Truyện Cổ Tích Hans Christian Andersen

Lượt đọc: 375 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chiếc Rương Bay

❊ ❊ ❊

Ngày xửa ngày xưa, có một nhà buôn giàu đến mức ông có thể lát kín cả con phố bằng tiền vàng, mà vẫn còn dư dả để lát thêm một con ngõ nhỏ. Nhưng ông không làm thế; ông hiểu giá trị của đồng tiền hơn là đem nó ra tiêu xài kiểu ấy. Ông khôn ngoan đến nỗi cứ bỏ ra một đồng shilling là thu về được một đồng crown, và cứ thế mãi cho đến khi qua đời. Con trai ông thừa hưởng khối gia tài ấy và sống một cuộc đời sung sướng hết mình; tối nào cậu cũng đi dự tiệc hóa trang, dùng những tờ giấy bạc năm bảng Anh để thả diều, và ném những đồng tiền vàng xuống biển thay cho hòn sỏi để chơi trò nhái nhảy. Cứ đà này, chẳng mấy chốc cậu tiêu sạch hết số tiền. Cuối cùng, cậu chẳng còn lại gì ngoài một đôi giày đi trong nhà, một chiếc áo choàng tắm cũ và bốn đồng shilling. Thế là tất cả bạn bè đều quay lưng với cậu, họ chẳng thèm đi cùng cậu trên phố nữa; nhưng có một người vốn tốt bụng đã gửi cho cậu một chiếc chiếc rương cũ kèm theo lời nhắn: "Hãy gói ghém hành lý lên đường đi!"

"Đúng vậy," cậu tự nhủ, "nói 'gói ghém' thì nghe dễ lắm," nhưng cậu chẳng còn gì để mà gói nữa, thế là cậu liền ngồi hẳn vào trong chiếc rương.

Đó là một chiếc rương vô cùng kỳ diệu; chỉ cần ai đó ấn vào ổ khóa là chiếc rương có thể bay lên. Cậu đậy nắp lại và bấm ổ khóa, lập tức chiếc rương bay vút qua ống khói mang theo con trai nhà buôn bay thẳng lên tận những tầng mây. Mỗi khi đáy rương phát ra tiếng kêu răng rắc, cậu lại sợ tái mặt, bởi vì nhỡ chiếc rương mà rời ra từng mảnh thì cậu sẽ có một cú lộn nhào kinh hoàng qua ngọn cây. Dẫu vậy, cuối cùng cậu cũng hạ cánh an toàn bằng chiếc rương xuống đất nước Thổ Nhĩ Kỳ. Cậu giấu chiếc rương trong một khu rừng dưới những lớp lá khô rồi đi vào thị trấn: cậu có thể làm điều này rất dễ dàng, bởi người Thổ Nhĩ Kỳ lúc nào cũng mặc áo choàng tắm và đi giày trong nhà giống như cậu. Cậu tình cờ gặp một người vú em đang bế một đứa trẻ. "Này bà vú người Thổ Nhĩ Kỳ kia," cậu cất tiếng hỏi, "cái lâu đài nằm gần thị trấn có những ô cửa sổ nằm tít trên cao kia là của ai vậy?"

"Đó là nơi con gái nhà vua ở," cô đáp; "có lời tiên tri rằng công chúa sẽ gặp nhiều điều bất hạnh vì chuyện yêu đương, thế nên không ai được phép đến thăm công chúa, trừ khi có sự hiện diện của nhà vua và hoàng hậu."

"Cảm ơn bà," con trai nhà buôn nói. Thế là cậu quay lại khu rừng, ngồi vào trong rương, bay vút lên mái lâu đài và leo qua cửa sổ vào phòng công chúa. Nàng đang nằm ngủ trên ghế sô-pha, và nàng xinh đẹp đến mức con trai nhà buôn không kìm được mà phải đặt một nụ hôn lên môi nàng. Lúc ấy nàng tỉnh dậy và vô cùng hoảng sợ; nhưng cậu liền trấn an rằng mình là một vị thiên thần người Thổ Nhĩ Kỳ đã bay qua bầu trời đến để thăm nàng, nghe vậy công chúa vô cùng thích thú. Cậu ngồi xuống bên cạnh và trò chuyện với nàng: cậu bảo đôi mắt nàng giống như những hồ nước tối thẳm tuyệt đẹp, nơi những ý nghĩ bơi lội tung tăng như những nàng tiên cá nhỏ, và cậu còn nói trán nàng tựa như ngọn núi tuyết chứa đựng những sảnh đường nguy nga lộng lẫy đầy tranh vẽ. Rồi cậu kể cho nàng nghe về loài cò chuyên mang những đứa trẻ xinh đẹp từ các dòng sông đến. Đó thực sự là những câu chuyện vô cùng mê hoặc; và khi cậu ngỏ lời cầu hôn, công chúa liền đồng ý ngay lập tức.

"Nhưng chàng phải đến vào ngày thứ Bảy nhé," nàng nói; "vì khi ấy nhà vua và hoàng hậu sẽ dùng trà với em. Họ sẽ rất đắc ý khi biết rằng em sắp được kết hôn với một thiên thần người Thổ Nhĩ Kỳ; nhưng chàng phải chuẩn bị dăm ba câu chuyện thật hay để kể cho họ nghe, bởi cha mẹ em thích nghe kể chuyện hơn bất cứ thứ gì trên đời. Mẹ em chuộng những câu chuyện sâu sắc mang tính giáo dục; còn cha em lại thích thứ gì đó hài hước để khiến ông cười sảng khoái."

"Được thôi," cậu đáp; "anh sẽ chẳng mang sính lễ nào khác ngoài một câu chuyện," và thế là họ tạm biệt nhau. Tuy nhiên, công chúa đã tặng cho cậu một thanh gươm nạm đầy những đồng tiền vàng, và cậu có thể dùng chúng để chi tiêu.

Sau đó, cậu bay về thị trấn mua một chiếc áo choàng tắm mới, rồi quay lại khu rừng để tự sáng tác một câu chuyện chuẩn bị cho ngày thứ Bảy, điều này vốn chẳng dễ dàng chút nào. Dù vậy, mọi thứ cũng đã sẵn sàng vào ngày thứ Bảy khi cậu đến diện kiến công chúa. Nhà vua, hoàng hậu và toàn thể triều đình đang dùng trà cùng công chúa; và cậu được tiếp đón vô cùng lịch sự.

"Chàng có thể kể cho chúng ta nghe một câu chuyện được không?" hoàng hậu lên tiếng,—"một câu chuyện mang tính giáo dục và uyên bác sâu sắc ấy."

"Vâng, nhưng phải có tình tiết gì đó buồn cười để mà cười chứ," nhà vua chen vào.

"Dạ vâng, xin tuân lệnh," cậu đáp rồi bắt đầu ngay lập tức, đề nghị mọi người chú ý lắng nghe. "Ngày xửa ngày xưa có một bó diêm vô cùng kiêu hãnh về dòng dõi cao quý của mình. Cây gia phả của chúng, chính là cái cây thông lớn mà từ đó người ta đã chặt chúng ra, thuở ấy từng là một cổ thụ to lớn trong rừng. Bấy giờ đám diêm nằm giữa một hộp quẹt và một cái chảo sắt cũ, đang rôm rả ôn lại những ngày tháng tuổi trẻ. 'Ạh! Thuở ấy chúng ta từng mọc trên những cành lá xanh tươi, xanh mướt như bao chiếc lá khác; mỗi sớm mai và chiều tà chúng ta được nuôi dưỡng bằng những giọt sương mai tinh khiết như kim cương. Hễ mặt trời chiếu rọi là chúng ta lại cảm nhận được hơi ấm chan hòa, và những chú chim nhỏ thường cất tiếng hót lí lo để kể chuyện cho chúng ta nghe. Chúng ta biết rằng mình rất giàu có, bởi những loài cây khác chỉ biết khoác lên mình chiếc áo xanh vào mùa hạ, còn dòng họ chúng ta lại có thể diện áo xanh suốt cả bốn mùa xuân hạ thu đông. Thế nhưng người tiều phu đã xuất hiện như một cuộc cách mạng vĩ đại, và dòng họ chúng ta đã ngã gục dưới lưỡi rìu. Cụ tổ của dòng họ được chọn làm cột buồm chính cho một con thuyền tráng lệ, và có thể giương buồm đi vòng quanh thế giới bất cứ lúc nào hắn muốn. Những cành khác trong gia tộc thì được đưa đến những nơi khác nhau, và nhiệm vụ của chúng ta giờ đây là thắp lửa cho những kẻ phàm trần thấp kém. Đó là cơ duyên đưa một gia đình danh giá như chúng ta lại phải nằm xó trong nhà bếp này.'

'Phận tôi thì lại trải qua một ngã rẽ hoàn toàn khác,' chiếc nồi sắt đứng cạnh đám diêm lên tiếng; 'từ ngày đầu tiên bước chân vào cõi đời này, tôi đã quen với việc nấu nướng và cọ rửa. Tôi là kẻ đứng đầu trong cái nhà này mỗi khi cần nấu món gì chắc bụng hay có ích. Niềm vui duy nhất của tôi là được kỳ cọ thật sạch sẽ và sáng bóng sau bữa ăn, rồi được ngồi yên vị ở góc quen để trò chuyện tâm tình với dường tụ hàng xóm. Tất cả chúng ta, ngoại trừ chiếc xách nước thỉnh thoảng bị lôi ra sân, đều sống quây quần bên nhau trong bốn bức tường này. Chúng ta hóng tin tức từ chiếc giỏ đi chợ, nhưng thỉnh thoảng hắn toàn mang về những chuyện chẳng mấy hay ho gì về người ta và triều đình. À đúng rồi, có dạo một chiếc nồi cũ đến mức hoảng hốt cả người, ngã lăn ra và vỡ thành từng mảnh. Tôi dám cá hắn là một kẻ có tư tưởng phóng khoáng đấy.'

'Cậu nói nhiều quá đấy,' chiếc hộp quẹt ngắt lời, rồi hòn đá lửa cọ mạnh vào thanh sắt cho đến khi những tia lửa tóe ra, vừa rít lên: 'Chúng ta cần một buổi tối tưng bừng vui vẻ chứ nhỉ?'

'Đương nhiên rồi,' đám diêm hưởng ứng, 'nào hãy bàn về những kẻ có dòng dõi cao sang quyền quý nhất đi.'

'Thôi nào, tôi không thích lúc nào cũng nói về gốc gác của mình đâu,' chiếc chảo phàn nàn; 'chúng ta hãy nghĩ trò giải trí khác đi; để tôi mở màn trước cho. Chúng ta sẽ kể những chuyện đã xảy ra với chính mình; nghe vừa gần gũi lại vừa thú vị nữa. Ở vùng biển Baltic, giáp bờ biển Đan Mạch...'

'Ôi một lời mở đầu mới duyên làm sao!' đám đĩa la liếm hưởng ứng; 'tôi chắc là ai nấy cũng sẽ thích câu chuyện đó cho mà xem.'

'Ừm thì, hồi còn trẻ tôi sống trong một gia đình nề nếp, nơi đồ đạc luôn được đánh bóng loáng, sàn nhà kỳ cọ sạch sẽ, và cứ hai tuần lại được thay rèm cửa mới một lần.'

'Cách cậu kể chuyện mới cuốn hút làm sao,' chiếc chổi quét nhà cất lời khen ngợi; 'nghe là biết cậu từng lui tới chốn khuê phòng của phụ nữ nhiều thế nào rồi, trong từng câu chữ của cậu toát lên một vẻ thanh cao khó tả.'

'Đúng thế thật đấy,' chiếc xách nước phụ họa; và hắn tung người nhảy cót lên vì vui sướng, văng tứ tung mấy giọt nước lênh láng cả sàn nhà.

Thế rồi chiếc chảo tiếp tục câu chuyện của mình, và cái kết cũng trọn vẹn chẳng kém gì phần mở đầu.

Đám đĩa khua lất lẩy vì thích thú, còn chiếc chổi quét nhà thì lúi húi moi được một nhánh rau mùi tây xanh mướt từ đống rác rưởi ra để đội lên đầu phong vương cho chiếc chảo, bởi hắn biết thừa làm thế sẽ khiến mấy kẻ khác tức điên lên; và hắn thầm nghĩ, 'Hôm nay mình đội vương miện cho nó thì ngày mai nó sẽ đội lại cho mình thôi.'

'Nào, giờ thì múa một điệu đi chứ lị,' chiếc kẹp lò cất tiếng giục giã; thế là chúng bắt đầu nhảy múa tưng bừng và giơ cao một chân lên không trung. Chiếc đệm ghế ở góc phòng cười nấc cả lên khi chứng kiến cảnh tượng ấy.

'Thế giờ tôi có được phong vương không?' chiếc kẹp lò hỏi; thế là chiếc chổi lại lúi húi tìm một vòng hoa khác cho chiếc kẹp lò.

'Suy cho cùng thì bọn chúng cũng chỉ là đám phàm phu tục tử,' đám diêm thầm nghĩ. Bấy giờ chiếc ấm pha trà được mời cất tiếng hát, nhưng ả ta viện cớ đang bị cảm lạnh và không tài nào hát nổi nếu nước không sôi sùng sục. Tất cả đều cho rằng ả đang làm trò kiêu kỳ khó ưa, và chẳng qua ả không thèm cất giọng trừ khi được ngồi trong phòng khách trên bàn trà với tầng lớp quý tộc sang trọng.

Ngồi bên khung cửa sổ là một cán bút lông ngỗng cũ kỹ mà cô hầu gái hay dùng để viết lách. Chiếc bút chẳng có gì nổi bật ngoài việc đã bị nhúng quá sâu vào lọ mực, thế mà nó lại lấy làm tự hào vì điều đó.

'Nếu chiếc ấm trà không chịu hát,' chiếc bút lông lên tiếng, 'thì cứ mặc kệ ả đi; đằng kia có một chú chim sơn ca trong lồng biết hót kìa; dĩ nhiên là con chim ấy chẳng được dạy dỗ gì nhiều, nhưng tối nay chúng ta cũng chẳng cần phải bới lông tìm vết chuyện đó làm gì.'

'Tôi thấy việc đem một con ngoại điểu giàu có ra thưởng thức ở đây là cực kỳ không đúng mực,' chiếc ấm đun nước, vốn là ca sĩ trong bếp và là anh em cùng cha khác mẹ với chiếc ấm trà, bực bội lên tiếng. 'Thế có còn là lòng yêu nước nữa không? Cứ để chiếc giỏ đi chợ phân xử xem thế nào là đúng.'

'Thú thật là tôi đang thấy bực mình,' chiếc giỏ lên tiếng; 'bực bội trong lòng, chẳng từ nào tả xiết. Chúng ta đang trải qua buổi tối thế này đây ư? Chẳng lẽ dọn dẹp nhà cửa gọn gàng lại là điều khôn ngoan hơn sao? Nếu ai nấy chịu về đúng vị trí của mình thì tôi đã đứng ra tổ chức một trò chơi rồi; khi ấy mọi chuyện sẽ hoàn toàn khác hẳn.'

'Nào chúng ta cùng diễn kịch đi,' tất cả đồng thanh hưởng ứng. Ngay lúc ấy cánh cửa mở toang và cô hầu gái bước vào. Thế là chẳng một ai dám cựa quậy; tất cả đứng bất động như tượng; vậy mà trong thâm tâm, chẳng có nổi một chiếc nồi nào ở đấy lại không tự đánh giá cực kỳ cao bản thân cũng như những gì chúng có thể làm nếu muốn.

'Ừ thì, giả dụ tụi mình mà chịu làm,' đứa nào đứa nấy thầm nghĩ, 'thì tụi mình đã có một buổi tối vui vẻ biết mấy.'

Cô hầu gái với tay lấy bó diêm rồi quẹt lửa châm lên; chao ôi, chúng xì xèo tóe lửa và bùng cháy rực rỡ làm sao!

'Nào thì thấy chưa,' chúng thầm nghĩ, 'giờ thì ai nấy sẽ phải sáng mắt ra mà thấy rằng chúng ta mới là số một. Chúng ta tỏa sáng rực rỡ nhường nào, chúng ta phát ra thứ ánh sáng chói lọi làm sao!' Ngay khoảnh khắc chúng còn đang lớn tiếng khoang khoang thì ngọn lửa cũng vừa vụt tắt.

"Đúng là một câu chuyện tuyệt vời," hoàng hậu thốt lên, "ta có cảm giác như mình đang thực sự đứng trong nhà bếp và tận mắt chứng kiến đám diêm vậy; vâng, chàng sẽ được kết hôn với con gái chúng ta."

"Chắc chắn rồi," nhà vua phán, "trẫm chuẩn y cho trẫm được cưới con gái trẫm." Nhà vua gọi cậu là "trẫm" bởi vì cậu sắp trở thành người một nhà với hoàng tộc. Ngày cưới đã được ấn định, và vào buổi tối hôm trước ngày trọng đại ấy, toàn thành phố được thắp sáng rực rỡ bởi đèn hoa. Bánh ngọt và kẹo mứt được tung tóe khắp nơi cho dân chúng. Lũ trẻ đường phố kiễng cả chân lên hò reo "muôn năm" và huýt sáo qua kẽ tay; tóm lại đây là một sự kiện vô cùng hoành tráng.

"Ta sẽ tặng cho họ thêm một màn trình diễn nữa," con trai nhà buôn tự nhủ. Thế là cậu đi mua pháo thăng thiên, pháo xịt và đủ loại pháo hoa có thể nghĩ ra trên đời, nhét tất cả vào chiếc rương rồi bay vút lên bầu trời cùng nó. Tiếng xé gió và tiếng nổ đì đùng vang lên chát chúa khi chúng khai hỏa! Người Thổ Nhĩ Kỳ khi chứng kiến cảnh tượng kỳ vĩ trên bầu trời ấy đã nhảy cót lên cao đến mức giày văng cả ra khỏi chân. Sau chuyện này thì ai nấy đều tin sái cổ rằng công chúa quả thực sắp kết hôn với một vị thiên thần người Thổ Nhĩ Kỳ.

Ngay sau khi con trai nhà buôn hạ cánh bằng chiếc rương bay xuống khu rừng sau màn bắn pháo hoa, cậu tự nhủ: "Giờ thì mình sẽ quay lại thị trấn để nghe ngóng xem họ nghĩ gì về bữa tiệc vừa rồi." Cậu tò mò muốn biết cũng là điều hiển nhiên. Và chao ôi, người ta bàn tán những điều thật kỳ lạ làm sao! Bất cứ ai cậu gặng hỏi đều kể một câu chuyện khác nhau, mặc dù ai nấy đều trầm trồ khen ngợi nó vô cùng tuyệt diệu.

"Chính mắt tôi đã thấy vị thiên thần người Thổ Nhĩ Kỳ," một người thốt lên; "ngài có đôi mắt tựa những vì sao lấp lánh, và một mái đầu bồng bềnh như sóng nước."

"Ngài bay đi trong một tấm áo choàng bằng lửa," người khác reo lên, "và những vị tiểu thiên sứ đáng yêu cứ thập thò ló mặt ra từ các nếp áo."

Cậu còn nghe thêm rất nhiều lời ca tụng hay ho khác về bản thân mình, và rằng ngày mai lễ cưới sẽ diễn ra. Nghe xong, cậu quay trở lại khu rừng để nghỉ ngơi trong chiếc rương. Nó đã biến mất! Một tia lửa còn sót lại từ màn pháo hoa lúc nãy đã bén vào rương và thiêu rụi nó thành tro bụi! Thế là con trai nhà buôn chẳng thể bay lượn được nữa, cũng chẳng thể đến gặp cô dâu của mình. Nàng đứng ngóng trông suốt cả ngày trên mái nhà, và rất có thể bây giờ nàng vẫn đang đứng đó chờ đợi; trong khi chàng cứ lang thang khắp thế gian để kể những câu chuyện cổ tích, nhưng chẳng có câu chuyện nào buồn cười bằng câu chuyện về bó diêm mà cậu từng kể năm xưa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của H. C. Andersen

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.