JOHN ENDICOTT. “Hỡi Saul thành Tarsus, sao ngươi lại bức b hại ta?” Suốt đêm qua, những lời ấy cứ vang vọng mãi trong tâm trí ta! Một gương mặt buồn bã và dịu hiền; một ánh nhìn xuyên thấu ta với nỗi trách cứ nhu mì; một giọng nói đầy vẻ cam chịu mang theo cả một đời đau khổ trong từng âm vực; và chỉ có thế thôi! Vậy mà ta chẳng thể tài nào chợp mắt, hoặc giả khi thiếp đi, ta lại mơ thấy cơn ác mộng hãi hùng ấy! Ta đứng dưới tán cây du ngoài Quảng trường Công cộng, nơi những tín hữu Quaker từng bị treo cổ, và nghe vẳng lên một tiếng thét không phải của nàng giữa màn đêm tịch mịch: “Đây là Aceldama, thửa ruộng máu! Ta muốn sự xót thương, chứ chẳng cần lễ tế!”
Mở cửa sổ và nhìn ra ngoài.
Mặt trời đã lên rồi; và lòng ta quặn thắt, chìm đắm trong nỗi buồn tủi khi nghĩ đến biết bao bi kịch sẽ diễn ra trước lúc hoàng hôn buông xuống. Khi trái đất xoay vần, ta thấy nó tựa như chiếc bánh xe Ixion khổng lồ, mà trên những nan hoa đang cuồng quay ấy, tất cả chúng ta đều bị trói chặt và buộc phải cuốn theo dòng! Ồ, ánh nắng chiếu rọi mới rực rỡ làm sao trên mặt biển và trên những cánh buồm đang vươn lên trong bầu không khí buổi sớm mai, tựa như những thánh giá của một cuộc thập tự chinh đầy bình yên! Cảnh tượng ấy khiến ta khao khát được giương buồm đến những vùng đất lạ, chẳng cần biết là đâu! Ngay dưới chân ta, trong bóng râm u ám và chật hẹp, thị trấn nhỏ bé vẫn đang chìm trong giấc ngủ, để rồi chốc nữa thức dậy nhọc nhằn lao động, rồi lại chìm vào giấc ngủ. Trông nhà giang san mới ảm đạm làm sao, mới lạnh lùng và u ám làm sao trên con phố không có ánh mặt trời — nơi nàng đang ngủ, hoặc đang thức và ngóng chờ một điều mà ta không dám nghĩ tới — có chăng là cái chết! Một lời nói đã thốt ra thì có thể rút lại: nó cũng chỉ là gió thoảng mây bay. Nhưng một việc đã làm rồi thì không thể nào vãn hồi, và tâm trí chúng ta cũng chẳng thể với tới hết những hệ lụy tai hại có thể xảy ra sau đó. Đã đến giờ làm lễ nguyện buổi sáng. Ta phải xuống đó thôi. Cha ta, dẫu nghiêm khắc, nhưng ngài là người nhân đức và công minh; và khi cõi lòng ngài mềm mại đi trong sự thành kính — khi thốt ra từ đôi môi ấy câu: “Xin tha thứ cho chúng con như chúng con đã tha thứ” — thì khi ấy, ta sẽ lên tiếng cầu xin cho những con người khốn khổ này, và biết đâu có thể cứu mạng họ.
[Ra ngoài.]
KEMPTHORN. Nào, cạn ly đi chứ! Hãy nhớ đến Mục sư Melham, và ca tụng người đầu tiên phát minh ra thức uống flip!
Họ cùng uống.
COLE. Thưa Thuyền trưởng Kempthorn, tối qua ông đã đi đâu thế?
KEMPTHORN. Trên con tàu Swallow, do Simon Kempthorn ta làm thuyền trưởng, đang chuẩn bị nhổ neo đi Barbados và Quần đảo Windward.
COLE. Cả thị trấn náo loạn cả lên.
KEMPTHORN. Vì chuyện gì cơ chứ?
COLE. Bọn Quaker của ông đã bị bắt giữ.
KEMPTHORN. Quaker của tôi hồi nào?
COLE. Là những kẻ mà ông đã chở trên tàu từ Barbados đến đấy. Hôm qua chúng đã gây ra bao náo động trong Nhà nguyện, và giờ thì chúng đang phải ngồi tù vì chuyện đó. Tôi chẳng thấy ơn oán gì với ông khi ông đưa bọn chúng đến quán trọ Ba Thủy Thủ này đâu.
KEMPTHORN. Chúng có làm hại gì ông đâu nào. Tôi nói cho ông hay, bác Cole, cô gái Quaker ấy đáng giá từng xu như con mắt cá tráp biển vậy. Tôi bảo đảm với ông đó là một ngày may mắn khi lần đầu tiên cô đặt bàn chân nhỏ bé lên boong tàu Swallow, mang theo vận may, những ngọn gió lành và thời tiết đẹp trời.
COLE. Tôi là một công dân tuân thủ pháp luật; tôi có một chỗ ngồi trong Nhà nguyện mới, một phần quyền chăn thả gia súc trên Quảng trường Công cộng; và hơn thế nữa, tôi còn là hạ sĩ trong Đội Pháo binh Lớn. Tôi sẽ tống cổ đám lang thang ấy đi ngay lập tức.
KEMPTHORN. Sao ông lại không thể dung chứa những người Quaker ở quán trọ của mình khi mà ông vẫn cho phép bọn kéo đàn hát ở đây?
COLE. Đừng có hòng! Không bao giờ có chuyện đó! Nếu muốn nghe tiếng đàn, ông phải đi chỗ khác, đến quán Rồng Xanh và Đô đốc Vernon, cùng những chốn trác táng tương tự thế. Nhưng quán Ba Thủy Thủ là một nơi gia phong nề nếp, vô cùng trật tự, yên tĩnh và đáng kính trọng. Lãnh chúa Leigh từng nói ông ấy có thể tận hưởng sự yên bình ở đây chẳng kém gì ở dinh Tổng đốc. Và chẳng phải ta đang treo Mười Điều Răn Tốt Lành của Vua Charles, được lộng kính và đóng khung trang trọng, ngay trong phòng khách thượng hạng của mình đó sao?
KEMPTHORN. Nào, chúng ta hãy nâng ly chúc sức khỏe Đức Vua Charles nhân đức. Ông không định uống mừng Nhà vua hay sao? Vậy thì hãy uống để chúc cho sự lụn bại của lão Mục sư Palmer đi.
COLE. Mục sư Palmer là ai thế? Tôi không biết ông ta.
KEMPTHORN. Lão ta làm hẳn một hầm chứa rượu ngay bên dưới bục giảng kinh, thế nên lão vừa giảng đạo vừa ngửi mùi men rượu, y hệt như cái cách ông đang làm vậy.
Tiếng trống vang lên bên trong.
COLE. Quan Xử lý đến kìa.
MERRY (bên trong). Dừng lại, nhường đường cho quan Xử lý!
KEMPTHORN. Trông y mới phô trương và bề thế làm sao! Cái áo giáp da trâu phồng lên như cánh buồm chính, và dải băng mũ thì cứ phần phật bay trong gió. Y đang cầm cái gì trên tay thế kia?
COLE. Một bản cáo thị.
QUAN XỬ LÝ bước vào, tay cầm bản cáo thị; theo sau là MERRY cầm kích giáo. Dẫn đầu là một tay đánh trống, và đi đoạn hậu là đao phủ cùng một ôm sách vở, chung quanh là đông đảo người dân, trong đó có UPSALL và JOHN ENDICOTT. Một đống lửa được đốt lên từ số sách ấy.
MERRY. Im lặng, đánh trống nào! Hỡi các công dân, hãy lắng nghe những bộ luật mới do Nghị viện ban hành.
QUAN XỬ LÝ (đọc). “Xét vì một giáo phái dị giáo bị nguyền rủa gần đây đã xuất hiện, thường được gọi là những tín hữu Quaker, những kẻ tự cho rằng mình được Chúa trực tiếp ủy thác, hơn nữa lại được Thánh Linh vô ngộ trợ giúp để viết ra và thốt ra những lời lộng ngôn, khinh miệt Chính quyền cùng trật tự của Chúa trong Giáo hội và Thịnh vượng chung, đồng thời phỉ báng các bậc quyền quý, mắng mỏi và nguyền rủa các Quan tòa cùng Giám mục, tìm cách lừa dối người dân rời bỏ đức tin của họ và qua đó thu hút tín đồ theo con đường tai hại của chúng;— Nghị viện này, sau khi cân nhắc các tiền lệ, và nhằm ngăn chặn những tác hại tương tự do chúng gây ra trên đất nước chúng ta, nay ra lệnh rằng bất kỳ chủ tàu hay thuyền trưởng nào của bất kỳ con tàu, thuyền buồm, thuyền nhỏ hoặc thuyền đánh cá nào đưa bất kỳ tín hữu Quaker hoặc kẻ dị giáo lộng ngôn nào vào bất kỳ vũng tàu, bến cảng, lạch hoặc vịnh nào thuộc Khu vực tài phán này, sẽ phải nộp phạt cho Thủ quỹ của Thịnh vượng chung số tiền một trăm bảng Anh, và nếu không nộp sẽ bị tống giam cho đến khi khoản tiền nói trên được thanh toán đầy đủ.”
COLE. Nào, Simon Kempthorn, ông nói sao về điều này?
KEMPTHORN. Làm ơn cho tôi mượn một trăm bảng Anh đi, bác Cole!
QUAN XỬ LÝ (đọc). “Nếu bất kỳ ai trong Khu vực tài phán này từ nay về sau dung túng, hoặc che giấu những tín hữu Quaker hay những kẻ dị giáo lộng ngôn khác, khi biết rõ chúng là như vậy, thì bất kỳ kẻ nào như thế sẽ bị phạt tiền forty shillings [bốn mươi shilling] nộp cho xứ sở cho mỗi giờ dung túng hoặc che giấu, và sẽ bị tống giam như đã nói ở trên, cho đến khi khoản tiền phạt được chi trả hoàn toàn!”
Tiếng xì xào bàn tán trong đám đông.
KEMPTHORN. Nào bác Cole, tôi nghĩ đến lượt ông rồi đấy!
COLE. Khi biết rõ chúng là như vậy!
KEMPTHORN. Tính ra forty shillings mỗi giờ, tiền phạt của ông sẽ ngốn khoảng bốn mươi bảng Anh đấy!
COLE. Khi biết rõ chúng là như vậy! Luật pháp là thế mà.
QUAN XỬ LÝ (đọc). “Và luật này cũng ra lệnh và ban hành thêm rằng, nếu bất kỳ tín hữu Quaker nào cả gan bước chân vào Khu vực tài phán này từ nay về sau, thì mọi nam tín hữu Quaker phạm tội lần đầu sẽ bị cắt một bên tai; và phải bị giam giữ để lao động trong Nhà tế thần cho đến khi được trục xuất với chi phí tự túc. Và nếu tái phạm lần nữa thì sẽ bị cắt nốt bên tai còn lại, rồi bị đóng dấu sắt nung vào lòng bàn tay phải. Và mọi nữ tín hữu Quaker sẽ bị đánh roi thật dã man tại ba thị trấn; và bất kỳ tín hữu Quaker nào, dù nam hay nữ, nếu tái phạm lần thứ ba trong vụ việc này, sẽ bị khoan thủng lưỡi bằng sắt nung đỏ, và sẽ bị tuyên án Trục xuất với hình phạt đóng đinh câu rút bằng cái chết.”
Tiếng xì xào lớn vang lên. Tiếng của CHRISTISON vọng lên từ đám đông.
Ôi lòng kiên nhẫn của Chúa! Cho đến bao giờ, bao giờ nữa Ngài mới báo thù cho máu của những kẻ Ngài đã tuyển chọn?
MERRY. Im lặng, trật tự nào! Đừng có gây rối trật tự công cộng!
QUAN XỬ LÝ (đọc). “Mọi cư dân trong Khu vực tài phán này kẻ nào bênh vực những quan điểm gớm ghiếc của bọn Quaker, bằng cách phủ nhận sự tôn trọng đáng có đối với những người ngang hàng và bề trên, tự ly khai khỏi các buổi tụ họp của Giáo hội, và qua đó tán thành những hành vi lạm dụng và hủy hoại của giáo phái bị nguyền rủa này, đi ngược lại mọi quan điểm chính thống đã được thừa nhận của những người tin kính Chúa, sẽ lập tức bị giam vào ngục tối trong thời gian một tháng; và nếu sau đó vẫn từ chối rút lại và cải sửa những quan điểm như đã nói trên, kẻ đó sẽ bị tuyên án Trục xuất với hình phạt đóng đinh câu rút bằng cái chết. Do Nghị viện ban hành. Edward Rawson, Thư ký.” Nào đao phủ, hãy làm tròn nhiệm vụ đi. Thiêu rụi đống sách đó đi.
Tiếng xì xào lớn vang lên trong đám đông. Đống sách bắt đầu được châm lửa đốt.
UPSALL. Tôi lên án những bộ luật tàn nhẫn này! Chúng chính là điềm báo trước cho những hình phạt giáng xuống đầu chúng ta; và vì tình yêu cùng lòng trắc ẩn mà tôi dành cho thị trấn và người dân nơi đây, tôi khẩn khoản van xin các ngài, hỡi các vị Quan tòa, hãy cẩn trọng kẻo lại bị coi là những kẻ chống lại Thiên Chúa!
JOHN ENDICOTT (nắm lấy tay UPSALL). Bác Upsall, cháu cảm ơn bác vì đã thốt ra những lời mà một người trẻ tuổi hơn, cháu hoặc ai khác, lẽ ra phải nói trước bác rồi. Những bộ luật thế này thật tàn ác và áp bức; chúng là vết nhơ trên thị trấn xinh đẹp này, và là nỗi ô nhục cho bất kỳ cộng đồng Kitô giáo nào.
MERRY (nói nhỏ, đứng rình rập phía sau họ). Lại là phản loạn đây! Ta chưa từng nghĩ sẽ có điều gì tốt đẹp phát sinh từ tên công tử bột trẻ tuổi này, với mái tóc dài và đôi giày cao cổ to tướng, chỉ hợp với người Nga hoặc dân da đỏ dã man, đúng như lời cha hắn đã nói!
TIẾNG NÓI. Khốn cho thị trấn đẫm máu này! Người ta gọi nó là Thị trấn Lạc lối thật chẳng sai chút nào! Máu của Abel đang kêu cứu từ lòng đất, và trong ngày phán quyết cuối cùng, Chúa sẽ cất lời: “Hỡi Cain, Cain! Em ngươi đâu rồi?”
MERRY. Im lặng trong đám đông kia!
UPSALL (nói nhỏ). Chính là Christison!
TIẾNG NÓI. Hỡi những kẻ ngu muội, những kẻ tưởng rằng có thể thiêu rụi và tiêu diệt chân lý của Chúa, ta bảo cho các ngươi hay, ngọn lửa nào cũng là một chiếc lưỡi bằng lửa rực cháy để loan truyền chân lý ấy ra khắp thế gian, vang dội hơn cả ngàn vạn lời người!
KEMPTHORN (bật dậy khỏi ghế). Nói hay lắm, anh bạn hào hiệp! Đó mới là một trang nam nhi dũng cảm! Một kẻ có gan dạ! Một kẻ chẳng sợ nói lên chính kiến của mình, dù cho cả thị trấn có chống lại hắn đi nữa. Mưa ơi, mưa hãy rơi xuống, xương cốt của Thánh Botolph ơi, hãy dập tắt ngọn lửa này đi!
Tiếng trống vang lên. Tất cả đều rời đi, trừ MERRY, KEMPTHORN và COLE.
MERRY. Và giờ khi vụ việc đã xong xuôi, bác Cole, hãy mang cho ta một vại bia, loại bia nặng đô nhất của quán ông ấy.
KEMPTHORN (ngồi xuống). Và mang cho ta một vại flip nữa; nhớ pha thêm hai gill [chừng č phần tư lít] rượu mạnh vào đấy nhé.
[COLE bước ra.]
MERRY. Không; không thêm nữa. Ta bảo không một giọt nào nữa hết. Ông đã uống đủ lắm rồi đấy.
KEMPTHORN. Còn ông là cái thá gì hả ngài?
MERRY. Tôi là một quan Thuế vụ kiêm Trật tự viên, và tên tôi là Merry.
KEMPTHORN. Một cái tên thật vui vẻ! Tôi thích nó; và tôi sẽ cạn ly chúc cho cái sự vui vẻ của ông cho đến khi trời đất tối sầm lại thì thôi.
MERRY. Và rồi ông sẽ bị tống vào cái gông gỗ, với chữ D đỏ chót đeoòng cổ vì tội say xỉn cho mà xem. Ông là một kẻ chuyên chè chén tự do — phải, và lại còn là một kẻ tự do tư tưởng nữa chứ!
KEMPTHORN. Còn ông chính là Andrew Merry, hay là Merry Andrew [gã hề vui tính].
MERRY. Tên tôi là Walter Merry, chứ không phải Andrew.
KEMPTHORN. Andrew hay Walter gì thì ông cũng là một tay vui tính; tôi dám thề là thế.
MERRY. Đừng có mà thề thốt ở đây, tôi nói cho ông hay. Hôm nọ gã Shorthose vừa mới bị kẹp lưỡi vào một thanh gỗ chẻ vì tội thề thốt báng bổ đấy.
COLE mang bia ra.
KEMPTHORN. Nào, vại flip của tôi đâu? Chắc chắn như cái tên Kempthorn của tôi đây—
MERRY. Tên ông là Kempthorn à?
KEMPTHORN. Đó là cái tên mọi người vẫn gọi tôi.
MERRY. Gì chứ, Thuyền trưởng Simon Kempthorn của tàu Swallow ư?
KEMPTHORN. Chứ còn ai vào đây nữa.
MERRY (chạm tay vào vai ông ta). Thế thì người ta đang cần tìm ông đấy. Tôi bắt giữ ông nhân danh Nhà vua.
KEMPTHORN. Thế lệnh bắt giữ của ông đâu?
MERRY (mở một tờ giấy ra và đọc). Đây. Hãy lắng nghe cho kỹ đây. “Bằng văn bản này, theo nhân danh Nhà vua, yêu cầu quý vị bắt giữ thân thể của Simon Kempthorn, thủy thủ, và áp giải ông ta đến trước mặt tôi một cách an toàn, để trả lời cho mọi lời buộc tội nhắm vào ông ta, liên quan đến những kẻ thuộc giáo phái Quaker.” Ký tên, John Endicott.
KEMPTHORN. Có triện của Tổng đốc không đấy?
MERRY. Có chứ, đây này.
KEMPTHORN. Đầu lâu xương chéo. Trông có khác gì cờ hải tặc đâu cơ chứ!
MERRY. Hãy cẩn thận cái miệng khi dám phỉ báng các Quan tòa; ông có thể bị đánh roi vì tội đó đấy.
KEMPTHORN. Thế thì ngậm miệng lại là hơn.
MERRY và KEMPTHORN rời đi.
COLE. Có chuyện chẳng lành sắp xảy ra rồi đây! Chắc chắn là có điềm gở đang nung nấu. Tôi thấy mình giống hệt như thầy giáo Josselyn khi phát hiện ra cái tổ ong bắp cày, cứ ngỡ đó là một loại quả kỳ lạ nào đó, cho đến khi lũ ong túa ra thì anh ta đành vứt quẳng nó đi.
[Ra ngoài.]
ENDICOTT. Con trai ta, ngươi vừa nói gì cơ?
MERRY. Thưa đại nhân, là đích tôn của ngài.
ENDICOTT. Dám cả gan nói những lời chống lại luật pháp ư?
MERRY. Dạ vâng, thưa đại nhân kính mến.
ENDICOTT. Lại còn ở ngay nơi chốn đông người qua lại nữa ư?
MERRY. Chính tay tôi đã bắt gặp cậu ta, chính tai tôi đã nghe thấy cậu ta.
ENDICOTT. Không thể nào có chuyện đó được!
MERRY. Cậu ta đã đứng đó giữa đám đông cùng với Nicholas Upsall, khi các bộ luật được đọc lên vào ngày hôm nay nhằm chống lại bọn Quaker, và tôi đã nghe thấy cậu ta công kích và phỉ báng chúng là bất công, là tàn nhẫn, độc ác và đáng gớm ghiếc.
ENDICOTT. Đứa con bất hiếu! Ôi lạy Chúa! Ngài đang đặt lên vai con một gánh nặng quá sức chịu đựng rồi! Chắc chắn là quyền năng của Satan phải vô cùng lớn lao trên cõi đời này, nếu ngay cả những kẻ được chọn lựa mà cũng bị lừa phỉnh và sa ngã khỏi ơn phước như thế!
MERRY. Thưa đại nhân kính mến! Tôi nào có ý gây rắc rối chi—
ENDICOTT. Thôi được rồi. Ngươi đã làm trònnhiệm vụ của mình, dẫu cho cách thức có phần thô bạo, và từng lời ngươi thốt ra từ lúc bước chân đến đây đã đâm thẳng vào tim ta rồi!
MERRY. Tôi xin ngài hãy rộng lượng tha thứ!
ENDICOTT. Đứa con mà ta đã dưỡng dục và nuôi nấng trong sự kính sợ Chúa! Đứa trẻ là tất cả hy vọng và tình cảm của ta! Là điểm tựa vững chắc mà ta vẫn nương vào cho tuổi già xế bóng! Đây chính là sự trừng phạt của Chúa vì đã dám nương bóng vào bất kỳ cánh tay nào ngoài Ngài!
MERRY. Thưa đại nhân!—
ENDICOTT. Và điều này bắt nguồn từ việc dung túng cho những ảo tưởng và mưu chước dối lừa của Satan. Phải dứt khoát tiêu diệt chúng ngay lập tức và vĩnh viễn, nếu không thì cả xứ sở này sẽ ngập chìm trong tà giáo mất thôi! Này, ngươi có con cái gì chưa?
MERRY. Dạ thưa, chưa có ạ.
ENDICOTT. Hãy tạ ơn Chúa vì điều đó. Ngài đã giải thoát ngươi khỏi một gánh nặng lớn lao. Thôi được rồi; những nỗi niềm riêng tư của ta đã trì hoãn công vụ công ích quá lâu rồi đấy.
MERRY bước ra. ENDICOTT ngồi xuống bàn và sắp xếp lại giấy tờ.
Thời khắc đã đến; và giờ đây ta vô cùng nóng lòng được ngồi lên ghế phán xử bọn tà giáo này.
Tiếng gõ cửa.
Vào đi. Ai đấy? (Không ngẩng đầu lên).
JOHN ENDICOTT. Là con đây.
ENDICOTT (nén giận). Ngồi xuống đi!
JOHN ENDICOTT (ngồi xuống). Con đến đây để xin khoan hồng cho những con người khốn khổ đang bị giam giữ trong ngục tối và đang chờ đợi phiên tòa xét xử.
ENDICOTT. Ta cũng đang định nói chuyện về chúng với con đây. Ta đã từng giận con, nhưng chuyện đó đã qua rồi. Bởi vì cứ mỗi lần nghe tiếng bước chân con đến hay đi, nhìn thấy gương mặt của người mẹ quá cố phảng phất qua những đường nét trên khuôn mặt con, và nhận ra âm hưởng giọng nói của nàng trong giọng của con, thì mọi cơn giận dữ đều tan biến hết, và ta lại hoài niệm về những ngày tháng đã qua đi, chẳng bao giờ quay trở lại nữa, khi con còn là một đứa trẻ ngồi trên đầu gối ta, bập bẹ trò chuyện về những món đồ chơi và những trò chơi mà con từng nô đùa giữa những gốc cây lê trong vườn quả!
JOHN ENDICOTT. Ồ, xin ký ức về người mẹ cao quý của con hãy thỉnh cầu ngài mở lượng khoan hồng và nhân ái! Bởi vì lòng thương xót luôn làm cho một vị Quan tòa trở nên cao cả hơn là cơn thịnh nộ báo thù mà người ta vẫn gọi là công lý!
ENDICOTT. Tội lỗi của tà giáo là một thứ tội lỗi chí tử. Nó tựa như những bông tuyết rơi, mà người lữ hành thường đùa nghịch với từng tinh thể của nó, nào có hay biết gì về hiểm nguy, cho đến khi thấy bầu trời bừng sáng rực rỡ đến mức trở nên tối tăm; rồi trong cơn mù quáng bước đi loạng choạng, lạc lối và hoang mang, anh ta ngồi xuống nghỉ ngơi; một cơn buồn ngủ dễ chịu tràn ngập lấy anh ta, và thứ mà anh ta tưởng là giấc ngủ, ôi chao, lại chính là cái chết.
JOHN ENDICOTT. Thế nhưng trên đời này mấy ai chưa từng hoài nghi? Và vừa hoài nghi vừa tin tưởng, há chẳng từng thốt lên rằng: “Lạy Chúa, xin giúp lòng tin kém mở của con”?
ENDICOTT. Chúng ta cũng đùa giỡn với những hoài nghi của chính mình theo cách đó, với những hình hài rực rỡ ngỡ như những vì sao đang rơi xuống; cho đến tận phút cuối cùng, khi đã hoang mang và khiếp vía, bị làm cho mù lòa bởi chính thứ tưởng chừng mang lại ánh sáng cho ta, chúng ta chìm vào giấc ngủ, để rồi nhận ra đó chính là cái chết,
Đứng dậy.
Cái chết của linh hồn kéo dài suốt cõi vĩnh hằng! Thật đáng buồn làm sao khi ta chứng kiến con lớn khôn thành một trang nam nhi tráng kiện, được giáo dưỡng trong khuôn phép và giới luật của luật pháp, để rồi giờ đây lại đi biện hộ cho bọn tà giáo!
JOHN ENDICOTT (đứng dậy). Trước nhan Chúa, có lẽ tất cả mọi người đều là kẻ dị giáo. Nào ai dám tự nhận rằng chỉ có mình mình tìm ra chân lý? Chúng ta không thể lúc nào cũng cảm nhận, suy nghĩ và hành động như những người đi trước. Nếu cha làm thế, thì giờ này cha đã chẳng đứng ở nơi đây.
ENDICOTT. Con đã quên mất số phận của bọn tà giáo cùng kết cục dành cho những kẻ tiếp tay và che chở cho chúng rồi sao? Con đã quên mất rằng ngay tại khu chợ này vào ngày hôm nay con đã đạp đổ luật pháp dưới chân mình rồi sao? Con lấy quyền gì, một kẻ trẻ tuổi chưa từng trải sự đời và chưa đi đó đi đây, mà dám ngồi đây phán xét những hành động của những người lớn tuổi và khôn ngoan hơn mình, qua đó kích động bạo loạn nơi đường phố, và biến ta thành một kẻ bị thiên hạ đàm tiếu chê cười?
JOHN ENDICOTT. Những lời nói của một thanh niên chưa trải sự đời như con sẽ chẳng có chút quyền lực nào nếu những hành động của những bậc bề trên không phơi bày rành rành trước mắt. Chính những bộ luật này mới là thứ kích động bạo loạn, chứ không phải sự phán xét của con đối với chúng.
ENDICOTT. Hãy cẩn thận đấy, kẻo ta lại bị bắt phải đóng vai trò như Brutus, trở thành vị quan tòa xử chính đứa con trai ruột thịt của mình. Cút đi! Khi nào con cảm thấy chán ngán với việc ăn vỏ trấu, hãy quay trở lại với bổn phận và sự phục tùng, còn chưa được thế thì đừng bước chân về đây.
JOHN ENDICOTT. Con xin vâng lệnh và tuân theo!
[Ra ngoài.]
ENDICOTT. Ôi hạnh phúc thay, hạnh phúc thay cho những ai không có con cái! Nó đi rồi! Ta nghe tiếng cửa lớn khép lại sau lưng nó. Nó gieo vào lòng ta một âm vang ảm đạm, tựa như cánh cửa ấy đã vĩnh viễn khép lại giữa đôi bờ sinh tử, và ta sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy gương mặt nó nữa! Ồ, điều này sẽ kéo ta xuống mồ sâu — đến chốn nghỉ ngơi vĩnh hằng nơi con người nằm xuống và chẳng bao giờ chỗi dậy nữa! Cho đến khi trời đất không còn nữa, nó sẽ chẳng thức giấc, cũng chẳng bị đánh thức khỏi giấc ngủ ngàn thu; bởi vì Ngài thay đổi dung nhan của nó và xua đuổi nó đi mất rồi!
[Ra ngoài.]