Lòng dũng cảm đích thực có phần tương tự như những gì ta đã miêu tả, song vẫn có những tâm tính khác biệt xét theo năm phương diện,[18] mà trong ngôn ngữ thông thường cũng được gọi là lòng dũng cảm.
Trước hết, ta hãy xét đến loại gần gũi nhất với lòng dũng cảm đích thực, đó là lòng dũng cảm công dân. Nó mang tên này vì những động cơ thúc đẩy các thành viên trong cộng đồng đương đầu với hiểm nguy chính là hình phạt và sự hổ thẹn mà luật pháp giáng xuống kẻ hèn nhát, cũng như những vinh dự dành cho người dũng cảm. Đây cũng được xem là lý do tại sao những dân tộc dũng cảm nhất lại là nơi kẻ hèn nhát bị khinh bỉ còn người dũng cảm được tôn vinh.
Đó là kiểu dũng cảm mà Homer đã thể hiện qua các nhân vật của mình, chẳng hạn như Diomed và Hector. Người sau từng nói:
“Polydamas sẽ là kẻ đầu tiên giáng
Sự hổ thẹn lên ta.”
Còn Diomed lại nói:
“Bởi Hector chắc chắn ngày sau sẽ nói,
Khi đứng giữa thành Troy, rằng con trai Tydeus đã ngã dưới tay ta—”
Ta có thể khẳng định loại này giống nhất với lòng dũng cảm đã được bàn đến trước đó, bởi nó xuất phát từ đức hạnh, từ cảm giác hổ thẹn, từ khát vọng vươn tới những điều cao cả (tức là danh dự) và sự né tránh nỗi nhục nhã đê hèn.
Cùng hàng ngũ ấy, người ta cũng dễ xếp những kẻ hành động dưới sự ép buộc của các chỉ huy; tuy nhiên, thực chất họ kém cỏi hơn, bởi động cơ thúc đẩy họ không phải là ý thức danh dự mà là sự sợ điều đau đớn đơn thuần: quả thực, các chỉ huy đôi khi ép buộc binh lính của mình, như Hector đã nói (lại xin trích dẫn Homer):
“Nhưng kẻ nào ta bắt gặp rụt rè né tránh trận mạc,
Sẽ chẳng cách nào thoát khỏi nanh vuốt loài chó.”
Những vị chỉ huy bố trí các đội quân kiên cường sát bên những kẻ còn hoài nghi,[19] hoặc đánh đập binh lính nếu họ chùng bước, hay xếp hàng quân sự với các chiến hào cùng những chướng ngại vật tương tự ở phía sau, thực chất cũng hành động chẳng khác gì Hector, bởi tất cả họ đều dùng sự ép buộc.
Thế nhưng, một người phải dũng cảm không phải do bị ép buộc, mà từ chính ý thức về danh dự.
Kế đến, kinh nghiệm và sự thành thạo trong các chi tiết khác nhau cũng được xem là một dạng dũng cảm: từ đó Socrates cũng từng cho rằng dũng cảm chính là tri thức.[20]
Phẩm chất này dĩ nhiên được thể hiện bởi những con người khác nhau trong các hoàn cảnh khác nhau, nhưng trong các vấn đề chiến trận mà ta đang bàn tới, nó được thể hiện bởi các binh sĩ (“lính chính quy”): bởi dường như trong chiến tranh có rất nhiều điều không có ý nghĩa thực sự[21] mà những người này đã quen thuộc; nhờ vậy, họ tạo ra vẻ ngoài dũng cảm vì người khác không nhận thức được bản chất thực sự của những điều ấy. Hơn nữa, nhờ kỹ năng của mình, họ có khả năng áp đảo đối phương mà ít bị tổn hại hơn bất kỳ ai khác, bởi họ biết cách sử dụng vũ khí và sở hữu những trang bị hữu ích nhất cho cả việc tấn công lẫn phòng thủ. Do đó, trường hợp của họ tương tự như những kẻ có vũ khí chiến đấu với kẻ tay không, hay những vận động viên được huấn luyện đấu với những kẻ nghiệp dư; bởi trong những cuộc tỉ thí như vậy, bên chiến thắng không phải là những kẻ dũng cảm nhất, mà là những kẻ khỏe mạnh nhất và có thể trạng tốt nhất.
Thực chất, quân chính quy sẽ trở thành kẻ hèn nhát bất cứ khi nào mối nguy hiểm vượt quá khả năng đối phó của họ; chẳng hạn như khi họ yếu thế hơn về số lượng và nguồn lực: khi ấy, họ là những kẻ đầu tiên tháo chạy, trong khi lực lượng dân binh đơn thuần vẫn kiên cường bám trụ và hy sinh trên chiến trường (điều mà như bạn biết đã thực sự xảy ra tại Hermæum).[22] Đối với những người dân binh này, việc tháo chạy là một nỗi nhục nhã và cái chết còn đáng giá hơn sự sống đánh đổi bằng cách ấy; trong khi “quân chính quy” ban đầu bước vào hiểm nguy với niềm tin vào sự vượt trội của chính mình, nhưng khi nhận ra sai lầm, họ liền quay đầu tháo chạy,[23] vì họ sợ cái chết hơn là sợ sự hổ thẹn — nhưng đó hoàn toàn không phải là tâm tính của người dũng cảm.
Thứ ba, bản năng thú tính đơn thuần đôi khi cũng được quy về khái niệm dũng cảm: người ta cho rằng những ai bị cuốn đi bởi bản năng thú tính là dũng cảm, giống như dã thú lao vào những kẻ đã làm chúng bị thương. Thực ra, người dũng cảm đích thực cũng có rất nhiều sự hăng hái, chẳng có gì sánh được với nó khi đối mặt với hiểm nguy dưới mọi hình thức; đó là lý do tại sao trong Homer có những câu thơ thường gặp: “truyền sức mạnh vào tâm can chàng”, “khuấy động sức mạnh và khí phách của chàng”, hoặc “và luồng sức mạnh sắc bén trong lồng ngực”, “máu chàng sôi sục”: tất cả những điều này dường như biểu thị sự kích thích và tính bộc phát của bản năng thú tính.
Giờ đây, những kẻ dũng cảm thực sự hành động từ ý thức danh dự, và bản năng thú tính này chỉ đóng vai trò hỗ trợ họ; trong khi dã thú hành động vì nỗi đau, tức là vì chúng đã bị thương hoặc đang hoảng sợ — bởi nếu được yên ổn trong lãnh địa của riêng mình, trong rừng sâu hay đầm lầy, chúng chẳng hề tấn công con người. Chắc chắn chúng không thể coi là dũng cảm chỉ vì lao vào hiểm nguy khi bị thúc đẩy bởi nỗi đau và bản năng đơn thuần mà chẳng hề nhận thức được mối nguy: bằng không thì lọn gia súc cũng sẽ dũng cảm khi chúng đói cỏ, vì dẫu có bị đánh đập chúng vẫn không chịu rời bỏ đồng cỏ của mình; hơn nữa, những kẻ trác táng cũng làm nhiều hành vi táo bạo nhờ dục vọng của chúng. Ta có thể kết luận rằng những ai bị thúc đẩy đối mặt với hiểm nguy bởi nỗi đau và bản năng đơn thuần thì không phải là người dũng cảm; tuy nhiên, tâm tính xuất phát từ bản năng thú tính này có vẻ mang tính tự nhiên nhất, và nó sẽ trở thành lòng dũng cảm đích thực nếu được bồi đắp thêm sự lựa chọn đạo đức cùng động cơ phù hợp.
Tương tự như vậy, con người cũng bị dằn vặt bởi cảm giác giận dữ và tìm thấy niềm vui trong sự trả thù; nhưng những ai chiến đấu vì những nguyên nhân này có thể là những chiến binh giỏi, chứ họ không thực sự dũng cảm (bởi họ không hành động từ ý thức danh dự, cũng chẳng theo sự chỉ dẫn của lý trí, mà chỉ thuần túy bộc phát theo cảm xúc nhất thời), dẫu vậy họ vẫn mang vài nét tương đồng với phẩm chất ấy.
Cũng vậy, những kẻ có tính tình lạc quan và tràn đầy hy vọng không vì thế mà trở thành người dũng cảm: bởi sự táo bạo của họ trước hiểm nguy xuất phát từ những chiến thắng thường xuyên trước vô số kẻ thù. Tuy nhiên, hai kiểu người này giống nhau ở chỗ cả hai đều rất tự tin; song người dũng cảm tự tin vì những lý do đã nêu ở trên, trong khi những kẻ kia tự tin nhờ một niềm tin vững chắc rằng mình vượt trội và sẽ chẳng phải chịu bất kỳ tổn hại nào (những kẻ say rượu cũng hành động tương tự, bởi trạng thái đó khiến họ tràn ngập hy vọng); nhưng khi hiện thực làm họ vỡ mộng, họ liền quay lưng bỏ chạy. Như đã nói, phẩm chất của một người dũng cảm là phải biết đương đầu với những điều gây sợ hãi cho con người hoặc tạo ra ấn tượng đó, bởi hành động như vậy là cao cả trong khi điều ngược lại là nhục nhã.
Vì lý do này, người ta cho rằng việc giữ được sự can trường và tĩnh lặng trước áp lực của những nỗi sợ bất ngờ chính là minh chứng lớn hơn cho lòng dũng cảm so với việc đối phó với nỗi sợ có thể lường trước; bởi khi ấy, lòng dũng cảm xuất phát từ một thói quen vững chắc nhiều hơn là từ sự chuẩn bị. Đối với những mối hiểm nguy đã được dự báo trước, một người có thể vạch ra đường hướng hành động nhờ tính toán và suy luận, nhưng trước những hiểm nguy bất ngờ, hành động của họ sẽ hoàn toàn dựa trên thói quen tâm trí đã được định hình.
Thứ năm và cũng là cuối cùng, những kẻ hành động trong sự vô minh cũng mang vẻ bề ngoài của lòng dũng cảm và không cách xa những kẻ lạc quan là mấy; song họ vẫn kém cỏi hơn ở chỗ họ chẳng hề có chính kiến về bản thân mình — điều mà những kẻ kia có, và nhờ đó những kẻ kia còn trụ lại chiến đấu trong một khoảng thời gian ngắn; thế nhưng những kẻ bị lừa dối sẽ tháo chạy ngay khoảnh khắc họ nhận ra sự thật trái ngược với tưởng tượng của mình, điều mà người Argives từng nếm trải khi họ tấn công người Lacedæmonians mà cứ ngầm tưởng đó là quân Sicyon.