Ta chưa từng nghĩ, Pantagruel cất lời, lại có thể gặp được một người nào ngoan cố trong nhận thức hay bướng bỉnh trong quan điểm đến mức độ ấy, như ta đã thấy và đang thấy ở anh. Dẫu vậy, để giúp anh trút bỏ và làm sáng tỏ mọi mối hoài nghi, chúng ta hãy thử qua mọi cách, không từ một thủ đoạn nào và không bỏ sót một con đường nào. Hãy chú ý lắng nghe những điều ta sắp bảo anh đây. Loài thiên nga, vốn là loài chim được hiến dâng cho thần Apollo, chẳng bao giờ cất tiếng hót trừ khi giờ phút cáo chung đang đến gần, nhất là bên dòng sông Meander, một con sông chảy qua một vài vùng đất thuộc Phrygia. Ta nói điều này là bởi Aelianus và Alexander Myndius từng viết rằng họ đã thấy nhiều con thiên nga chết ở những nơi khác, nhưng chưa từng nghe thấy bất kỳ con nào trong số chúng cất tiếng hót trước khi lâm. Mặc dầu vậy, người ta vẫn truyền tai nhau rằng cái chết cận kề của một con thiên nga được báo trước bởi khúc ca của nó trước đó, và chẳng có con thiên nga nào chết mà lại chưa từng cất tiếng hát.
Cũng theo cách ấy, các nhà thơ – những người nằm dưới sự bảo trợ của thần Apollo – khi bước đến gần chặng cuối cuộc đời, thường trở thành những nhà tiên tri, và nhờ ơn linh ứng của vị thần ấy mà cất tiếng ca ngọt ngào để tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Ta cũng thường xuyên được nghe kể rằng những cụ già cỗi lụm khụm trên bờ sông của thần Charon thường mở đầu giờ phút từ trần của họ bằng cách cởi mở giãi bày, với những ai khao khát muốn biết, về chân lý chắc chắn và định đoạt của các biến cố cùng cơ duyên mai sau. Ta còn nhớ Aristophanes, trong một vở kịch nọ của ông, đã gọi những bậc cao niên là các Nữ tiên tri Sibyl, rằng *Eith o geron Zibullia*. Bởi cũng như khi đứng trên một cầu tàu dọc bờ biển, từ đằng xa chúng ta nhìn thấy những người thủy thủ, những kẻ hải hành và bao lữ khách khác đang lướt trên những con sóng uốn lượn màu xanh thẳm của nàng Thetis trên chiến thuyền của họ, khi ấy chúng ta chỉ lặng lẽ ngắm nhìn họ, hiếm khi tiến xa hơn ngoài việc cầu chúc cho họ cập bến an toàn và thịnh vượng; nhưng khi họ đã tiến sát đến hải cảng, đến chạm mủi thuyền vào bến đỗ, thì bằng cả lời nói lẫn cử chỉ, chúng ta chào mừng họ và chân thành chúc mừng họ đã đặt chân an toàn đến chốn phồn hoa mà chính chúng ta cũng đang trú ngụ. Cũng chính vì thế, các thiên thần, các anh hùng và những vị thần hộ mệnh tốt lành, theo học thuyết của phái Platon, khi nhìn thấy những kẻ phàm trần đang tiến đến gần hải cảng của nấm mồ – tựa như bến đỗ chắc chắn và bình yên nhất trong mọi bến đỗ, chan chứa sự nghỉ ngơi, thảnh thơi, tĩnh lặng, thoát khỏi mọi muộn phiền và lo âu của thế giới cuồng nhiệt và bão giông này – thì chính lúc ấy, họ hân hoan chào đón, vỗ về, an ủi, và bằng những lời lẽ trìu mến, bắt đầu ban phước cho những người sắp khuất bằng thứ ánh sáng khải huyền, đồng thời truyền thụ cho họ những mật chú thâm sâu nhất của nghệ thuật chiêm tinh. Ta sẽ không định kể ra đây để làm rối trí anh bằng việc dẫn lại những ví dụ cổ xưa về Isaac, về Jacob, về Patroclus đối với Hector, về Hector đối với Achilles, về Polymnestor đối với Agamemnon, về Hecuba, về người xứ Rhodes nổi tiếng qua lời Posidonius, về Calanus người Ấn Độ đối với Alexander Đại đế, về Orodes đối với Mezentius, cùng vô số người khác. Hiện tại, chỉ cần ta nhắc lại cho anh nghe về vị hiệp sĩ uyên bác, dũng cảm William of Bellay, cố Lãnh chúa xứ Langey, người đã qua đời trên ngọn đồi Tarara vào ngày 10 tháng Giêng, trong năm đại hạn của cuộc đời ông, tính theo niên lịch của chúng ta là năm 1543, chiếu theo lịch La Mã. Ba hoặc bốn giờ cuối đời, ông đã dành trọn để cất lên một bài thuyết giảng vô cùng sâu sắc, trong lúc trí tuệ vẫn minh mẫn và tâm hồn hoàn toàn thanh thản, ông đã tiên tri trước nhiều điều quan trọng mà phần lớn trong số đó đã ứng nghiệm, còn phần còn lại chúng ta vẫn đang chờ đợi. Mặc dù vậy, những lời tiên tri của ông lúc bấy giờ đối với chúng ta có vẻ hơi kỳ lạ, vô lý và khó tin, bởi khi ấy chẳng xuất hiện bất kỳ dấu hiệu linh ứng nào đủ sức lay chuyển đức tin của chúng ta vào những điều ông tiên đoán. Ngay gần thị trấn Villomere đây, chúng ta có một người vừa già vừa là nhà thơ, đó chính là Raminagrobis, kẻ đã lấy người vợ thứ hai là phu nhân Broadsow, và sinh ra nàng Basoche xinh đẹp. Ta được tin ông ấy đang hấp hối, và đã cận kề những giây phút cuối đời, đến tận khoảnh khắc, điểm mốc và đoạn kết của sự sống. Hãy lập tức lên đường đến đó thật nhanh, và chuẩn bị sẵn sàng lắng nghe cho chăm chú những gì ông ấy sẽ ngâm nga. Biết đâu anh sẽ đạt được điều mình khao khát từ ông, và thần Apollo sẽ rủ lòng thương thông qua ông để giải tỏa những nỗi bận tâm của anh. Ta xin tuân lệnh, Panurge đáp. Chúng ta hãy đến đó đi, hỡi Epistemon, đi ngay lập tức và thật khẩn trương, kẻo không thì cái chết của ông ta sẽ cản trở chuyến đi của chúng ta mất. Ngươi có muốn đi cùng bọn ta không, Thầy John? Có chứ, Thầy John đáp, ta rất sẵn lòng làm phu quân một phen để giúp đỡ ngươi, hỡi cậu bẹn quý hóa của ta; vì ta yêu quý ngươi bằng tất cả ruột gan lòng dạ của mình.
Ngay lập tức, chẳng mảy may chần chừ thêm nữa, cả ba người cùng cất bước lên đường, và chẳng bao lâu sau – bởi họ rảo bước rất nhanh – khi đến được căn nhà mang đậm thi vị ấy, họ tìm thấy cụ ông vui tính, dẫu đang quằn quại trong cơn hấp hối lìa đời, vẫn giữ vẻ mặt tươi vui, rạng rỡ, thần thái ngời ngời và phong thái đầy hân hoan. Sau khi Panurge lịch thiệp cúi chào, ngài liền tặng cụ một chiếc nh chiếc nhẫn bằng vàng, chính tay đeo vào ngón áp út bàn tay trái của cụ, trên mặt nhẫn có cẩn một viên ngọc bích phương Đông vô cùng đẹp và lớn. Sau đó, noi theo gương Socrates, ông tiến hành dâng hiến cho cụ một con gà trống trắng muốt; con gà vừa được đặt lên đỉnh màn giường liền vươn cao đầu và chiếc mào đỏ chói, dũng mãnh vỗ cánh phành phạch và cất tiếng gáy vang dội như loa đồng. Xong xuôi, Panurge hết sức nhã nhặn cầu xin cụ rủ lòng thương ban ơn, cho biết ý kiến và phán quyết của cụ về vận mệnh tương lai trong cuộc hôn nhân mà ông đang dự tính. Để đáp lại, sau khi cụ ông nhân hậu lập tức sai người mang giấy, bút và mực đến, và được phục vụ chu đáo cả ba thứ ngay tại chỗ, cụ đã viết nên những vần thơ sau đây:
Lấy hay đừng lấy nàng,
Bỏ hay giữ ngang tàng:
Đỏ đen tùy vận số.
Viết tên nàng, bôi nhôm nhoét.
Mọi sự xong xuôi hết,
Vừa bắt đầu đã kết:
Nước kiệu khó lòng sang,
Đừng tiến bước khi đang chạy quáng quàng,
Cũng đừng lẻ loi dẫu một mình đơn chiếc,
Lấy hay đừng lấy nàng.
Trước khi ăn, hãy nhịn đói từ đây;
Bởi điều chưa đến vốn chưa từng qua ngày.
Nói rồi nuốt, lật lọng, giữ hơi tàn:
Rồi mong nàng sống chết rõ mười phân.
Lấy hay đừng lấy nàng.
Những dòng thơ ấy được chính tay cụ trao cho họ, kèm theo lời dặn: Hỡi các chàng trai, hãy bình an mà đi! Xin Đức Chúa Trời chốn cao xanh thẳm là đấng gìn giữ và bảo hộ cho các ngươi; và đừng bao giờ bén mảng đến làm phiền hay quấy rầy ta vì chuyện này hay bất kỳ vấn đề nào khác nữa. Chính vào ngày hôm nay, cũng là ngày cuối cùng của tháng Năm và của cả cuộc đời ta, với biết bao nhọc nhằn, gian khổ và trắc trở, ta đã tống cổ ra khỏi nhà mình một lũ khốn nạn bẩn thỉu, dơ dáy và gớm ghiếc như dịch hạch, những con quái vật đen đúa, tối tăm, xám xịt, trắng bệch, lốm đốm, cùng đám sâu bọ hôi hạm đủ màu sắc khác, với sự đeo bám quấy rầy phiền phức không cho phép ta được chết yên ổn trong không gian của chính mình; bởi vì bằng những cú chích lừa lọc xảo trá, những móng vuốt cướp giật tựa loài quỷ Harpy, những nọc đốt sắc nhọn như ong vò vẽ, và những trò tiếp cận khó ưa tương tự, được nung nấu trong cái xưởng của một thứ thói tham lam không đáy nào đó mà ta chẳng rõ, chúng toan kéo ta rời khỏi những dòng suy tưởng ngọt ngào nơi ta đang bắt đầu tìm thấy chốn nghỉ ngơi và tĩnh tâm trong sự chiêm nghiệm, ngắm nhìn, thậm chí gần như trong cả sự chạm tay và nếm trải niềm hạnh phúc cùng phúc lạc mà Thiên Chúa nhân từ đã chuẩn bị sẵn cho các thánh nhân trung kiên cùng những kẻ được Ngài tuyển chọn ở thế giới bên kia và cõi trường sinh bất tử. Hãy quay đầu tránh xa và lánh xa chúng, bước ra khỏi con đường của chúng và đừng bao giờ bắt chước chúng; còn bây giờ, xin đừng làm phiền ta nữa, hãy để ta yên trong sự tĩnh lặng, ta khẩn khoản nài xin các ngươi.