái gở ấy trong quyền lực của hắn. Có những lúc Helga hành động cứ như thể do bản chất tàn độc thuần túy; bởi thường thì khi mẹ nuôi vừa bước ra thềm cửa hay đặt chân xuống sân, nó liền ngồi phịch xuống miệng giếng, quơ tay đá chân lên không trung rồi bất ngờ ngã nhào xuống đáy. Nhờ bản tính loài cóc, nó có thể ngụp lặn tung tăng dưới làn nước sâu thẳm của cái giếng, cho đến khi bám vào thành trèo lên như một con mèo, trở lại đại sảnh với những giọt nước ròng ròng trên người, khiến thảm lá xanh trải trên sàn nhà bị cuốn phăng đi theo những dòng nước chảy tràn từ người nó.

Thế nhưng vẫn có một khoảng thời gian trong ngày có thể kìm hãm được Helga. Đó là thời điểm chạng vạng tối; khi khoảnh khắc ấy đến, nó trở nên điềm tĩnh, trầm ngâm, chịu nghe lời khuyên bảo và dẫn dắt; lúc ấy, một thứ cảm xúc thầm kín dường như kéo nó xích lại gần người mẹ hơn. Và đúng như thế, khi mặt trời lặn xuống, sự chuyển hóa diễn ra cả về thể xác lẫn tâm hồn, từ trong ra ngoài, nó sẽ ngồi im lìm và đượm buồn, với thân hình co quắp lại trong hình hài một con cóc. Thân xác nó to lớn hơn nhiều so với loài vật ấy, và vì thế trông lại càng kỳ dị gớm ghiếc hơn; bởi nó trông giống như một gã lùn khốn khổ, với cái đầu cóc và những ngón tay dính màng. Đôi mắt nó mang biểu cảm vô cùng thảm hại; nó chẳng phát ra âm thanh nào ngoài tiếng kêu ồ ề, trầm đục, hệt như tiếng nấc nghẹn ngào của một đứa trẻ đang mơ màng ngủ.

Lúc bấy giờ, vợ vị thủ lĩnh Viking sẽ ôm nó vào lòng, quên đi tấm thân xấu xí khi ngắm nhìn đôi mắt đượm buồn ấy, và thường thở dài: "Ta chỉ ước gì con cứ mãi là đứa con cóc câm lặng của ta thế này, bởi con quá ư kinh hoàng khi khoác lên mình lớp vỏ bọc kiều diễm." Và người phụ nữ Viking ấy đã viết những ký tự Rune để yểm bùa chống lại ma thuật và bệnh tật, rồi ném chúng lên người đứa trẻ khốn khổ; nhưng chúng chẳng mảy mang lại tác dụng nào.

"Chẳng thể nào tin được có lúc con bé từng nhỏ xíu đến mức vừa vặn nằm trong đài hoa súng," cò bố lẩm bẩm; "và giờ thì nó đã lớn phổng lên, mang nguyên hình ảnh của người mẹ Ai Cập, nhất là đôi mắt. Ôi, ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại nàng nữa; có lẽ nàng vẫn chưa tìm ra cách tự cứu mình hệt như lời phu nhân và các bậc hiền triết từng đoán. Hết năm này qua năm khác, ta bay qua bay lại không biết bao nhiêu lần trên cánh đồng đầm lầy, nhưng chẳng hề có lấy một dấu hiệu nào cho thấy nàng còn sống. À mà ta cũng nên nói cho em hay, cứ mỗi năm khi ta đến trước em vài ngày để tu sửa lại tổ ấm và sắp xếp mọi thứ ổn thỏa, ta đều dành trọn một đêm bay la đà khắp hồ nước đầm lầy hệt như một con cú hay dơi quạ, nhưng hoàn toàn công cốc. Hai bộ lông thiên nga mà anh và lũ trẻ đã vất vả kéo lê từ tận xứ Nin về đây chẳng thèm dùng đến; tốn biết bao công sức mới mang được chúng về qua ba chuyến bay, để rồi giờ chúng cứ nằm lăn lóc dưới đáy tổ; và lỡ có hỏa hoạn xảy ra, ngôi nhà gỗ bị thiêu rụi, chúng cũng sẽ biến thành tro bụi mà thôi."

"Và cái tổ ngoan ngoãn của chúng ta cũng sẽ tiêu đời theo," cò mẹ tiếp lời; "nhưng anh lúc nào cũng bận tâm đến đống lông vũ với mụ công chúa đầm lầy ấy hơn là tổ ấm. Thích thì cứ việc ra đấy mà sống chung với ả trong bùn đi. Anh là một người cha tồi tệ đối với chính những đứa con của mình, tôi đã bảo anh thế từ lúc ấp lứa trứng đầu tiên cơ mà. Chỉ cầu mong sao chúng ta hay lũ trẻ không bị mũi tên nào xuyên thủng cánh chỉ vì con nhỏ man rợ ấy. Helga chẳng mảy quan tâm đến hậu quả hành động của nó đâu. Chúng ta đã sống ở ngôi nhà này lâu hơn nó, lẽ ra nó phải nhận thức được điều đó, và chúng ta chưa bao giờ quên đi trách nhiệm của mình. Năm nào chúng ta cũng nộp cống vật sòng phẳng gồm một chiếc lông vũ, một quả trứng và một con cò non, đúng như bổn phận phải thế. Anh đừng có tưởng tôi có thể lang thang khắp sân hay lui tới khắp mọi ngóc ngách như thuở trước. Tôi chỉ làm được điều đó ở Ai Cập thôi, nơi tôi có thể đường hoàng kết giao với mọi người mà không đánh mất thể diện. Còn ở đây, tôi chẳng thể tò mò ngó nghiêng vào nồi niêu xoong chảo như bên ấy được. Không, tôi chỉ có thể đậu trên này mà trút giận lên con nhỏ quái gở ấy thôi; và tôi cũng giận cả anh nữa đấy; lẽ ra anh nên mặc kệ nó nằm lịm trong hoa súng từ đầu, thì thiên hạ đã chẳng phải nhức đầu vì nó."

"Em lúc nào cũng nói năng cay nghiệt hơn thực chất tấm lòng mình," cò bố đáp; "anh hiểu em còn hơn chính em tự hiểu lấy mình." Dứt lời, lão nhún nhảy cất mình lên và tự hào vỗ cánh hai cái liền; đoạn vươn cổ bay đi, đúng hơn là lượn đi mà không cần động đậy đôi cánh đang giang rộng. Lão cứ lượn đi một đoạn khá xa, rồi mới đập mạnh đôi cánh một cú thật lực để tiếp tục hành trình với tốc độ chóng mặt, cái đầu và chiếc cổ uốn cong đầy kiêu hãnh hướng về phía trước, trong khi những tia nắng mặt trời chiếu rọi lên bộ lông bóng mượt.

"Lão ta đúng là kẻ đẹp mã nhất trong đám," cò mẹ thèm thuồng lẩm bẩm khi dõi theo bóng chồng; "nhưng tôi đời nào thèm khen lão nửa lời."

Đầu mùa thu, vị thủ lĩnh Viking trở về nhà trĩu nặng chiến lợi phẩm và dắt theo cả tù binh. Trong số đó có một vị linh mục trẻ theo đạo Cơ Đốc, một trong những kẻ dám cả gan báng bổ các vị thần phương bắc. Dạo gần đây, cả trong đại sảnh lẫn phòng ngủ, người ta thường xuyên bàn tán về thứ đức tin mới đang lan rộng khắp phương nam, và nhờ công của thánh Ansgarius, nó đã vươn tới tận Hedeby bên bờ vịnh Schlei. Ngay cả Helga cũng từng nghe mang hồ về giáo lý của Đấng mang tên Christ - Đấng vì tình yêu nhân loại và sự cứu rỗi đã phó hiến cả sinh mạng mình. Nhưng với nó, những chuyện ấy đều lọt tai này ra tai nọ. Có cảm giác như nó chỉ thực sự thấu hiểu ý nghĩa của từ "tình yêu" mỗi khi cuộn tròn người trong góc phòng ngủ dưới lốt một con cóc khốn khổ; thế nhưng vợ vị thủ lĩnh Viking lại chăm chú lắng nghe câu chuyện kỳ diệu ấy và cảm thấy lòng mình rung động sâu sắc.

Trong chuyến trở về lần này, các tráng sĩ kể về những ngôi đền lộng lẫy xây bằng đá mài, được dựng lên để làm nơi tôn thờ công khai thứ tình yêu thánh thiện ấy. Một số vật dụng mang hình thù kỳ lạ đúc bằng vàng khối đã được mang về trong chiến lợi phẩm. Xung quanh chúng tỏa ra một thứ hương thơm đặc biệt, bởi đó chính là những chiếc bình đựng hương trầm từng được các linh mục Cơ Đốc lăng xăng vung vẩy trước bàn thờ trong đền. Dưới tầng hầm đá tối tăm sâu thẳm của lâu đài, vị linh mục trẻ người Cơ Đốc bị giam cầm, tay chân bị trói chặt bằng những dải vỏ cây. Vợ vị thủ lĩnh Viking nhìn ngài đẹp đẽ tựa vị thần Baldur, và hoàn cảnh khốn cùng của ngài khiến bà khôn nguôi thương xót; nhưng Helga lại cho rằng lẽ ra người ta phải trói thừng vào gót chân ngài rồi buộc lê lết theo đuôi bầy thú dữ.

"Tôi sẽ thả rổng lũ chó đuổi theo hắn," nó gầm lên; "quần thảo khắp đầm lầy và qua tận đồng hoang. Hoan hô! Đó mới là cảnh tượng xứng tầm cho các vị thần thưởng ngoạn, và xem kịch thế mới đã đời."

Nhưng vị thủ lĩnh Viking không cho phép hắn phải chết một cái chết tồi tệ như vậy, nhất là khi hắn là kẻ ruồng bỏ và khinh miệt các vị thần tối cao. Chỉ ít ngày nữa, ông đã định đem hắn ra hiến tế trên phiến đá đẫm máu trong khu rừng thánh. Lần đầu tiên, một con người sẽ được đem ra làm vật tế thần. Helga nài nỉ xin được phép tự tay vảy dòng máu của vị linh mục lên đám đông tụ tập. Nó mài chiếc dao sắc bén; và khi một trong những con chó săn to lớn, hung dữ đang nhở nhơ khắp lâu đài Viking chồm đến gần, nó liền đâm phập lưỡi dao vào sườn con vật, chỉ để... thử xem dao sắc đến đâu, như lời nó nói.

Vợ vị thủ lĩnh Viking nhìn đứa con gái hung ác, tồi tệ với nỗi buồn sâu sắc; và khi màn đêm buông xuống, lúc vóc dáng và tâm tính xinh đẹp của con gái đã biến đổi, bà dùng những lời lẽ đầy sức thuyết phục để giãi bày với Helga về nỗi đau đớn cùng niềm tang tóc đang ngự trị trong lòng bà. Con cóc gớm ghiếc với vóc dáng quái dị đứng trước mặt bà, ngước đôi mắt nâu đượm buồn nhìn thẳng vào mặt mẹ, lắng nghe từng lời như thể thấu hiểu trọn vẹn bằng trí tuệ của một con người.

"Chưa một lần nào ta thốt ra với chúa công và phu quân dù chỉ nửa lời về những gì ta phải gánh chịu vì con; cõi lòng ta đã trĩu nặng ưu phiền vì con rồi," người vợ vị thủ lĩnh Viking nghẹn ngào. "Tình mẫu tử vĩ đại và mãnh liệt hơn ta từng tưởng tượng. Nhưng tình yêu chưa từng ngự trị trong trái tim con; nó lạnh lẽo và nhầy nhụa hệt như thứ thực vật dưới đầm lầy vậy."

Nghe đến đây, thân hình còm cõi của con cóc bỗng run rẩy; cứ như thể những lời ấy vừa chạm đến một sợi dây liên kết vô hình giữa thể xác và linh hồn, khiến hai giọt nước mắt lớn đọng lại khóe mi.

"Một quãng thời gian đắng cay rồi sẽ giáng xuống đầu con cho mà xem," vợ vị thủ lĩnh Viking tiếp lời; "và nó cũng sẽ thật khủng khiếp đối với ta nữa. Lẽ ra con đã tốt hơn biết bao nhiêu nếu cứ bị vứt lại bên vệ đường, để cơn gió lạnh đêm sương ru hờ con chìm vào giấc ngủ." Và người phụ nữ ấy tuôn trào những giọt nước mắt đắng cay, phẫn uất lẫn bi thương bước đi, vén tấm màn da thú treo lững lờ trên xà nhà để rời khỏi đại sảnh.

Con cóc còm cõi vẫn đơn độc ngồi thụp trong góc phòng. Sự im lặng đến rợn ngợp bao trùm khắp chốn. Thỉnh thoảng, một tiếng thở dài nén nghẹn lại cất lên từ tận đáy tâm hồn nó; đó là linh hồn của Helga. Nó có vẻ đau đớn, như thể một mầm sống mới đang cựa quậy đâm chồi trong tim. Đoạn, nó rón rén bước tới, lắng tai nghe ngóng; rồi lại tiến thêm bước nữa, dùng đôi bàn tay thô kệch bấu chặt lấy thanh gỗ nặng nề chèn ngang cánh cửa. Nhẹ nhàng và vô cùng chật vật, nó đẩy lùi thanh chốt, lặng lẽ nhấc then cài, rồi với lấy ngọn đèn lờ mờ đang cháy trong tiền sảnh. Có cảm giác như một ý chí mãnh liệt hơn cả bản thân đang ban cho nó sức mạnh. Nó tháo chiếc kẹp sắt khỏi cánh cửa hầm đang khóa kín rồi lẩn vào buồng giam tù nhân. Ngài đang chìm trong giấc ngủ. Nó chạm vào ngài bằng bàn tay lạnh ngắt, ẩm ướt, và khi ngài bừng tỉnh, đập vào mắt là sinh vật gớm ghiếc, ngài hoảng hốt rùng mình hệt như vừa chạm trán yêu ma quỷ quái. Helga rút dao, cắt đứt dây thói trói buộc tay chân ngài, rồi ra hiệu bảo ngài đi theo mình. Vị linh mục thì thầm những thánh danh và làm dấu thánh, trong khi sinh vật ấy vẫn đứng bất động bên cạnh.

"Ngươi là ai," ngài cất tiếng hỏi, "kẻ khoác lốp thú vật nhưng lại sẵn lòng làm những việc ơn phước xót thương?"

Sinh vật hình cóc ra hiệu giục ngài bám theo, dẫn ngài đi qua một hành lang dài được che khuất bởi những tấm thảm treo để ra tới chuồng ngựa, rồi chỉ tay về phía một con ngựa. Ngài leo lên lưng nó, và nó cũng nhanh nhẹn phóng vọt lên ngồi phía trước, bám chặt lấy bờm con ngựa. Vị tù nhân hiểu ý, và họ thúc ngựa phóng như bay theo một lối mòn mà ngài dẫu có một mình cũng đời nào tìm ra, băng qua cánh đồng hoang rộng lớn. Ngài quên đi diện mạo gớm ghiếc của nó, trong đầu chỉ ngập tràn suy nghĩ về sự xót thương và lòng nhân ái vô biên của Đấng Tối Cao đang hiển hiện qua hình hài kỳ dị này. Trong lúc ngài thì thầm những lời cầu nguyện sùng kính và cất cao khúc ca thánh thiện, Helga bỗng run lên bần bật. Phải chăng âm hưởng của lời kinh tiếng thánh đã gây ra điều đó? Hay nó đang rùng mình trước cái lạnh của buổi sớm mai cùng nỗi sợ hãi khi khoảnh khắc chạng vạng đang đến gần? Cảm xúc của nó lúc này là gì? Helga chồm người lên, toan chặn con ngựa lại để nhảy xuống, nhưng vị linh mục người Cơ Đốc đã dùng hết sức giữ chặt nó lại, đồng thời cất cao khúc ca thánh thiện, ngỡ rằng điều đó có thể phá giải được thứ bùa chú độc ác đã biến cô thành hình hài con cóc.

Và con ngựa càng điên cuồng phóng nhanh hơn nữa. Bầu trời nhuốm màu đỏ rực, tia nắng đầu tiên xuyên qua các tầng mây, và giữa dòng thác ánh sáng trong vãng ấy, con cóc đã biến đổi. Đó lại là Helga, trẻ trung và kiều diễm, nhưng mang trong mình tâm địa ngạ quỷ tàn độc. Ngài đang ôm trọn một thiếu nữ xinh đẹp trong vòng tay, và ngài bàng hoàng kinh hãi. Ngài dừng ngựa lại, nhảy phốc xuống đất. Ngài đinh ninh rằng một thứ ma thuật quỷ quái nào đó đang hoành hành. Nhưng Helga cũng tung mình khỏi lưng ngựa, hiên ngang đứng trên mặt đất. Tấm áo ngắn cũn cỡn của con bé chỉ che đến đầu gối. Nó chộp lấy con lao nhọn giắt ở thắt lưng, lao như chớp về phía vị linh mục đang ngơ ngác. "Để ta xử ngươi!" nó thét lên; "để ta đâm ngập con dao này vào người ngươi. Ngươi xanh xao như tro tàn, tên nô lệ không râu rậm kia." Nó chồm lên tấn công ngài. Họ giằng co trong một cuộc chiến ác liệt, nhưng có một sức mạnh vô hình dường như đã được ban cho vị tín đồ Cơ Đốc trong trận chiến. Ngài giữ chặt lấy nó, và cội sồi già sần sùi nơi họ đứng dường như cũng tiếp sức cho ngài, khi những chiếc rễ nhô lên từ mặt đất quấn chặt lấy đôi chân thiếu nữ, giữ chân nó lại. Ngay sát bên cạnh, một dòng suối nhỏ phun trào bọt trắng xóa, và ngài vốc nước suối vảy lên mặt lẫn cổ Helga, truyền lệnh cho tà ma xuất hồn, đồng thời ban cho nó một phép lành Cơ Đốc. Nhưng dòng nước đức tin sẽ chẳng có chút quyền năng nào nếu mạch nguồn đức tin không chảy tràn trong lồng ngực. Thế nhưng ngay cả ở đây, quyền năng ấy vẫn hiển hiện; một sức mạnh lớn lao hơn cả thể lực phàm trần đã thông qua ngài để chống lại cái ác đang giằng xé trong nội tâm nó. Hành động thánh thiện của ngài dường như đã áp đảo được nó. Helga buõng thõng đôi tay, ngước nhìn ngài với gương mặt cắt không còn giọt máu và ánh mắt ngập tràn kinh ngạc. Ngài hiện lên trong mắt nó như một bậc đại pháp sư thông thuộc huyền thuật; ngôn từ của ngài là thứ bùa chú thâm trầm nhất đối với nó, và những cử động bàn tay ngài vẽ trên không trung chẳng khác nào chiếc gậy phép của phù thủy. Nó sẽ chẳng thèm chớp mắt dẫu ngài có vung thanh dao sắc hay chiếc rìu lấp lánh trên đầu nó; nhưng nó lại co rúm người lại khi ngài làm dấu thánh lên trán và ngực nó, lặng lẽ ngồi trước mặt ngài hệt như một chú chim non thuần phục với cái cúi đầu sát đất. Rồi ngài cất lời dịu dàng kể cho nó nghe về hành động đầy tình yêu thương mà nó đã dành cho ngài trong đêm tối, khi nó lết tấm thân cóc gớm ghiếc đến cởi trói cho ngài, dẫn lối đưa ngài ra với ánh sáng và sự sống; ngài bảo rằng nó đang bị xiềng xích trong những gông cùm còn kiên cố hơn ngài gấp bội, và nó cũng có thể tìm lại sự sống cùng ánh sáng thông qua sự giúp đỡ của ngài. Ngài sẽ đưa nó đến Hedeby yết kiến Thánh Ansgarius, và ở nơi chốn Cơ Đốc giáo ấy, bùa chú của phù thủy sẽ bị tẩy sạch. Nhưng ngài kiên quyết không cho nó ngồi trước ngựa cùng mình, dù tự nguyện nó muốn thế. "Con phải ngồi sau ta, chứ không được ngồi trước," ngài bảo. "Vẻ đẹp ma quái của con mang một thứ quyền năng hắc ám bắt nguồn từ cái ác, và ta e sợ điều đó; dẫu vậy, ta tin chắc mình sẽ chiến thắng nhờ đức tin nơi Chúa Christ." Đoạn ngài quỳ xuống, thành kính cầu nguyện. Cả khu rừng tĩnh mịch bỗng chốc hóa thành một ngôi thánh đường linh thiêng được cung hiến bởi lời kinh của ngài. Chim chóc cất tiếng hót cứ như thể chúng cũng là một phần của giáo đoàn mới này; hương thơm của những đóa hoa dại ngào ngạt chẳng khác gì làn khói trầm hương bồng bềnh; trong khi vang vọng trên hết thảy chính là lời kinh thánh: "Ánh sáng chiếu soi những kẻ ngồi nơi tăm tối và trong bóng tối của tử thần, dẫn dắt bước chân họ vào nẻo bình an." Và ngài thốt lên những lời ấy bằng nỗi khát khao tột cùng từ tận đáy tâm can. Trong khi đó, con ngựa vừa phi nước đại đưa họ đến vẫn ngoan ngoãn đứng yên một chỗ, gặm đám bụi gai rậm rạp cho đến khi những quả mọng chín mọng rơi lả tả xuống đôi bàn tay Helga, hệt như đang mời gọi nó thưởng thức. Nó kiên nhẫn để người ta đỡ lên lưng ngựa, ngồi lặng thinh như một kẻ mộng du — một kẻ đang chìm trong giấc ngủ. Vị tín đồ Cơ Đốc bẻ hai nhánh cây buột chéo lại bằng vỏ cây hình chữ thập, giơ cao lên trời khi họ rong ruổi qua khu rừng. Lối đi dần trở nên rậm rạp gai góc hơn trên chặng đường họ tiến bước, cho đến khi biến thành một vùng hoang mạc vô định không lối thoát. Những khóm mận gai mọc lúp xúp thỉnh thoảng lại chắn ngang đường khiến họ phải thúc ngựa lội qua. Dòng suối nhỏ tuôn trào không chảy thành sông mà đọng lại thành một vùng đầm lầy, buộc họ phải vòng ngựa tránh xa; dẫu vậy, vẫn có sức sống và sự sảng khoái phả ra từ cơn gió mát rượi trong rừng, cùng sức mạnh không nhỏ ẩn chứa trong những lời dịu dàng đượm đức tin và tình yêu Cơ Đốc của vị linh mục trẻ - kẻ đang khao khát khôn nguôi được dẫn dắt linh hồn lầm lạc này bước vào nẻo sáng tươi của sự sống. Người ta bảo những giọt mưa rơi lâu ngày cũng khoét thủng được cả phiến đá cứng, và những con sóng đại dương có thể mài nhẵn những mỏm đá gồ ghề; hạt sương xót thương cũng đã rơi xuống tưới tắm cho Helga, làm mềm đi những gì chai sạn và vuốt phẳng những góc cạnh thô ráp trong tính cách nó. Những chuyển biến ấy hãy còn chưa bộc lộ; chính nó cũng chẳng mảy may nhận ra; cũng giống như hạt giống nằm lòng trong đất mẹ, khi được những giọt sương mai rượi mát và tia nắng ấm áp mơn man, đâu biết rằng trong mình đang ấp ủ nguồn năng lượng để rồi mai đây đâm chồi bung hoa nở rộ. Khúc ru của người mẹ ngấm sâu vào trái tim đứa trẻ, và miệng trẻ bập bẹ nhắc lại những từ ngữ ấy mà chẳng hiểu nghĩa lý gì; nhưng rồi theo thời gian, tư duy mở rộng, những điều từng nghe thuở ấu thơ bỗng trở nên rạng rỡ và sáng tỏ trong tâm trí. Và giờ đây, "Lời Chúa" với quyền năng sáng thế tối thượng cũng đang âm thầm nhào nặn cõi lòng Helga. Họ ra khỏi khu rừng rậm, băng qua đồng hoang và lại lọt vào một khu rừng không bóng người. Tại đây, khi chiều tà buông xuống, họ chạm trán với bọn cướp. "Chúng mày ăn cắp đâu ra ả thiếu nữ kiều diễm thế kia?" lũ cướp gầm lên, chồm tới chộp lấy dây cương và giật phăng cả hai người ngã nhổng khỏi lưng ngựa. Vị linh mục chẳng có gì để tự vệ ngoài con dao tịch thu từ Helga, và ngài vung nó chém bừa sang trái sang phải. Một tên cướp vung rìu chém thẳng vào ngài; nhưng vị linh mục nhanh nhẹn lách mình né tránh, khiến cú chém trời giáng cắm phập vào cổ con ngựa, máu phun xối xả và con vật đổ gục xuống đất. Bấy giờ Helga dường như sực tỉnh sau giấc mộng thâm trầm dài đằng đẵng; nó hộc tốc lao mình ôm lấy con vật đang hấp hối. Vị linh mục đứng chắn trước mặt, che chở và bảo bọc cho nó; nhưng một tên cướp đã vung chiếc rìu sắt giáng thẳng một cú chí mạng vào đầu vị tín đồ Cơ Đốc khiến nó vỡ nát, máu và óc bắn tung tóe, và ngài ngã quỵ xuống đất tử vong. Lập tức, bọn cướp chộp lấy đôi tay trắng ngần cùng vòng eo thanh mảnh của giai nhân Helga; nhưng đúng khoảnh khắc ấy, mặt trời lặn khuất, và khi tia nắng cuối cùng vụt tắt, nó liền biến thành một con cóc. Cái miệng trắng ngợt xanh lè loác ra tận mang tai; đôi tay teo tóp lại nhầy nhụa; trong khi đôi bàn bàn tay bành ra những ngón có màng bơi xòe rộng như chiếc quạt giấy. Lũ cướp hoảng hồn buông thõng tay, trân trân nhìn nó đứng giữa bầy tên là một con quái vật gớm ghiếc; và theo đúng bản năng loài cóc, nó tung người nhảy cao bằng cả vóc dáng rồi mất hút vào lùm cây rậm rạp. Bấy giờ lũ cướp mới vỡ lẽ rằng đây chắc chắn là tác phẩm của tà ma ngoại đạo hay thứ bùa chú đen tối nào đó, và trong cơn kinh hoàng tột độ, chúng cắm cổ chạy tháo thân khỏi hiện trường. Vầng trăng tròn vành vạnh đã nhô lên, tỏa thứ ánh sáng rạng rỡ ngập tràn khắp trần gian, khi từ lùm cây rậm rạp, dưới lốt một con cóc, tội nghiệp Helga lê thân bò ra. Nó đứng chết lặng bên thi thể vị linh mục Cơ Đốc và xác con ngựa chết. Nó đăm đăm nhìn họ bằng đôi mắt ngấn lệ, và từ cái đầu cóc phát ra âm thanh ồ ề hệt như tiếng một đứa trẻ đang gào khóc nức nở. Nó lao vào ôm lấy người này, rồi lại sà sang kẻ kia; vốc đầy nước bằng đôi bàn tay có màng bơi to bản, khum lại như chiếc gáo rồi tưới lên người họ; nhưng họ đã chết, và sẽ mãi mãi nằm lại trong cái chết. Cuối cùng thì nó cũng thấu hiểu điều đó. Chẳng mấy chốc thú dữ rừng sâu sẽ kéo đến xé xác họ; không, tuyệt đối không được để chuyện đó xảy ra. Thế là nó bắt đầu bới đất, đào sâu hết mức có thể để chuẩn bị một nấm mồ chôn cất họ. Nó chẳng có gì trong tay ngoài một nhành cây và đôi bàn tay với lớp màng da căng giữa các kẽ ngón bị rách toạc tơi bời trong lúc làm việc, máu rỏ ròng ròng trên những ngón tay. Cuối cùng nó nhận ra sức mình có hạn, công sức bỏ ra sẽ chẳng đi đến đâu; thế là nó lại quảy nước đến rửa sạch gương mặt người chết, rồi phủ lên đó một lớp lá xanh tươi; nó còn bẻ những cành cây lớn chất đống lên trên và rải thêm lá khô đan cài giữa các nhánh. Đoạn, nó khênh những hòn đá nặng nhất có thể mang nổi chất lên thi hài, chèn kỹ rêu phong vào các kẽ hở cho đến khi thấy đã rào chắn nơi an nghỉ của ngài đủ kiên cố. Công việc khó nhọc ấy ngốn sạch của nó trọn vẹn cả một đêm dài; và khi ánh bình minh ló rạng, hiện ra ở đó là giai nhân Helga xinh đẹp tuyệt trần với đôi bàn tay đẫm máu, và lần đầu tiên trong đời, những giọt nước mắt lăn dài trên má thiếu nữ. Trong sự biến đổi kỳ diệu ấy, dường như hai bản tính đang gầm thét giằng xé lẫn nhau trong lồng ngực nó; toàn thân nó run lẩy bẩy và ngơ ngác đảo mắt nhìn quanh như vừa tỉnh giấc sau một cơn ác mộng kinh hoàng. Nó tựa người vào thân một cành cây nhỏ để lấy điểm tựa rồi thoăn thoắt leo lên ngọn như một con mèo, bám chặt lấy những chạc cây cao nhất. Nó cứ ngồi lì ở đó suốt cả ngày trời, đơn độc hệt như một chú sóc hoảng sợ giữa chốn rừng sâu tịch mịch, nơi sự tĩnh lặng mang dáng dấp của cõi chết. Bầy bươm bướm dập dờn bay lượn quanh nó, sát bên cạnh là mấy tổ kiến với hàng trăm sinh vật nhỏ bé đang tất bật ngược xuôi. Lấp ló trong không trung là vô số đàn muỗi nhảy múa, từng bầy ruồi nhặng vo ve, bọ rùa, chuồn chuồn cánh vàng cùng bao sinh vật có cánh tí xíu khác. Sùng đất bò lấp ló từ lớp đất ẩm ướt và lũ chuột chũi thò đầu ra ngoài; nhưng ngoại trừ chúng ra, vạn vật xung quanh tĩnh mịch như cõi chết: dẫu vậy, khi người ta thốt lên câu ấy, mấy ai tự hiểu thực chất mình đang định nói điều gì. Chẳng một ai mảy may chú ý đến Helga ngoại trừ một đàn ác là cứ bay lượn chí chòe quanh ngọn cây nơi nó đang ngồi. Lũ chim nhảy nhót sát sạt bên nó trên các nhánh cây với vẻ tò mò táo tợn. Một cái liếc mắt của nó đủ sức xua đuổi chúng bay biến đi, và tụi chim chóc chẳng đủ khôn ngoan để nhận ra đó là ai; thực ra ngay cả bản thân nó cũng chẳng mảy may hay biết. Khi mặt trời sắp lấp ló lặn và bóng chiều chạng vạng sắp sửa bao trùm, cuộc biến đổi sắp đến lại đánh thức nó vùng dậy hành động. Nó nhẹ nhàng trượt thân mình xuống khỏi tán cây, và khi tia nắng cuối cùng vụt tắt, nó lại hoàn nguyên trong vóc dáng nhăn nheo của một con cóc, với lớp da màng rách rưới trên đôi bàn tay, nhưng đôi mắt lúc này lại ánh lên vẻ rạng ngời tuyệt mỹ hơn bất kỳ khoảnh khắc kiều diễm nào trước kia; đó là đôi mắt thiếu nữ trong veo, hiền hòa đang ngời sáng trên gương mặt một con cóc. Chúng phơi bày sự tồn tại của một cõi lòng sâu thẳm cùng trái tim con người, và đôi mắt tuyệt mỹ ấy ngấn lệ, tuôn rơi những giọt châu trân quý làm thanh thản cõi lòng. Trên gò đất cao mà nó vừa vun đắp làm nấm mồ cho vị linh mục quá cố, nó tìm thấy cây thánh tử cành cây - di vật cuối cùng của con người đang lạnh lẽo nằm dưới kia. Một ý chợt lóe lên trong đầu Helga, nó bèn nhấc cây thánh giá lên cắm thẳng lên nấm mồ, giữa đống đá đè nặng lên ngài và con ngựa chết. Nỗi hoài niệm xót xa khiến nước mắt lại rưng rưng khóe mi, và với tâm hồn dịu êm ấy, nó dùng tay vạch chính ký hiệu đó xuống lớp cát quanh mộ; và khi nó khum đôi bàn tay vẽ nên hình thánh giá, lớp da màng trên ngón tay liền tuột khỏi tay hệt như một chiếc găng rách tơi bời. Nó vả nước suối rửa sạch bàn tay, trân trân ngắm nhìn làn da trắng ngần đang hiện nguyên hình trong sự ngỡ ngàng tột độ. Một lần nữa nó vẽ dấu thánh lên không trung, giữa nó và người đã khuất; đôi môi nó run rẩy, chiếc lưỡi mấp máy, và cái tên mà nó từng nghe văng vẳng bên tai trong suốt chuyến trốn chạy qua rừng sâu bỗng thốt lên từ đôi môi, vang lên thành lời: "Giêsu Christ." Lập tức lốt cóc tuột khỏi người nó; nó lại trở thành một thiếu nữ kiều diễm. Cái đầu rũ xuống vì mệt mỏi, đôi chân rã rời đòi hỏi sự nghỉ ngơi, và nó chìm sâu vào giấc ngủ. Thế nhưng giấc ngủ ấy chẳng kéo dài lâu. Tấm thắt lưng đêm, nó bừng tỉnh; hiển hiện trước mắt nó là con ngựa chiến đã chết đang lồng lộn sung sức, phát ra thứ ánh sáng rọi từ đôi mắt và vết thương trên cổ. Sát bên cạnh nó xuất hiện vị linh mục Cơ Đốc bị mưu sát, đẹp đẽ lộng lẫy hơn cả vị thần Baldur hệt như lời vợ vị thủ lĩnh Viking từng ví von; nhưng giờ đây ngài hiện thân trong ngọn lửa rực cháy. Sự uy nghiêm, công lý ngút trời cùng ánh nhìn sắc lẹm tỏa ra từ đôi mắt to lớn, hiền từ ấy dường như thấu suốt đến từng ngõ ngách trong tâm can nó. Giai nhân Helga run bần bật trước cái nhìn ấy, và ký ức ùa về với sức mạnh tựa ngày phán xét cuối cùng. Mọi hành động ơn phước từng dành cho nó, từng lời yêu thương từng được thốt lên đều hiện lên sống động mồn một trước mắt nó. Giờ đây nó đã thấu hiểu rằng chính tình yêu đã níu giữ nó lại trong suốt những ngày tháng thử thách; trong khi sinh vật tạo tác từ bụi trần bùn đất, từ linh hồn và tâm trí, đã phải vật lộn và giằng xé với cái ác. Nó thừa nhận rằng bản thân chỉ mải miết chạy theo những bản năng tăm tối, chưa từng làm được điều gì để tự cứu chuộc chính mình; mọi thứ đều do ban ơn, và tất cả diễn ra hệt như sự định đoạt của Thiên Định. Nó cung kính cúi đầu, thành khẩn thú nhận sự khiếm khuyết tột cùng của bản thân trước Đấng thấu suốt mọi lầm lỗi trong tim, và bấy giờ vị linh mục mới cất lời. "Hỡi ái nữ của miền đầm lầy, con bước ra từ vũng bùn và lớp đất sình lầy, nhưng từ chốn ấy con sẽ vươn mình trỗi dậy. Ánh nắng rọi chiếu thấu tâm can con chính là minh chứng cho nguồn cội thực sự của con, và nó đã khôi phục lại thể xác con về vóc dáng tự nhiên. Ta đến với con từ cõi chết, và con cũng buộc phải đi qua thung lũng ấy để đặt chân lên những ngọn núi thánh nơi lòng thương xót cùng sự hoàn mỹ ngự trị. Ta không thể đưa con đến Hedeby để chịu phép báp-têm Cơ Đốc, bởi trước tiên con phải dỡ bỏ tấm màn dày đặc đang bao phủ lấy làn nước đầm lầy, và kéo lên từ tầng sâu thẳm ấy cội nguồn sự sống của chính con. Khi nào việc đó chưa hoàn thành, con chưa thể đón nhận thánh lễ." Đoạn ngài xốc nó lên lưng ngựa và trao cho nó một chiếc bình xông trầm bằng vàng, hệt như những thứ nó từng nhìn thấy tại lâu đài của vị thủ lĩnh Viking. Một thứ hương thơm ngào ngạt tỏa ra từ chiếc bình, trong khi vết thương hở trên trán vị linh mục tử đạo bỗng rực sáng thứ ánh kim cương lấp lánh. Ngài nhấc cây thánh giá khỏi nấm mồ, giơ cao lên trời, và thế là họ phi thân bay lượn qua những tán cây rì rào, lướt qua những ngọn đồi nơi các tráng sĩ yên nghỉ bên cạnh chiến mã của họ; và những bức tượng đồng trên mộ bỗng chồm dậy phóng ra, đứng nghiêm trang trên đỉnh đồi. Lưỡi liềm vàng trên trán họ buột thắt nút vàng lấp lánh dưới ánh trăng, và những chiếc áo choàng tung bay trong gió. Con rồng canh giữ kho báu dưới mộ ngẩng đầu đăm đăm dõi theo họ. Lũ yêu tinh và thần rừng lấp ló sau các triền đồi, thoắt ẩn thoắt hiện trên đồng cỏ, vung vẩy những ngọn đuốc xanh, đỏ, vàng rực rỡ hệt như những đốm lửa bùng cháy trên trang giấy. Băng qua rừng rậm và đồng hoang, qua sông ngòi và đầm lầy, họ cứ bay hoài bay mãi cho đến khi chạm tới vùng đầm lầy hoang dã, lượn những vòng tròn rộng lớn bên trên. Vị linh mục Cơ Đốc giơ cao cây thánh giá lấp lánh sắc vàng, trong khi đôi môi ngài cất lên những lời cầu nguyện sùng kính. Giọng ca của giai nhân Helga hòa quyện cùng tiếng hát của ngài hệt như đứa trẻ cất lời ca theo khúc ru của mẹ. Nó vung chiếc bình xông trầm, và một làn hương thơm kỳ diệu tỏa ngập không gian, mạnh mẽ đến mức bới tung cả sậy lau dưới đầm lầy bung hoa nở rộ. Từng mầm sống đâm chồi vươn lên từ lòng đất sâu: vạn vật có linh hồn đều trỗi dậy. Những đóa hoa súng nở rộ trải thảm thêu hoa trên mặt nước, và nằm trên đó là một người phụ nữ trẻ trung xinh đẹp đang chìm trong giấc ngủ. Helga ngỡ ngàng nhận ra bóng hình của chính mình đang phản chiếu trên mặt nước tĩnh lặng. Nhưng không, kẻ đang nằm đó chính là mẹ nàng, người vợ của Vua Đầm Lầy - nàng công chúa xuất thân từ xứ sở sông Nin. Vị linh mục quá cố ra hiệu đưa người phụ nữ đang ngủ say lên lưng ngựa, nhưng con ngựa bỗng chùng xuống dưới sức nặng ấy hệt như một chiếc khăn tang phất phơ trong gió. Thế nhưng dấu thánh giá đã ban cho cỗ xe vô hình ấy sức mạnh vĩnh cửu, và rồi cả ba cùng rờ khỏi đầm lầy tiến về vùng đất khô ráo. Cùng lúc ấy, tiếng gà gáy vang lên từ lâu đài của vị thủ lĩnh Viking, và những bóng hình mộng mị tan biến lơ lửng vào hư không, chỉ còn lại hai mẹ con đứng đối diện nhìn nhau. "Có phải ta đang ngắm nhìn bóng hình chính mình dưới làn nước sâu thẳm?" người mẹ thốt lên. "Chẳng lẽ đây là ta đang hiện thân trên chiếc khiên bạc?" đứa con gái kêu lên. Rồi họ xích lại gần nhau trong một cái ôm siết ngập tràn thương yêu. Trái tim người mẹ đập liên hồi, và nàng thấu cảm nhịp đập ấy. "Con tôi!" nàng nức nở, "đóa hoa của lòng ta — đóa sen dưới đáy nước sâu!" và nàng ôm chầm lấy con gái, những giọt nước mắt tuôn rơi hóa thành phép báp-têm tái sinh sự sống và tình yêu cho Helga. "Ta đặt chân đến đây trong lốp vỏ thiên nga," người mẹ kể, "và chính tại nơi này ta đã trút bỏ bộ cánh lông vũ. Đoạn ta chìm dần qua lớp đất sụt lún, rơi thẳng xuống vùng đầm lầy sâu thẳm khép kín quanh ta hệt như một bức tường; chẳng mấy chốc ta chìm vào làn nước trong lành hơn; nhưng một thứ quyền năng vô hình vẫn cứ kéo ta lún sâu mãi xuống dưới. Ta cảm thấy cơn buồn ngủ nặng trĩu sụp xuống đôi mi. Rồi ta thiếp đi, chìm đắm trong những giấc mộng chập chờn. Ta ngỡ mình đang trở về những kim tự tháp ở Ai Cập, thế nhưng thân cây cơm cháy từng dọa ta sợ mất mật trên đầm lầy vẫn cứ hiện lù lù trước mắt. Ta quan sát những vết nứt và đường nhăn trên thân cây; chúng rực lên những sắc màu kỳ lạ và biến thành các ký tự tượng hình. Đó chính là chiếc quách ướp xác mà ta hằng đăm đăm nhìn ngắm. Cuối cùng nó vỡ tung ra, và bước ra từ đó là vị vua của ngàn năm trước, hiện thân trong bộ xác ướp đen thui như hắc ín, đen bóng như loài ốc sên hay lớp bùn nhầy nhụa dưới đầm lầy. Ta chẳng tài nào phân biệt nổi đó thực sự là xác ướp hay Vua Đầm Lầy nữa. Hắn chộp lấy ta trong vòng tay, và ta tưởng chừng mình sắp chết ngất. Khi tỉnh lại, ta phát hiện trước ngực mình có một chú chim non đang đập cánh phành phịch, ríu rít và chao lượn. Con chim vút bay khỏi ngực ta, hướng thẳng lên bầu trời mờ mịt nặng trĩu phía trên, nhưng một dải lụa xanh dài vẫn níu giữ nó lại với ta. Ta nghe và thấu hiểu khao khát cháy bỏng của nó. Tự do! Ánh mặt trời! Trở về với cha ta! Bấy giờ ta nghĩ về người cha, về vùng đất đầy ắp nắng vàng nơi ta sinh ra, về sự sống và tình yêu của ta. Đoạn ta tháo dải lụa, buông tay cho chú chim non bay về tổ ấm - về với người cha của nó. Kể từ khoảnh khắc đó, ta chấm dứt những giấc mộng mị; giấc ngủ của ta kéo dài nặng trĩu, cho đến tận ngày hôm nay, chính giai điệu hòa âm cùng làn hương thơm ngát đã đánh thức ta dậy và ban cho ta sự tự do." Dải lụa xanh từng níu giữ đôi cánh chú chim vào trái tim người mẹ giờ đang bay lượn nơi đâu? Nó đã trôi dạt về phương trời nào? Chỉ có loài cò mới trông thấy nó. Dải lụa ấy chính là cuống lá xanh, và đài hoa chính là chiếc nôi từng nâng niu đứa trẻ, để giờ đây trong vẻ đẹp nở rộ, nó đang được ôm ấp trọn vẹn vào cõi lòng người mẹ. Và trong lúc hai mẹ con đang nghỉ ngơi trong vòng tay nhau, con cò già bay lượn vòng quanh họ theo những vòng tròn thu hẹp dần, cho đến khi vút bay thật nhanh về tổ của mình để mang ra hai bộ lông thiên nga mà lão đã cất giữ ở đó suốt bao năm trời. Lão quay lại chỗ hai mẹ con, ném bộ cánh thiên nga lên người họ; những chiếc lông vũ lập tức khép chặt quanh họ, và họ vút bay khỏi mặt đất trong hình hài của hai con thiên nga trắng muốt. "Và giờ thì chúng ta có thể thoải mái trò chuyện rồi," cò bố hào hứng nói; "chúng ta có thể hiểu nhau dẫu cấu tạo mỏ của loài chim có khác biệt đi chăng nữa. Thật là may mắn làm sao khi các người đến vào đêm nay. Ngày mai là chúng tôi cất cánh rồi. Tôi, mẹ chúng nó và lũ cò non đang chuẩn bị bay về phương nam đây. Nhìn tôi này: tôi là một người bạn cũ từ sông Nin, và trái tim của một người cha chứa đựng nhiều điều hơn là chiếc mỏ. Lão vẫn luôn miệng bảo rằng nàng công chúa rồi sẽ tìm được cách tự cứu mình. Tôi và tụi nhỏ đã cất công mang bộ lông thiên nga vượt ngàn dặm về đây, và giờ tôi cảm thấy thật mãn nguyện, thật may mắn làm sao khi tôi vẫn còn ở đây. Khi trời rạng sáng, chúng ta sẽ khởi hành cùng một đại gia đình cò đông đúc. Chúng ta sẽ bay dẫn đầu, và các người cứ việc bám sát theo đường bay ấy để không lo lạc lối. Tôi và lũ trẻ sẽ luôn để mắt đến các người." "Và đóa sen mà lẽ ra tôi phải mang theo," nàng công chúa Ai Cập cất lời, "giờ đang bay sát bên tôi trong bộ lông thiên nga. Đóa hoa của lòng tôi sẽ đồng hành cùng tôi trên vạn dặm đường dài; và thế là câu đố đã được giải đáp. Về nhà thôi! Trở về nhà thôi!" Nhưng Helga ngỏ ý không thể rời bỏ đất nước Đan Mạch nếu chưa được một lần nữa nhìn ngắm người mẹ nuôi - người vợ hiền hậu của vị thủ lĩnh Viking. Mọi ký ức thân thương, từng lời nói dịu dàng, từng giọt nước mắt từ đáy lòng mà người mẹ nuôi từng khóc vì nó đều ùa về trong tâm trí, và vào khoảnh khắc ấy, nó cảm thấy dường như mình yêu người mẹ này nhất trên đời. "Vâng, chúng ta phải ghé qua lâu đài của vị thủ lĩnh Viking đã," cò bố gật đầu; "cả cò mẹ và tụi nhỏ đang ngóng chờ chúng ta ở đó. Không biết chúng sẽ trố mắt kinh ngạc và vỗ cánh phành phịch thế nào đây! Vợ tôi ấy mà, em biết đấy, nó hay kiệm lời, tính tình thì cộc cằn thô lỗ; nhưng thẳm sâu bên trong nó sống rất có tình có nghĩa. Tôi sẽ vỗ cánh ra hiệu ngay lập tức để chúng nghe thấy tiếng chúng ta đang tới." Thế rồi cò bố vỗ cánh bay đi với phong thái đỉnh cao, cùng hai con thiên nga rẽ mây hướng thẳng về lâu đài của vị thủ lĩnh Viking. Tại lâu đài, mọi người đều đang chìm trong giấc ngủ say. Vợ vị thủ lĩnh Viking đã lui về phòng nghỉ ngơi từ muộn màng đêm qua. Bà trăn trở không yên vì lo lắng cho Helga, kẻ đã biệt tích cùng vị linh mục Cơ Đốc từ ba ngày trước. Chắc hẳn Helga đã giúp ngài trốn thoát, bởi con chiến mã của nó là con duy nhất mất tích trong chuồng; nhưng bằng thứ quyền năng nào mà điều đó lại có thể thực hiện được cơ chứ? Vợ vị thủ lĩnh Viking bàng hoàng suy ngẫm về điều đó, nghĩ về những phép lạ mà người ta đồn đại rằng những ai đặt trọn đức tin nơi đạo Cơ Đốc và tuân theo giáo lý của nó đều có thể thực hiện được. Những luồng suy nghĩ lướt qua ấy bỗng cuộn xoắn lại thành một giấc mơ sống động, và bà có cảm giác như mình vẫn đang thao thức nằm trên giường trong khi xung quanh trùm phủ bóng tối ngập tràn. Một cơn bão bùng lên; bà nghe thấy tiếng nước hồ gầm thét cuồn cuộn từ đông sang tây, hệt như những con sóng của Biển Bắc hay eo biển Cattegat. Con mãng xà khổng lồ được đồn đại là đang cuộn mình quanh trái đất dưới đáy đại dương sâu thẳm đang run lên trong những cơn co giật kinh hoàng. Đêm tàn lụi của các vị thần đã đến, "Ragnarok", theo cách gọi của dân ngoại đạo về ngày phán quyết cuối cùng, khi vạn vật sẽ lụi tàn, ngay cả các vị thần tối cao cũng không ngoại lệ. Tiếng kèn trận vang lên; ngự trên cầu vồng, các vị thần giáp trụ oai nghiêm tề tựu để bước vào trận chiến cuối cùng trên chiến trường định mệnh. Bay trước họ là bầy ma cà rồng có cánh, và theo sau là đoàn quân chiến binh đã khuất. Toàn bộ vòm trời bùng cháy trong ánh hào quang cực quang, thế nhưng bóng tối vẫn giành phần thắng. Đó là một khoảnh khắc kinh hoàng. Và, ngay sát bên người phụ nữ đang run lẩy bẩy, Helga hiện ra đang ngồi bệt trên sàn nhà dưới lốt một con cóc gớm ghiếc, toàn thân run rẩy bám chặt lấy mẹ nuôi, người đã ôm trọn nó vào lòng và trìu mến ve vuốt, dẫu nó xấu xí và mang hình hài cóc nhái nhầy nhụa đến nhường nào. Bầu trời ngập tràn tiếng gươm giáo khua vang và tiếng tên bay xé gió, hệt như một trận mưa đá đang chút xuống trần gian. Bà ngỡ như đây chính là tận thế, khi trời đất nứt toác và muôn loài bị nuốt chửng trong hồ lửa của thần Saturn; thế nhưng bà linh cảm rằng một trời mới đất mới sẽ vươn lên, nơi những cánh đồng lúa mì sẽ sóng sánh dạt dào thay cho vùng hồ nước đang cuồn cuộn trên những bãi cát hoang tàn, và Đấng Tối Cao với uy quyền bất diệt sẽ ngự trị. Rồi bà nhìn thấy xuất hiện từ cõi chết vị thần Baldur hiền hậu, tràn đầy yêu thương, và khi vợ vị thủ lĩnh Viking đăm đăm nhìn ngài, bà bàng hoàng nhận ra gương mặt ấy. Đó chính là vị linh mục Cơ Đốc bị giam cầm. "Chúa Cơ Đốc trắng ngần!" bà cất tiếng kêu lên, và cùng với những từ ấy, bà đặt một nụ hôn lên trán đứa trẻ hình cóc gớm ghiếc. Lập tức lớp lốt cóc tuột rơi, và Helga hiện nguyên hình trong vẻ đẹp lộng lẫy, kiều diễm hơn, với nét mặt dịu dàng cùng đôi mắt ngời sáng tình yêu thương. Nó cúi xuống hôn đôi bàn tay người mẹ nuôi, tạ ơn vì tất cả tình yêu thương đùm bọc cùng sự chăm sóc suốt những ngày tháng giông bão lầm lạc, tạ ơn vì những suy nghĩ mà bà đã khơi gợi và đánh thức trong tim nó, và vì đã thốt lên Danh Thánh mà giờ đây nó đang thì thầm nhắc lại. Đoạn, giai nhân Helga vút bay lên thành một con thiên nga hùng dũng, vỗ đôi cánh tạo nên tiếng gió rào rào hệt như một đàn chim di cư đang xé mây bay qua bầu trời. Bấy giờ vợ vị thủ lĩnh Viking bừng tỉnh, nhưng bà vẫn nghe văng vẳng tiếng vỗ cánh rào rào ngoài kia. Bà biết đã đến thời điểm bầy cò cất cánh di cư, và chắc chắn đó là tiếng đôi cánh của chúng. Bà chợt dâng trào mong muốn được ngắm nhìn chúng thêm một lần nữa và cất lời tiễn biệt. Bà vùng dậy khỏi giường, bước ra thềm cửa và sững sờ trông thấy, trên chóp mái nhà, một đội hình cò đang đậu xếp hàng ngay ngắn. Từng đàn chim đang lượn những vòng tròn trên lâu đài và những tán cây cao nhất; nhưng ngay trước mặt bà, nơi thềm cửa sát chiếc giếng từng là chốn Helga hay ngồi nghịch ngợm khiến bà thót tim, giờ đang đứng hai con thiên nga đang đăm đăm nhìn bà bằng đôi mắt đầy vẻ khôn ngoan. Bấy giờ bà mới sực nhớ lại giấc mơ khi nãy, thứ vẫn còn vẹn nguyên chân thực trong tâm trí. Bà nghĩ đến Helga trong hình hài thiên nga. Bà nghĩ đến vị linh mục Cơ Đốc, và một niềm hạnh phúc diệu kỳ bất ngờ bùng nổ trong lồng ngực. Hai con thiên nga vỗ cánh rụt cổ lại hệt như đang cúi chào, và vợ vị thủ lĩnh Viking dang rộng vòng tay đón lấy họ, mỉm cười qua làn nước mắt rưng rưng. Bà sực tỉnh khỏi dòng suy tưởng sâu thẳm bởi tiếng vỗ cánh rào rào và tiếng mỏ khua lách cách; toàn bộ bầy cò đã đồng loạt cất cánh, khởi hành chuyến hành trình vạn dặm về phương nam. "Chúng ta không đợi mấy con thiên nga nữa đâu," cò mẹ cằn nhằn; "nếu tụi nó muốn đi cùng thì mau chân lên; chúng ta không thể cứ ngồi đây chờ cho đến khi lũ chim choắt cất cánh được. Dù sao đi nữa, di cư theo gia đình vẫn là tuyệt nhất, chẳng bù cho đám chim sẻ với gà gò. Mấy loài ấy toàn bay thành các đàn đực cái riêng biệt, nói thật chứ tôi trông ngứa mắt hết chỗ nói." "Mấy con thiên nga kia vỗ cánh làm gì thế nhỉ?" "À, mỗi loài có một kiểu bay riêng," cò bố giải thích. "Thiên nga bay theo đường chéo; sếu bay hình tam giác; còn chim choắt bay theo đường cong uốn lượn hệt như loài rắn." "Đang bay lượn thế này mà cứ lải nhải nhắc đến rắn rết làm gì," cò mẹ lườm. "Lại vẽ đường cho hươu chạy vào đầu lũ nhỏ bây giờ." "Kia có phải những ngọn núi cao mà người ta vẫn hay đồn đại không ạ?" Helga cất lời hỏi trong lốp vỏ thiên nga. "Đó chỉ là những đám mây giông đang cuồn cuộn trôi bên dưới chúng ta thôi con," người mẹ đáp. "Thế còn những cụm mây trắng nhô cao tít tắp đằng kia là gì vậy hả mẹ?" Helga lại tò mò hỏi. "Đó là những dãy núi quanh năm phủ tuyết trắng xóa đấy con ạ," người mẹ trả lời. Và thế là chúng bay vút qua dãy Alps hướng thẳng về vùng biển Địa Trung Hải xanh thẳm. "Đất mẹ Phi Châu! Bờ cát Ai Cập!" ái nữ dòng sông Nin cất tiếng hót trong bộ cánh thiên nga, khi từ tầng không trung cao vút, nàng bắt gặp quê hương xứ sở - một dải lụa vàng gợn sóng uốn lượn bên đôi bờ sông Nin; bầy chim khác cũng nhận ra và vội vã tăng tốc độ bay. "Ta ngửi thấy mùi bùn sông Nin và lũ cóc ẩm ướt rồi," cò mẹ hít hà, "và cái bụng bắt đầu réo gọi rồi đây. Vâng, giờ thì các con sắp được thưởng thức những món ngon vật lạ, và sẽ được diện kiến chim mạc cát, chim cò ibis cùng loài sếu. Tụi nó đều thuộc họ hàng nhà ta cả đấy, nhưng bề ngoài thì còn lâu mới đẹp đẽ bằng chúng ta. Tụi nó cứ hay làm cao, nhất là đám ibis. Tụi Ai Cập hư hỏng cưng chiều chúng quá hóa hư. Tụi nó ướp xác chúng lại rồi nhồi đầy gia vị thơm phức. Tôi thà bị nhồi đầy những con cóc sống còn hơn, và chắc chắn các con cũng thế, các con sẽ được toại nguyện. Ăn lúc còn sống sờ sờ trong bụng vẫn hơn là đem ra diễu hành phô trương sau khi đã chầu trời. Đó là chân lý của tôi, và tôi chưa bao giờ sai bao giờ." "Bầy cò đã về!" tiếng hô vang lên trong ngôi biệt thự nguy nga bên bờ sông Nin, nơi vị chúa tể đang nằm bẹp trên chiếc đi văng nhồi lông vũ, phủ tấm da báo, thoi thóp giữa ranh giới sự sống và cái chết, mỏi mòn ngóng trông đóa sen từ vùng đầm lầy xa xôi phương bắc. Gia nhân và người thân đang đứng vây quanh giường bệnh thì hai con thiên nga kiều diễm đi cùng bầy cò sải cánh bay thẳng vào đại sảnh. Chúng trút bỏ lớp vỏ lông vũ trắng muốt, và hai giai nhân kiều diễm tiến về phía cụ già xanh xao, ốm yếu, hất mái tóc dài sang một bên; và khi Helga cúi người ôm chầm lấy ông nội, gò má cụ hồng hào trở lại, đôi mắt ngời sáng, và nguồn sinh khí bừng bừng chảy rôm rốp trong các thớ thịt tê liệt. Cụ già bật dậy với sức khỏe và năng lượng được tái sinh; con gái và cháu gái hân hoan chào đón ngài hệt như lời chào buổi sớm mai sau một giấc mộng dài đầy giông bão. Niềm vui ngập tràn khắp biệt thự, cũng như trong tổ cò; dẫu rằng đối với loài cò, nguyên nhân chủ chốt chính là nguồn thức ăn dồi dào, đặc biệt là la liệt những con cóc béo bở cứ trồi lên từ lòng đất như ném hội. Lập tức, các bậc hiền triết bác học hốc hác vội vã cắm bút ghi chép lại câu chuyện về hai nàng công chúa, và ca ngợi sự kiện đóa hoa chữa bệnh xuất hiện như một kỳ tích vĩ đại mang lại phước lành cho gia tộc lẫn giang sơn. Trong khi đó, cò bố thấu đáo kể lại câu chuyện cho gia đình nghe theo cách của lão; nhưng phải đợi cho đến khi tụi nhỏ ăn no nê thỏa thuê; bằng không chúng sẽ bận rộn kiếm ăn chứ đời nào thèm nghe kể chuyện. "Này nhé," cò mẹ lẩm bẩm sau khi nghe xong, "cuối cùng anh cũng được nhìn nhận xứng đáng đấy; tôi đoán thế nào họ cũng phải ban cho anh chức tước gì chứ chẳng chơi." "Ta thì phong chức tước gì được chứ?" cò bố nhún lông đáp; "ta đã làm được cái quái gì đâu - tịnh chẳng có gì sất." "Anh đã làm nhiều hơn tất cả bọn họ cộng lại ấy chứ," nàng phản bác. "Nếu không có anh và tụi nhỏ, hai nàng công chúa đời nào còn được nhìn thấy mặt đất Ai Cập, và ơn phước cứu cụ già đã chẳng thành hiện thực. Anh thế nào cũng được ban thưởng cho xem. Chắc chắn họ phải tặng anh một chiếc mũ tiến sĩ, rồi lũ cò con nhà ta sẽ được thừa kế nó, truyền đời này sang đời khác. Nhìn anh bây giờ cứ y chang một vị bác sĩ Ai Cập thực thụ, ít nhất là trong mắt tôi." "Ta chẳng thể nhớ nổi từng câu chữ khi đứng hóng chuyện trên mái nhà nữa," cò bố vừa kể vừa gãi đầu khi thuật lại cho gia đình; "tất cả những gì ta nhớ là mấy lão bác học nói năng phức tạp và uyên bác đến mức không những được thăng quan tiến chức mà còn nhận quà cáp mỏi tay; ngay cả bếp trưởng trong dinh thự lớn cũng được thưởng huy chương danh dự, chắc là vì món súp quá ngon." "Thế còn anh thì sao, anh được thưởng cái gì nào?" cò mẹ trừng mắt hỏi. "Lẽ ra họ không được phép phớt lờ nhân vật cốt cán nhất trong vụ này, chính là anh chứ ai. Mấy gã bác học toàn dùng cái lưỡi để khua môi múa mép chứ làm được tích sự gì. Đời nào họ lại nỡ bỏ quên anh." Đêm đã về khuya, trong lúc giấc ngủ bình yên đang ôm ấp ngôi nhà hạnh phúc, vẫn có một kẻ thao thức canh chừng. Đó không phải cò bố, kẻ dẫu đứng một chân gác gươm nhưng vẫn ngáy khò khò ngon lành. Chỉ riêng Helga là vẫn thức. Nàng thò người ra khỏi ban công, đăm đăm ngắm nhìn những vì tinh tú lấp lánh đang tỏa sáng rực rỡ và tinh khôi hơn trong bầu không khí trong vãng so với bầu trời phương bắc, dẫu chúng vẫn là những ngôi sao cũ. Nàng nhớ về người vợ của vị thủ lĩnh Viking giữa chốn đầm lầy hoang dã, nhớ đôi mắt hiền từ của mẹ nuôi, nhớ cả những giọt nước mắt bà từng tuôn rơi vì con cóc nhỏ khốn khổ giờ đang sống trong vinh quang và vẻ đẹp rực rỡ tựa sao trời bên dòng sông Nin, với bầu không khí ngào ngạt hương xuân. Nàng nghĩ về thứ tình yêu ngự trị trong lồng ngực người phụ nữ ngoại đạo ấy - tình yêu từng dành cho một sinh vật căm ghét như con người và gớm ghiếc khi hóa thân thành loài vật. Nàng ngước nhìn những vì tinh tú lấp lánh, tưởng nhớ thứ ánh hào quang từng tỏa sáng trên vương miện của người chết khi nàng cùng ngài bay vụt qua rừng sâu đầm lầy. Những giai điệu vang vọng trong ký ức; những lời ngài từng thì thầm trên lưng ngựa khi nàng được cất nhắc đi qua không trung trong nỗi ngỡ ngàng run rẩy; những lời phát ra từ Tuyền Nguồn vĩ đại của tình yêu - thứ tình yêu cao cả nhất bao trùm toàn nhân loại. Điều gì chưa từng được chinh phục bởi tình yêu ấy chứ? Ngày qua ngày, giai nhân Helga chìm đắm trong sự chiêm nghiệm về khối hạnh phúc khổng lồ của đời mình, chìm ngập đến quên cả lối về, hệt như một đứa trẻ vội vã quay lưng khỏi người trao quà chỉ để ngắm nghía món đồ chơi lộng lẫy. Nàng choáng ngợp trước vận may rực rỡ dường như không ngừng sinh sôi, và tự hỏi tương lai sẽ còn đưa mình đi đến đâu? Chẳng phải nàng đã được dẫn dắt đến với niềm vui hạnh phúc này bởi một phép màu kỳ diệu đó sao? Và cứ mải miết chìm đắm trong những suy tưởng ấy, cuối cùng nàng quên bẵng đi Đấng Ban Phát. Đó chính là sự dạt dào của tinh thần tuổi trẻ đang giương cánh cho một chuyến bay táo bạo. Đôi mắt nàng ngời sáng năng lượng, thì bất thình lình, một âm thanh chói tai vang lên từ khoảng sân phía dưới, quét sạch những suy nghĩ bạo gan. Nàng cúi đầu nhìn xuống và bắt gặp hai con đà điểu to lớn đang cắm cổ chạy vòng quanh trong những vòng tròn hẹp; nàng chưa từng trông thấy sinh vật nào thế này bao giờ - những con chim khổng lồ, thô kệch, vụng về với đôi cánh kỳ dị trông như bị cắt cụt, và bản thân chúng thì mang dáng vẻ tả tơi bầm dập. Nàng gặng hỏi và lần đầu tiên được nghe truyền thuyết mà người Ai Cập vẫn lưu truyền về loài đà điểu. Thuở xưa, người ta kể rằng đà điểu từng là một giống loài chim vô cùng xinh đẹp và kiêu hãnh, sở hữu đôi cánh to rộng, vạm vỡ. Một buổi tối nọ, những loài chim lớn khác trong rừng bảo đà điểu rằng: "Này huynh đệ, sáng mai chúng ta cùng bay ra sông uống nước nhé, nếu Chúa cho phép?" và đà điểu ngạo mạn đáp: "Ta sẽ đi." Vừa rạng sáng, chúng cất cánh bay vụt lên; ban đầu bay vút cao vào bầu trời, hướng thẳng về phía mặt trời - con mắt của Chúa; đà điểu bay ngày càng cao, vượt qua cả những loài chim khác, kiêu hãnh tiến sát nguồn ánh sáng, tự tin vào sức mạnh bản thân mà quên bẵng Đấng Ban Phát, chẳng thèm nói câu "nếu Chúa cho phép". Bất thình lình, thiên thần báo thù giật phăng tấm màn che khỏi biển lửa chói lóa của ánh mặt trời, và chỉ trong tích tắc, đôi cánh của con chim kiêu ngạo bị thiêu rụi, quắt queo, và chúng rơi thảm hại xuống mặt đất. Kể từ dạo ấy, đà điểu và hậu duệ của chúng chẳng bao giờ còn có thể vươn mình cất cánh bay lên bầu trời; chúng chỉ có thể chắp cánh trong hoảng sợ sà sát mặt đất, hoặc quẩn quanh chạy vòng tròn trong những lối mòn chật hẹp. Đó là lời cảnh tỉnh cho nhân loại rằng trong mọi suy nghĩ, mưu đồ lẫn hành động thực hiện, chúng ta luôn phải nhớ nói câu "nếu Chúa cho phép". Bấy giờ Helga cúi đầu trầm ngâm suy tư, đăm đăm nhìn con đà điểu đang cắm cổ chạy vòng tròn, khi nó vừa e sợ vừa thích thú ngắm nhìn cái bóng khổng lồ của chính mình hắt lên những bức tường rực rỡ ánh dương. Và câu chuyện về loài đà điểu đã cắm sâu rễ vào tâm hồn lẫn trí tuệ Helga: một cuộc đời hạnh phúc, cả ở hiện tại lẫn tương lai, dường như đã được bảo chứng cho nàng, và những gì sắp tới sẽ còn tuyệt vời hơn nữa, nếu Chúa cho phép. Đầu mùa xuân, khi bầy cò chuẩn bị rục rịch cất cánh trở về phương bắc, giai nhân Helga tháo chiếc vòng vàng trên tay, khắc tên mình lên đó và ra hiệu cho cò bố. Lão tiến lại gần, và nàng tròng chiếc vòng vàng lên cổ lão, khẩn khoản nhờ lão trao tận tay cho vợ vị thủ lĩnh Viking, để bà hay tin đứa con nuôi vẫn còn sống, hạnh phúc và chưa từng quên ơn bà. "Mang cái này nặng nề phết đấy," cò bố thỉnh cầu khi chiếc vòng đã vắt vẻo trên cổ; "nhưng vàng bạc và danh dự thì chẳng ai dại gì ném ra đường. Loài cò mang lại vận may - cuối cùng thì tụi nó cũng phải thừa nhận điều đó thôi." "Anh thì chuyên ném vàng, còn tôi thì đẻ trứng," cò mẹ cạnh khóe; "anh thì thỉnh thoảng mới có một lần, còn tôi năm nào cũng đẻ trứng. Thế mà chẳng ai thèm ghi nhận công sức của chúng ta; tôi thấy ấm ức thế nào ấy." "Nhưng bù lại chúng ta có sự tự hào về giá trị của bản thân chứ mình," cò bố an ủi. "Tự hào thì mài ra mà ăn được chắc?" cò mẹ bĩu môi; "chẳng mang lại nổi một cơn gió thuận hay một bữa no nê chứ ở đó mà tự với chả hào." "Chú chim sơn ca nhỏ bé đang ca hót đằng kia trong lùm cây me cũng sẽ sớm bay về phương bắc." Helga thưa rằng nàng từng nghe nó hót trên cánh đồng đầm lầy hoang dã, thế nên nàng quyết định gửi gắm một thông điệp qua nó. Trong lúc khoác lớp vỏ thiên nga, nàng đã học được ngôn ngữ loài chim; nàng từng trò chuyện với cò và chim én, và nàng biết chim sơn ca sẽ hiểu. Thế là nàng khẩn khoản nài nỉ chim sơn ca bay đến khu rừng sồi trên bán đảo Jutland, nơi một gò đất đắp bằng đá và cành cây được dựng lên làm nấm mồ, nài nỉ nó thuyết phục toàn bộ loài chim khác xây tổ quây quần quanh chốn ấy, để muôn đời muôn thuở khúc ca tiếng nhạc sẽ vang vọng mãi trên nấm mồ kia. Và chim sơn ca vỗ cánh bay đi, thời gian cũng cuốn trôi đi theo những cánh bay. Vào mùa thu, một chú đại bàng đậu trên đỉnh kim tự tháp chứng kiến một đoàn lữ hành oai nghiêm gồm những thương buôn chở đầy hàng hóa cùng những tráng sĩ mặc giáp ngự trên lưng chiến mã Ả Rập phi nước đại, với bộ da bóng mượt lấp lánh như bạc, lỗ mũi hồng rực và bờm dày rủ sà xuống đôi chân thanh mảnh. Một vị hoàng tử hoàng gia xứ Ả Rập, đẹp đẽ đúng chuẩn mực một bậc vương tôn, đi cùng những vị khách quý đang trên đường tiến về ngôi biệt thự uy nghi, trên mái nhà có thể nhìn thấy những chiếc tổ cò trống trơn. Bọn chúng đã bay đi tận phương bắc xa xôi, nhưng được mong đợi sẽ sớm trở về. Và quả thực, chúng đã quay về vào một ngày ngập tràn niềm vui và hân hoan. Một lễ cưới đang được cử hành, trong đó giai nhân Helga lộng lẫy trong lụa là châu báu chính là cô dâu, và chú rể là vị hoàng tử trẻ tuổi người Ả Rập. Cô dâu chú rể ngự ở vị trí trang trọng nhất cuối bàn tiệc, ngồi giữa mẹ cô dâu và ông nội. Thế nhưng ánh mắt nàng không hề hướng về chú rể - người có gương mặt nam tính rám nắng viền quanh bộ râu đen cùng đôi mắt sắc lẹm đăm đăm nhìn nàng; mà hướng tít ra xa, về phía một ngôi sao lấp lánh đang tỏa sáng rực rỡ từ bầu trời. Bấy giờ tiếng vỗ cánh rào rào xé gió vang lên. Bầy cò đang trở về tổ ấm; và cặp cò già, dù mệt nhoài sau chuyến hành trình dài và rất cần nghỉ ngơi, vẫn không quên lập tức bay sà xuống lan can ban hồ, bởi chúng thừa biết đám cưới nào đang được cử hành. Chúng từng nghe ngóng tin tức ở biên giới đất liền, và cũng hay tin Helga đã cho tạc hình ảnh của chúng lên tường, bởi chúng thuộc về lịch sử của nàng. "Ta đánh giá cao sự tinh tế và dễ thương ấy," cò bố tấm tắc. "Vâng, nhưng thế thì quá ít," cò mẹ bĩu môi; "bọn chúng đời nào làm ít hơn thế được." Thế nhưng, khi Helga trông thấy chúng, nàng liền đứng dậy bước ra ban lang sờ lưng bầy cò. Cặp cò già cung kính cúi đầu, uốn cong cổ, và ngay cả những chú cò non nhất cũng cảm thấy vô cùng vinh dự trước màn tiếp đón này. Helga tiếp tục đăm đăm ngắm nhìn ngôi sao lấp lánh đang tỏa sáng rực rỡ và tinh khôi hơn trong thứ ánh sáng của nó; rồi lơ lửng giữa nàng và ngôi sao là một bóng hình còn tinh khiết hơn cả không khí, hiển hiện rõ ràng qua tầng không. Nó lơ lửng sà sát lại gần nàng, và nàng nhận ra đó chính là vị linh mục Cơ Đốc quá cố - người cũng đang đến tham dự tiệc cưới của nàng - cõi vĩnh hằng thiên quốc. "Vẻ đẹp vinh quang và rực rỡ ở trên kia lấn át toàn bộ những gì trần thế này từng biết đến," ngài cất lời. Đoạn, giai nhân Helga thành kính cất lời cầu nguyện nhẹ nhàng và thiết tha hơn bất kỳ lần nào trong đời, xin được phép ngắm nhìn, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, vẻ đẹp vinh quang và rực rỡ của cõi thiên quốc. Rồi nàng cảm thấy thân mình như được nhấc bổng lên khỏi mặt đất, lướt qua một vùng biển âm thanh và tư tưởng; không chỉ xung quanh mà ngay trong lồng ngực nàng, ánh sáng và khúc ca tuôn trào ngập tràn vượt ngoài sức từ ngữ có thể diễn tả. "Giờ thì chúng ta phải quay về thôi," ngài nhắc nhở; "họ đang tìm cô đấy." "Cho con xin thêm một cái nhìn nữa thôi," nàng nài nỉ; "chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi nữa thôi." "Chúng ta phải trở về mặt đất; khách khứa đã tản mác hết rồi. Chỉ một cái nhìn nữa thôi! — khoảnh khắc cuối cùng!" Bấy giờ Helga lại đứng sững ở ban công. Thế nhưng những ngọn đèn cưới trong đại sảnh đã tắt ngúm, và những ngọn đuốc bên ngoài cũng biến mất tăm. Bầy cò đã bay đi; chẳng một vị khách nào sót lại - vạn vật trong tích tắc ngắn ngủi ấy dường như đều đã lụi tàn vào cõi chết. Bấy giờ một nỗi hoảng sợ tột độ bóp nghẹt lấy nàng. Nàng lê bước từ ban công băng qua đại sảnh trống hoác để vào căn phòng kế bên, nơi những tráng sĩ lạ mặt đang say ngủ. Nàng đẩy cánh cửa phụ từng dẫn đến phòng riêng của mình, nhưng khi bước qua, nàng ngỡ ngàng thấy mình đột ngột lạc vào một khu vườn chưa từng thấy bao giờ, bầu trời nhuốm màu đỏ rực, đó là thời khắc bình minh rạng rỡ. Ba phút ở thiên đàng, và cả một đêm dài trần thế đã trôi qua! Bấy giờ nàng nhìn thấy bầy cò và cất tiếng gọi chúng bằng chính ngôn ngữ loài chim. Lúc bấy giờ cò bố quay đầu lại, lắng tai nghe tiếng nàng và tiến lại gần. "Cô nói ngôn ngữ của chúng tôi cơ à," lão lẩm bẩm, "cô muốn gì nào? Tại sao cô lại xuất hiện ở đây — một người phụ nữ xa lạ?" "Chính là em đây — Helga đây! Anh không nhận ra em sao? Mới ba phút trước chúng ta còn trò chuyện với nhau đằng kia ngoài ban công mà." "Cô nhầm rồi," cò chắc nịch đáp, "chắc cô mơ mộng hão huyền thế thôi." "Không, không," nàng ré lên. Đoạn nàng gợi nhắc lại cho lão về lâu đài của vị thủ lĩnh Viking, về hồ nước lớn và chuyến hành trình vượt đại dương. Bấy giờ cò bố chớp chớp mắt, buông lời: "Ấy chà, đó là câu chuyện cổ tích từ thời ông cố của tôi cơ mà. Quả thực từng có một nàng công chúa như thế ở Ai Cập, xuất thân từ đất nước Đan Mạch, nhưng nàng đã biến mất vào đêm ngày cưới từ nhiều trăm năm trước và chẳng bao giờ trở lại. Cô có thể tự mình đọc về tích ấy đằng kia, trên tấm bia tưởng niệm trong vườn. Ở đó có chạm khắc hình thiên nga và cò, và trên chóp đỉnh là bức tượng bằng cẩm thạch hình nàng công chúa Helga." Và quả thực đúng là như thế; Helga giờ đây đã thấu hiểu toàn bộ sự thật và quỵ sụp xuống đầu gối. Mặt trời bùng nổ tung tóe ánh hào quang rực rỡ, và hệt như thuở xưa, hình hài con cóc tan biến trong ánh dương, và vóc dáng kiều diễm hiện nguyên hình trong vẻ đẹp lộng lẫy; giờ đây cũng thế, tắm mình trong ánh sáng, một vóc dáng kiều diễm vươn lên, tinh khiết hơn, trong trẻo hơn cả không khí — một tia sáng rực rỡ phát xuất từ chính Tuyền Nguồn ánh sáng. Thân xác vụn vỡ thành tro bụi, và một đóa sen héo úa nằm lại trơ trọi trên chốn Helga từng đứng. "Ấy chà, đây lại là một cái kết hoàn toàn mới cho câu chuyện," cò bố tấm tắc; "tôi quả thực chưa bao giờ ngờ nó lại kết thúc thế này, nhưng ngẫm lại cũng là một cái kết vô cùng viên mãn." "Không biết tụi nhỏ sẽ nghĩ sao về chuyện này nhỉ," cò mẹ băn khoăn. "A, đó mới là câu hỏi hóc búa đây," cò bố đáp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của H. C. Andersen

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.