Truyện Cổ Tích Hans Christian Andersen

Lượt đọc: 375 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chúm Chim Dân Ca

❊ ❊ ❊

Đang là giữa mùa đông. Trái đất khoác lên mình tấm áo tuyết trắng ngần, trông tựa như cẩm thạch được đẽo gọt từ vách đá; bầu trời sáng trong và quang đãng; gió sắc lạnh như thanh gươm được tôi luyện kỹ càng, còn những tán cây đứng sừng sững như cành san hô trắng hay những nhành hạnh đang mùa nở hoa, giá buốt chẳng kém gì trên đỉnh Alps cao vời vợi.

Đêm thật rực rỡ dưới ánh hào quang của Bắc Cực quang và muôn vàn vì sao lấp lánh.

Nhưng chúng ta đang ngồi trong căn phòng ấm áp, bên chiếc lò sưởi bập bùng, và cùng nhau ôn lại chuyện cũ. Và chúng ta lắng nghe câu chuyện này:

Bên bờ biển rộng là ngôi mộ của một người khổng lồ; và trên gò mồ ấy, vào lúc nửa đêm, linh hồn của vị anh hùng đã khuất – từng là một vị vua – đang ngồi đó. Vòng kim cô tỏa sáng trên vương miện, mái tóc bay phần phật trong gió, và mình khoác giáp sắt áo cừ. Ông cúi đầu buồn bã, thở dài não nề trong nỗi sầu muộn khôn nguôi, tựa như tiếng thở dài của một linh hồn bất an.

Rồi có một con tàu lướt sóng đi qua. Chẳng mấy chốc, các thủy thủ thả neo và bước lên bờ. Trong số họ có một ca sĩ, ông tiến lại gần linh hồn vị vua và cất lời:

“Cớ sao ngài sầu muộn, và vì đâu ngài phải chịu đựng nỗi khổ đau này?”

Và người đã khuất đáp lời:

“Chẳng có ai ca tụng những chiến công trong cuộc đời ta; chúng đã chết và chìm vào quên lãng. Lời ca chẳng đưa chúng vượt qua muôn trùng xứ sở, cũng chẳng chạm đến trái tim con người; thế nên ta chẳng có lấy một phút nghỉ ngơi hay bình yên.”

Và ông kể về những công trạng của mình, về những chiến tích trận mạc mà những người cùng thời từng biết đến, nhưng lại chưa từng được cất lên thành lời ca, bởi trong số những bề tôi của ông chẳng có lấy một người ca sĩ.

Bấy giờ, người nghệ sĩ già bèn gảy những phím đàn hạc, cất tiếng hát về lòng dũng cảm thời trẻ trai của vị anh hùng, về sức mạnh của người đàn ông, và về sự vĩ đại trong những việc thiện của ông. Ngay lập tức, khuôn mặt của người đã khuất bừng sáng tựa rìa đám mây dưới ánh trăng. Trong niềm hoan hỉ và phấn chấn, bóng hình ấy vươn dậy đầy vẻ lộng lẫy, uy nghi, rồi biến mất như tia chớp lóe lên của ánh sáng phương Bắc. Chẳng còn thấy gì ngoài gò cỏ xanh mướt với những phiến đá chẳng khắc một dòng chữ Rune nào; nhưng đúng lúc tiếng đàn hạc ngân lên nốt cuối cùng, từ trên ngọn đồi, một chú chim nhỏ bay vút lên như thể vừa tung cánh bay ra từ cây đàn – một chú chim ca miệt mài, đáng yêu, với giọng hót trong trẻo của loài hoạ mi, với nỗi niềm xao xuyến đầy cảm xúc của trái tim con người, với âm điệu thì thầm về quê hương xứ sở, tựa khúc ca mà loài chim di trú vẫn thường lắng nghe. Chú chim ca bay vút đi, vượt qua núi non thung lũng, qua đồng ruộng và rừng sâu—chú chính là Chim Dân Ca, loài chim không bao giờ chết.

Chúng ta nghe tiếng hót của chú – ta nghe thấy ngay trong căn phòng này, khi ngoài kia những bông tuyết trắng đang rợp trời bay lượn và cơn bão gầm rú đập vào khung cửa sổ. Chú chim không chỉ cất lên khúc nhạc tiễn đưa các anh hùng; chú còn hát những khúc ca tình yêu ngọt ngào, dịu dàng, ấm áp biết bao, ca ngợi lòng chung thủy và chân tình của miền Bắc. Chú lưu giữ những câu chuyện qua lời ca và giai thoại; chú mang những câu tục ngữ và những khúc ca dao; những câu hát tựa như những ký tự Rune đặt dưới lưỡi người chết, buộc họ phải cất lời; và cứ thế, Dân Ca kể cho ta nghe về mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình.

Thuở hồng hoang ngoại giáo, trong thời đại của những chiến thuyền Viking, tiếng nói của nhân dân đã được gửi gắm trọn vẹn trong cây đàn hạc của người nghệ sĩ.

Đến thời của những lâu đài hiệp sĩ, khi kẻ nắm chiếc nấm đấm mạnh mẽ nhất là kẻ cầm cân nảy mực, khi bạo lực là công lý, và một người nông dân có giá trị chẳng khác gì một con chó, thì Chim Ca đã tìm được chốn nương thân và che chở ở nơi nào? Chẳng một ai màng đến sự tàn bạo hay ngu muội ấy.

Thế nhưng bên ô cửa sổ có mái ngói nhọn của lâu đài hiệp sĩ, bà phu nhân ngồi trước cuộn da cừu, ghi chép lại những hoài niệm xưa cũ thành thơ ca và truyền thuyết, trong khi đứng cạnh bà là bà già trong rừng, cùng người thợ buôn rong ruổi khắp chốn thôn quê. Khi họ kể những câu chuyện ấy, bay lượn xung quanh họ, ríu rít tiếng hót là Chim Dân Ca – loài chim sẽ chẳng bao giờ chết chừng nào trái đất còn giữ lại một ngọn đồi để cho đôi chân nhỏ bé ấy đậu vào.

Và giờ đây, chú ghé mắt nhìn vào căn phòng chúng ta và cất tiếng ca. Bên ngoài là màn đêm và bão tuyết. Chú đặt những ký tự Rune dưới lưỡi chúng ta, và ta thấu hiểu mảnh đất quê hương mình. Thiên đàng đang thì thầm với chúng ta bằng thứ tiếng mẹ đẻ, qua giọng hót của Chim Dân Ca. Những ký ức xưa bỗng bừng tỉnh, những sắc màu phai nhạt bỗng rực sáng tươi mới, để rồi câu chuyện và khúc ca rót vào lòng ta một chén rượu thiêng liêng, nâng bổng tâm trí và suy nghĩ của chúng ta lên, khiến buổi tối mùa đông hóa thành một ngày lễ Giáng sinh ấm áp.

Những bông tuyết đuổi theo nhau, mặt băng nứt toác, bão tố hoành hành ngoài kia bởi hắn có quyền lực, hắn là chúa tể – nhưng chẳng phải là CHÚA TỂ CỦA MUÔN LOÀI.

Đang là giữa mùa đông. Gió sắc như gươm hai lưỡi, những bông tuyết đuổi bắt nhau; ngỡ như tuyết đã rơi ròng rã suốt bao ngày bao tuần, và lớp tuyết dày cộm phủ kín cả thị trấn như một giấc mộng nặng nề của đêm đông. Vạn vật trên mặt đất đều bị vùi lấp, chỉ còn cây thánh giá bằng vàng trên nhà thờ – biểu tượng của đức tin – là nhô lên khỏi nấm mồ tuyết trắng, lấp lánh giữa bầu trời xanh thẳm và ánh nắng rực rỡ.

Và bay lượn bên trên thị trấn đã bị vùi lấp ấy là những loài chim trời, lớn có nhỏ có; chúng ríu rít và cất tiếng hót hay nhất có thể, mỗi chú chim bằng chiếc mỏ của mình.

Đầu tiên là đàn chim sẻ: chúng lích chích bàn tán về mọi chuyệnn vụn vặt ngoài đường phố và ngõ hẻm, trong những chiếc tổ và dưới mái nhà; chúng có bao câu chuyện để kể về những dãy nhà mặt tiền cho đến những khu nhà phía sau.

“Chúng tôi biết rõ thị trấn bị chôn vùi này,” chúng nói; “mọi sinh vật sống trong đó đều pi-ep! pi-ep! pi-ep!”

Những con quạ đen và quạ khoang bay sà qua lớp tuyết trắng.

“Đào bới, đào bới!” chúng kêu lên. “Có thứ gì đó ở dưới kia kìa; có thứ để nuốt trôi, và đó mới là điều quan trọng nhất. Đó cũng là ý kiến của đa số kẻ dưới kia, và ý kiến ấy thật l-à-a tốt!”

Những chú chim thiên nga hoang dã bay tới với đôi cánh đập phành phạch, cất cao tiếng hát ngợi ca những điều cao cả, vĩ đại vẫn sẽ đâm chồi nảy lộc trong trái tim con người, sâu thẳm dưới thị trấn đang ngủ yên dưới tấm khăn voan trắng muốt.

Chẳng có cái chết nào ở đó cả – sự sống đang ngự trị nơi ấy; ta nghe thấy điều đó qua những nốt nhạc vang vọng dâng trào tựa âm hưởng từ chiếc đại phong cầm trong nhà thờ, lay động tâm can ta như những thanh âm vẳng ra từ ngọn đồi yêu tinh, như khúc ca của Ossian, như tiếng gió rít qua đôi cánh của những linh hồn lang thang. Thật là một thứ hòa âm tuyệt diệu! Bản hòa âm ấy thủ thỉ vào trái tim ta và nâng bổng tâm hồn ta lên! Đó chính là Chim Dân Ca mà ta đang lắng nghe.

Và ngay khoảnh khắc này, hơi ấm của bầu trời tràn ngập buông xuống từ đỉnh cao. Những khoảng trống xuất hiện giữa những dãy núi tuyết, ánh mặt trời chiếu rọi vào các khe đá; mùa xuân đang đến, đàn chim đang quay về, và những thế hệ mới lại cất tiếng với những giai điệu quê hương quen thuộc trong lồng ngực.

Hãy lắng nghe câu chuyện của năm tháng: “Đêm của bão tuyết, giấc mộng nặng nề của đêm đông, tất cả rồi sẽ tan biến, tất cả rồi sẽ bừng tỉnh trong giai điệu tuyệt diệu của Chim Dân Ca – loài chim chẳng bao giờ chết!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của H. C. Andersen

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.