Ở những xứ sở rất nóng, nơi ánh nắng mặt trời có sức mạnh vô biên, con người thường sạm da như gỗ gụ; và tại những miền nhiệt đới gay gắt nhất, họ là những người da đen, với làn da mun tuyền. Một nhà bác học từng du hành đến một trong những vùng khí hậu ấm áp ấy từ những miền bắc giá lạnh, và ông tưởng rằng mình có thể đi lại tự do như khi ở quê nhà; nhưng chẳng mấy chốc ông đã phải thay đổi ý kiến. Ông nhận ra rằng, giống như tất cả những người khôn ngoan, ông buộc phải ở trong nhà suốt cả ngày, với mọi khung cửa sổ và cửa chính đều đóng kín, khiến trông như thể mọi người trong nhà đều đang ngủ hoặc đi vắng. Những ngôi nhà trên con phố hẹp nơi ông ở cao đến mức ánh nắng chiếu rọi vào từ sáng đến tối, trở nên hoàn toàn không thể chịu nổi. Vị nhà bác học đến từ miền lạnh giá ấy vừa thông minh lại vừa trẻ tuổi; nhưng ông có cảm giác như mình đang ngồi trong một cái lò nướng, rồi ông trở nên kiệt sức và suy nhược, gầy đi đến mức cái bóng của ông teo tóp lại, nhỏ hơn rất nhiều so với khi ở nhà. Mặt trời thậm chí còn cướp đi cả phần còn lại của nó, và ông chẳng hề nhìn thấy nó cho đến tận buổi chiều, sau khi mặt trời lặn. Quả thực là một niềm vui, ngay khi ngọn đèn được mang vào phòng, được nhìn cái bóng vươn dài lên bức tường, vươn tận đến tận trần nhà, nó cao biết nhường nào; và quả thật nó cần phải vươn mình một phen thật đã để khôi phục lại sức lực. Nhà bác học thỉnh thoảng cũng bước ra ban công để vươn vai thư giãn; và ngay khi những vì sao hiện ra trên bầu trời trong xanh, đẹp đẽ, ông cảm thấy lòng mình hồi sinh. Vào giờ này, mọi người bắt đầu xuất hiện ở tất cả các ban công trên phố; bởi vì ở những xứ sở ấm áp, mọi cửa sổ đều có ban công, nơi họ có thể hít thở bầu không khí trong lành của buổi tối, điều vô cùng cần thiết, ngay cả với những ai đã quen với cái nắng khiến da dẻ sạm đi như gỗ gụ; nhờ thế con phố mang một vẻ vô cùng náo nhiệt. Nơi đây có những người thợ giày, thợ may, và đủ mọi hạng người đang ngồi. Ở dưới lòng đường, người ta mang bàn ghế ra, thắp hàng trăm ngọn nến, trò chuyện, ca hát và vô cùng vui vẻ. Có những người đi bộ, xe cộ qua lại, và những con la lững thững bước đi, với những chiếc chuông kêu lanh canh trên dây cương theo từng bước chân. Rồi những người chết được đưa ra nơi yên nghỉ với âm thanh của thứ âm nhạc trang nghiêm và tiếng chuông nhà thờ ngân vang. Đó quả thực là một bức tranh đời sống muôn màu trên phố. Duy chỉ có một ngôi nhà, nằm ngay đối diện với nơi vị nhà bác học ngoại quốc sinh sống, lại tạo nên sự tương phản với tất cả những cảnh tượng ấy, bởi nó hoàn toàn tĩnh lặng; thế mà vẫn có người ở đó, vì những chậu hoa đặt ngoài ban công đang nở rộ rực rỡ dưới ánh nắng gay gắt; và điều này không thể có được nếu chúng không được chăm bón cẩn thận. Do đó, chắc chắn phải có ai đó trong nhà làm việc này. Những cánh cửa dẫn ra ban công được hé mở vào buổi chiều; và mặc dù ở căn phòng phía trước mọi thứ chìm trong bóng tối, người ta vẫn nghe văng v vọng âm thanh âm nhạc phát ra từ sâu bên trong ngôi nhà. Vị nhà bác học ngoại quốc cho rằng thứ âm nhạc này vô cùng tao nhã; nhưng có lẽ là ông tự tưởng tượng thế thôi; bởi vì mọi thứ ở những xứ sở ấm áp này đều làm ông hài lòng, ngoại trừ cái nóng của mặt trời. Người chủ nhà trọ người nước ngoài cho biết ông ta không biết ai đã thuê ngôi nhà đối diện—chẳng thấy bóng dáng ai ở đó cả; còn về phần âm nhạc, ông ta thấy nó thật vô cùng tẻ nhạt, đối với ông ta thì đúng là lạ lùng đến mức ấy.
"Cứ như thể có ai đó đang tập một bản nhạc mà họ không tài nào chơi cho ra hồn; mãi cũng chỉ là một bản nhạc ấy. Chắc hắn ta nghĩ rằng cuối cùng mình cũng sẽ chơi được thôi; nhưng tôi thì chẳng tin thế đâu, dù hắn có chơi lâu đến thế nào đi nữa."
Có lần vị khách ngoại quốc tỉnh giấc giữa đêm. Ông ngủ mà để ngỏ cánh cửa dẫn ra ban công; gió thổi tung tấm rèm cửa phía trước, và xuất hiện một thứ ánh sáng rực rỡ kỳ lạ bao trùm khắp ban công ngôi nhà đối diện. Những bông hoa trông như những ngọn lửa mang màu sắc lộng lẫy nhất, và giữa đám hoa ấy đứng một thiếu nữ mảnh mai, kiều diễm. Ông có cảm giác như ánh sáng tỏa ra từ nàng, làm chói lòa cả mắt ông; nhưng khi ấy ông vừa mới mở mắt, khi vừa tỉnh giấc sau giấc ngủ. Chỉ với một cú nhảy, ông đã ra khỏi giường và rón rén bò ra sau tấm rèm. Thế nhưng nàng đã biến mất—ánh sáng vụt tắt; những bông hoa trông không còn giống những ngọn lửa nữa, dẫu vẫn đẹp đẽ như xưa. Cánh cửa khép hờ, và từ căn phòng bên trong vẳng lại thứ âm nhạc ngọt ngào và đáng yêu đến mức khơi gợi những ý nghĩ say đắm nhất, tác động lên các giác quan bằng một sức mạnh kỳ diệu. Ai có thể sống ở đó nhỉ? Lối vào thực sự ở đâu? Bởi vì, cả ở mặt tiền đường phố lẫn con hẻm bên hông, toàn bộ tầng trệt đều là một dãy các cửa tiệm liền kề; và người ta không thể cứ mãi đi xuyên qua đó được.
Một buổi tối, vị khách ngoại quốc ngồi ngoài ban công. Một ngọn đèn đang cháy sáng trong phòng ông, ngay phía sau lưng ông. Do đó, việc cái bóng của ông hắt lên bức tường của ngôi nhà đối diện là điều hoàn toàn tự nhiên; thế nên, khi ông ngồi giữa những đóa hoa trên ban công, mỗi khi ông cử động thì cái bóng của ông cũng chuyển động theo.
"Ta nghĩ cái bóng của mình là sinh vật sống duy nhất có thể nhìn thấy ở phía bên kia," vị nhà bác học nói; "kìa, hãy xem nó ngồi thật thoải mái giữa đám hoa kìa. Cửa chỉ khép hờ; cái bóng hẳn phải đủ khôn ngoan để bước vào trong và ngó nghiêng xung quanh, rồi quay lại kể cho ta nghe những gì nó đã thấy. Ngươi có thể giúp ích bằng cách này đấy," ông nói đùa; "hãy làm ơn bước vào trong đó đi, được chứ?" rồi ông gật đầu với cái bóng, và cái bóng liền gật đầu đáp lại. "Bò đi, nhưng đừng có đi luôn không về đấy nhé."
Rồi vị khách ngoại quốc đứng dậy, và cái bóng ở ban công đối diện cũng đứng dậy theo; vị khách ngoại quốc quay người, cái bóng liền quay theo; và nếu có ai quan sát, họ hẳn đã có thể thấy nó đi thẳng vào cánh cửa đang hé mở ở ban công đối diện, đúng lúc nhà bác học bước trở lại vào phòng mình và buông rèm xuống. Sáng hôm sau, ông ra ngoài uống cà phê và đọc báo.
"Thế này là thế nào nhỉ?" ông thốt lên khi đứng dưới ánh nắng. "Mình mất toi cái bóng rồi. Vậy là tối qua nó đã thực sự đi mất, và vẫn chưa trở lại. Thật là bực mình."
Và điều đó quả thực làm ông phiền lòng, không phải vì cái bóng đã biến mất, mà vì ông biết có câu chuyện về một người đàn ông không có bóng. Tất cả mọi người ở quê nhà, ở đất nước của ông, đều biết câu chuyện này; và khi ông trở về, kể lại những cuộc phiêu lưu của chính mình, họ sẽ nói rằng đó chỉ là một sự bắt chước; và ông chẳng có chút ham muốn nào để người ta bàn tán về mình những chuyện như thế. Thế nên ông quyết định không hề đả động gì đến chuyện đó nữa, đó là một quyết định vô cùng khôn ngoan.
Buổi chiều, ông lại ra ban công, cẩn thận đặt ngọn đèn phía sau lưng; bởi ông biết rằng cái bóng luôn cần chủ nhân của nó làm tấm bình phong; nhưng ông chẳng tài nào dụ nó ra được. Ông cố làm mình trông nhỏ lại, rồi lại làm mình cao lên; nhưng chẳng có cái bóng nào cả, và chẳng có cái bóng nào xuất hiện. Ông hắng giọng, "Hèm, a-hèm;" nhưng tất cả đều vô ích. Thật là bực bội; nhưng ở những xứ sở ấm áp, mọi thứ sinh sôi rất nhanh; và sau một tuần trôi qua, ông vô cùng vui mừng khi thấy một cái bóng mới đang mọc ra từ đôi chân mình khi ông bước đi dưới ánh nắng; điều đó chứng tỏ phần rễ vẫn còn lại. Sau ba tuần, ông đã có một cái bóng ra trò, và trong suốt cuộc hành trình trở về các vùng đất phương bắc, nó tiếp tục lớn lên, để rồi cuối cùng trở nên to lớn đến mức nếu có bỏ đi một nửa thì ông vẫn còn dư dả. Khi vị nhà bác học này về đến quê nhà, ông viết sách về chân lý, điều thiện và cái đẹp vốn hiện hữu trên thế gian này; cứ thế ngày tháng trôi qua—rất nhiều, rất nhiều năm.
Một buổi tối, khi ông đang ngồi trong phòng làm việc, một tiếng gõ rất khẽ vang lên ở cửa. "Mời vào," ông nói; nhưng không có ai bước vào cả. Ông mở cửa, và hiện ra trước mặt ông là một người đàn ông gầy gò đến mức khiến ông cảm thấy vô cùng lo lắng cho diện mạo của kẻ đó. Tuy nhiên, y ăn mặc rất chỉnh tề và trông giống như một quý ông. "Tôi được vạn hạnh chuyện trò cùng ai đây?" ông hỏi.
"Ồ, tôi cứ ngài sẽ nhận ra tôi chứ," vị khách lịch thiệp nói; "tôi đã gặt hái được nhiều đến mức giờ đây tôi đã có một thân hình bằng xương bằng thịt và quần áo để mặc. Ngài chưa bao giờ ngờ lại có ngày thấy tôi trong hoàn cảnh thế này đâu nhỉ. Ngài không nhận ra cái bóng cũ của mình sao? Ồ, ngài chưa bao giờ ngờ rằng tôi sẽ có ngày quay trở lại tìm ngài. Mọi chuyện đều suôn sẻ với tôi kể từ lần cuối cùng tôi ở bên ngài; tôi đã trở nên giàu có về mọi mặt, và nếu có ý định mua lại sự tự do cho bản thân, tôi hoàn toàn có thể làm được một cách dễ dàng." Và khi nói, y khẽ khua lách cách trong những ngón tay một loạt các món trang sức đắt tiền được đính trên chiếc dây chuyền vàng dày mà y đeo quanh cổ. Những chiếc nhẫn kim cương lấp lánh trên các ngón tay y, và tất cả đều là đồ thật.
"Tôi không sao hoàn hồn lại được," nhà bác học nói. "Tất cả những điều này có nghĩa là gì?"
"Một chuyện hơi khác thường một chút," cái bóng đáp; "nhưng bản thân ngài vốn là một người phi thường, và ngài thừa biết rằng tôi đã bước theo dấu chân ngài từ khi ngài còn nhỏ. Ngay khi ngài nhận ra rằng tôi đã đi đủ nhiều để có thể tự tin tung tăng một mình, tôi liền rẽ theo con đường riêng của mình, và giờ đây tôi đang ở trong hoàn cảnh vô cùng rực rỡ. Nhưng tôi cảm thấy một nỗi niềm khao khát muốn được gặp lại ngài một lần nữa trước khi ngài qua đời, và tôi cũng muốn thăm lại chốn này, bởi con người ta luôn có sự gắn bó với mảnh đất nơi mình sinh ra. Tôi biết rằng ngài hiện giờ đã có một cái bóng khác; liệu tôi có còn nợ ngài điều gì không? Nếu có, xin ngài cứ thoải mái nói xem đó là gì."
"Không! Có thực sự là ngươi không?" nhà bác học thốt lên. "Chà, chuyện này thật quá đỗi kinh ngạc; ta chưa bao giờ nghĩ rằng cái bóng cũ của một người lại có thể biến thành một con người bằng xương bằng thịt."
"Cứ nói cho tôi biết tôi nợ ngài những gì đi," cái bóng nói, "bởi vì tôi không thích mang nợ bất cứ ai."
"Sao ngươi lại có thể ăn nói kiểu đó chứ?" nhà bác học nói. "Làm sao lại có chuyện nợ nần gì giữa chúng ta được cơ chứ? Ngươi hoàn toàn tự do như bất kỳ ai khác. Ta vô cùng vui mừng khi nghe tin ngươi gặp vận may. Ngồi xuống đi, người bạn cũ, và kể cho ta nghe đôi chút về chuyện đó đã xảy ra thế nào, và ngươi đã thấy gì ở ngôi nhà đối diện trong suốt thời gian chúng ta ở những xứ sở nóng bức ấy."
"Vâng, tôi sẽ kể cho ngài nghe tất cả," cái bóng nói, rồi ngồi xuống; "nhưng ngài phải hứa với tôi rằng sẽ không bao giờ kể ở thành phố này, dù ngài có gặp tôi ở đâu đi chăng nữa, rằng tôi từng là cái bóng của ngài. Tôi đang tính chuyện kết hôn, bởi vì tôi có thừa khả năng để nuôi một gia đình."
"Cứ yên tâm đi," nhà bác học nói; "ta sẽ không nói cho bất kỳ ai biết ngươi thực sự là ai. Đây là tay của ta—ta xin hứa, và giữa người với người thì chỉ cần một lời hứa là đủ."
"Giữa một con người và một cái bóng," cái bóng nói; bởi vì y không thể kìm được mà phải thốt lên như vậy.
Quả thực là vô cùng kỳ lạ khi bề ngoài y đã trở thành một con người đến thế. Y diện một bộ complet bằng thứ vải đen tuyệt hảo nhất, giày da bóng lộn, và một chiếc mũ dạ xếp có thể gấp lại được sao cho chẳng thấy gì ngoài phần chóp và vành mũ, chưa kể đến những món trang sức, sợi dây chuyền vàng và những chiếc nhẫn kim cương đã nhắc đến ở trên. Nói tóm lại, cái bóng ăn mặc rất bảnh bao, và chính điều này đã làm cho y ra dáng một con người. "Bây giờ tôi sẽ kể cho ngài nghe những gì ngài muốn biết," cái bóng nói, đặt chiếc giày da bóng lưỡng của mình thật vững chắc lên tay chiếc bóng mới của nhà bác học, kẻ đang nằm rạp dưới chân y như một chú chó xù. Việc này được làm ra, có thể là do kiêu hãnh, hoặc cũng có lẽ để chiếc bóng mới bám chặt lấy y, nhưng chiếc bóng đang phủ phục vẫn nằm im thin thít và ngoan ngoãn lắng nghe, bởi nó muốn biết làm thế nào mà một cái bóng có thể bị chủ nhân ruồng bỏ mà tự biến thành người. "Ngài có biết không," cái bóng nói, "rằng ở ngôi nhà đối diện với ngài từng sống sinh vật tuyệt diệu nhất trên đời? Đó chính là Thơ Ca. Tôi đã ở đó ba tuần, và quãng thời gian ấy giống như ba nghìn năm vậy, vì tôi đã đọc tất cả những gì từng được viết ra bằng thơ hay văn xuôi; và tôi có thể nói một cách thành thật rằng tôi đã thấy và học hỏi được vạn vật."
"Thơ Ca!" nhà bác học thốt lên. "Đúng vậy, nàng sống như một kẻ ẩn dật chốn đô thành hoa lệ. Thơ Ca! Chà, ta từng gặp nàng một lần trong khoảnh khắc rất ngắn ngủi, khi giấc ngủ nặng trĩu đôi mi. Nàng hiện ra trước ta từ ngoài ban công rực rỡ như ánh cực quang chói lọi, vây quanh bởi những đóa hoa tựa ngọn lửa cháy rực. Nói cho ta nghe, ngươi đã ở ngoài ban công tối hôm đó; ngươi đã bước qua cánh cửa, và ngươi đã thấy những gì?"
"Tôi thấy mình ở trong một phòng chờ," cái bóng nói. "Ngài vẫn ngồi ở phía bên kia, nhìn vào trong phòng. Không có ánh sáng, hoặc ít nhất là nơi đó có vẻ mờ ảo, bởi vì cánh cửa của cả một dãy phòng đều mở toang, và chúng rực rỡ ánh đèn. Ánh sáng chói lóa ấy lẽ ra đã giết chết tôi nếu tôi đến quá gần bản thân nàng, nhưng tôi đã cẩn trọng và biết kiên nhẫn, đó là điều mà ai cũng nên làm."
"Và ngươi đã thấy gì?" nhà bác học hỏi.
"Tôi đã thấy tất cả, rồi ngài sẽ rõ. Nhưng—thực ra không phải do tôi kiêu ngạo, với tư cách là một người tự do và sở hữu sự hiểu biết như tôi đang có, bên cạnh địa vị của mình, chưa kể đến sự giàu có—tôi ước gì ngài gọi tôi bằng 'cậu' thay vì xưng 'mi'."
"Ta thành thật xin lỗi," nhà bác học nói; "đó là một thói quen cũ, rất khó bỏ. Ngươi nói rất phải; ta sẽ cố gắng ghi nhớ. Nhưng giờ thì hãy kể cho ta nghe mọi thứ ngươi đã thấy đi."
"Mọi thứ," cái bóng nói; "bởi vì tôi đã thấy và biết tất cả."
"Bên trong các căn phòng trông thế nào?" học giả hỏi. "Nơi đó giống một lùm cây mát rượi, hay một ngôi đền linh thiêng? Những căn phòng có tựa bầu trời đầy sao nhìn từ đỉnh núi cao không?"
"Nó đúng như tất cả những gì ngài miêu tả," cái bóng nói; "nhưng tôi không bước hẳn vào trong—tôi ở lại trong chốn mờ ảo của tiền sảnh—nhưng tôi ở một vị trí rất đắc địa,—tôi có thể thấy và nghe mọi thứ đang diễn ra ở chốn thâm nghiêm của thơ ca."
"Nhưng ngươi đã thấy gì? Các vị thần thời cổ đại có đi qua các phòng không? Những anh hùng xưa có tái hiện các trận chiến của họ không? Có những đứa trẻ đáng yêu đang chơi đùa, kể cho nhau nghe những giấc mơ không?"
"Tôi đã nói với ngài là tôi đã ở đó, và vì thế ngài có thể chắc chắn rằng tôi đã thấy mọi thứ có thể thấy. Nếu ngài đến đó, ngài sẽ không thể giữ nổi hình hài con người, trong khi tôi thì đã thành người; và ngay khoảnh khắc ấy, tôi nhận thức được bản ngã bên trong mình, sự gắn kết bẩm sinh của tôi với bản chất của thi ca. Đúng là tôi không suy nghĩ nhiều về điều đó khi còn ở bên ngài, nhưng ngài hẳn nhớ rằng tôi luôn lớn hơn rất nhiều vào lúc bình minh và hoàng hôn, thậm chí dưới ánh trăng còn rõ nét hơn cả chính ngài, nhưng khi ấy tôi chưa hiểu được sự tồn tại nội tại của mình. Ở căn phòng chờ ấy, nó đã được khai mở. Tôi đã thành người; tôi bước ra với sự trưởng thành trọn vẹn. Nhưng ngài đã rời khỏi những xứ sở ấm áp. Là một con người, tôi cảm thấy xấu hổ khi đi lại mà không có giày dép hay quần áo, hay vẻ bề ngoài chỉn chu mà người ta dùng để nhận diện con người. Thế nên tôi đã rẽ theo con đường của riêng mình; tôi có thể kể cho ngài nghe, vì ngài sẽ chẳng đem nó viết thành sách đâu. Tôi ẩn mình dưới chiếc áo choàng của một mụ bán bánh ngọt, nhưng mụ ta đời nào biết được kẻ mình đang che giấu là ai. Mãi đến tối tôi mới dám mạo hiểm bước ra. Tôi chạy khắp các con phố dưới ánh trăng. Tôi rướn người hết cỡ dọc theo những bức tường, khiến lưng tôi ngứa ngáy một cách vô cùng dễ chịu. Tôi chạy ngang chạy dọc, nhòm qua những khung cửa sổ cao nhất vào trong các phòng, và qua cả những mái nhà. Tôi nhìn vào, và thấy những điều mà không ai khác có thể thấy, hay đúng ra là không nên thấy; thực ra, đây là một thế giới tồi tệ, và tôi sẽ chẳng thèm làm người nếu con người không có chút trọng lượng nào. Tôi thấy những chuyện khốn khổ nhất diễn ra giữa những cặp vợ chồng, cha mẹ và con cái—những đứa trẻ ngọt ngào, vô song. Tôi đã thấy những điều mà không con người nào có khả năng biết được, mặc dù ai nấy đều rất muốn biết—hành vi xấu xa của những kẻ láng giềng. Giá như tôi viết báo, thì nó đã được đón đọc hào hứng biết bao! Thay vào đó, tôi viết thư trực tiếp cho chính những kẻ đó, và một sự hoảng loạn lớn đã bùng lên ở khắp thị trấn tôi ghé qua. Họ vô cùng sợ hãi tôi, thế mà lại tha thiết yêu mến tôi biết bao. Giáo sư phong tôi làm giáo sư. Thợ may ban cho tôi quần áo mới; tôi được lo chu đáo về khoản đó. Quan quản lý nhà túc đúc tiền xu cho tôi. Phụ nữ tuyên bố rằng tôi vô cùng bảnh bao, và thế là tôi trở thành con người mà ngài đang thấy đây. Giờ thì tôi phải cáo từ. Đây là danh thiếp của tôi. Tôi sống ở phía đón nắng của con phố, và luôn ở nhà vào những ngày mưa." Và cái bóng bỏ đi.
"Tất cả những điều này thật quá đỗi kỳ lạ," nhà bác học nói.
Nhiều năm trôi qua, ngày tháng cứ thế qua đi, và cái bóng lại quay trở lại. "Dạo này ngài thế nào rồi?" hắn hỏi.
"Ồ!" nhà bác học nói; "Ta đang viết về chân lý, cái đẹp và điều thiện; nhưng chẳng có ai màng nghe lấy một lời. Ta hoàn toàn tuyệt vọng, vì ta rất nặng lòng với nó."
"Tôi thì chẳng bao giờ thế cả," cái bóng nói; "tôi đang ngày càng béo tốt mập mạp, đó là điều mà ai cũng nên thế. Ngài chẳng hiểu gì về thế giới; ngài sẽ tự chuốc lấy bệnh tật vì chuyện đó mất thôi; ngài nên đi du lịch đi; mùa hè này tôi sắp sửa làm một chuyến đi xa, ngài có muốn đi cùng tôi không? Tôi đang cần một người bạn đồng hành; ngài có muốn du lịch cùng tôi với tư cách là cái bóng của tôi không? Tôi sẽ rất vui lòng, và tôi sẽ lo mọi chi phí."
"Ngươi định đi du lịch xa lắm à?" nhà bác học hỏi.
"Cái đó còn tùy quan điểm," cái bóng đáp. "Dù sao đi nữa, một chuyến đi sẽ có lợi cho ngài, và nếu ngài chịu làm cái bóng của tôi, thì toàn bộ chuyến đi của ngài sẽ được đài thọ."
"Ta thấy chuyện này thật quá sức nực cười," nhà bác học nói.
"Nhưng đó là quy luật của thế giới," cái bóng đáp, "và muôn đời vẫn thế." Rồi hắn bỏ đi.
Mọi chuyện đều trở nên tồi tệ đối với nhà bác học. Buồn phiền và rắc rối bủa vây ông, và những gì ông nói về điều thiện, cái đẹp và chân lý đối với hầu hết mọi người cũng vô giá trị như một hạt nhục đậu khấu đối với con bò vậy. Cuối cùng ôngâm ngã bệnh. "Trông ngài thực sự chẳng khác nào cái bóng," mọi người bảo ông, và khi ấy một cái rợn lạnh chạy dọc sống lưng ông, bởi tự bản thân ông có những suy nghĩ riêng về vấn đề đó.
"Ngài thực sự nên đến một khu suối khoáng nào đó," cái bóng nói trong lần ghé thăm tiếp theo. "Chẳng còn cơ hội nào khác cho ngài đâu. Tôi sẽ đưa ngài đi cùng, vì tình nghĩa quen biết cũ. Tôi sẽ chi trả mọi chi phí cho chuyến đi của ngài, và bù lại ngài sẽ viết một bài mô tả về nó để chúng ta giải trí trên đường đi. Tôi rất muốn đến một khu nghỉ dưỡng suối khoáng; râu của tôi mọc không được như ý, đó là do suy nhược, và tôi phải có râu. Nào, hãy tỏ ra khôn ngoan và chấp nhận đề nghị của tôi đi; chúng ta sẽ du lịch như những người bạn thân thiết."
Và cuối cùng họ cũng lên đường cùng nhau. Cái bóng giờ đã là chủ nhân, còn người chủ lại trở thành cái bóng. Họ cùng nhau đi xe, cưỡi ngựa và đi bộ sát cánh bên nhau, lúc thì người này đi trước người kia đi sau, tùy theo vị trí của mặt trời. Cái bóng luôn biết khi nào nên chiếm vị trí danh dự, nhưng nhà bác học chẳng mảy may để ý đến điều đó, bởi ông có một trái tim nhân hậu, lại vô cùng ôn hòa và thân thiện.
Một ngày nọ, người chủ nói với cái bóng, "Chúng ta đã lớn lên cùng nhau từ thưở bé, và giờ đây khi đã trở thành những người bạn đồng hành trên đường thiên lý, chẳng lẽ chúng ta không nên cạn chén vì tình hữu nghị và xưng hô mày tao với nhau sao?"
"Những gì ngài nói rất thẳng thắn và có thiện ý," cái bóng nói, kẻ giờ đây thực sự là chủ nhân. "Tôi cũng sẽ đáp lại một cách thẳng thắn và thiện ý không kém. Ngài là một học giả, và biết bản chất con người kỳ diệu thế nào. Có những người không thể chịu nổi mùi giấy gói hàng màu nâu; nó làm họ đổ bệnh. Số khác lại cảm thấy rợn tóc gáy đến tận xương tủy nếu móng tay cào lên cửa kính. Bản thân tôi cũng có cảm giác tương tự khi nghe ai đó xưng mày tao với mình. Tôi cảm thấy bị bóp nghẹt bởi điều đó, giống như cảm giác tôi từng trải qua ở địa vị cũ khi còn ở bên ngài. Ngài sẽ hiểu rằng đây là vấn đề cảm xúc, chứ không phải sự kiêu ngạo. Tôi không thể cho phép ngài xưng hô mày tao với tôi; tôi sẽ rất sẵn lòng xưng hô như vậy với ngài, và do đó mong muốn của ngài sẽ được toại nguyện một nửa." Thế rồi cái bóng bắt đầu xưng hô mày tao với cựu chủ nhân của mình.
"Chuyện này có phần đi quá giới hạn rồi đấy," người kia tự nhủ, "rằng mình thì phải gọi hắn bằng ngài, còn hắn lại xưng mày tao với mình." Dù vậy, ông buộc phải nhẫn nhịn.
Cuối cùng họ cũng đến được khu suối khoáng, nơi có rất nhiều du khách, và trong số đó có một vị công chúa xinh đẹp, người mà căn bệnh thực sự nằm ở chỗ có đôi mắt quá đỗi tinh tường khiến ai nấy đều cảm thấy bất an. Nàng nhận ra ngay lập tức rằng vị khách mới đến khác biệt hoàn toàn với tất cả những người khác. "Họ nói hắn đến đây để mọc râu," nàng nghĩ; "nhưng tôi biết nguyên nhân thực sự, hắn không thể hắt ra một cái bóng." Thế là nàng đâm ra vô cùng tò mò về chuyện này, và một ngày nọ, khi đang đi dạo, nàng bắt chuyện với vị khách lạ. Vốn là một công chúa, nàng không phải câu nệ lễ tiết quá mức, liền không chút do dự nói thẳng với hắn: "Căn bệnh của ngài nằm ở chỗ không thể hắt ra một chiếc bóng."
"Điện hạ hẳn đang trên đà bình phục khỏi căn bệnh của mình rồi," hắn đáp. "Tôi biết nỗi phiền muộn của ngài bắt nguồn từ việc quá tinh mắt, và trong trường hợp này thì nó hoàn toàn không chính xác. Tôi tình cờ sở hữu một cái bóng vô cùng bất thường. Ngài có thấy người vẫn luôn tể cận bên tôi đó không? Người ta thường ban cho gia nhân của họ những tấm vải may áo hầu còn đẹp hơn cả trang phục của chính họ, và vì thế tôi đã chưng diện cho cái bóng của mình chẳng khác nào một người; thậm chí, ngài có thể nhận thấy tôi còn ban cho nó một cái bóng của riêng nó nữa cơ; tốn kém phết đấy, nhưng tôi thích những thứ xung quanh mình phải có gì đó thật độc đáo."
"Thế này là thế nào nhỉ?" công chúa thầm nghĩ; "mình đã thực sự khỏi bệnh rồi sao? Đây chắc chắn là khu suối khoáng tuyệt vời nhất trên đời. Nước thời nay quả thực có sức mạnh kỳ diệu. Nhưng mình chưa thể rời khỏi nơi này vội, đúng lúc mọi chuyện bắt đầu trở nên thú vị. Vị hoàng tử ngoại quốc này—chắc chắn hắn phải là hoàng tử—làm tôi vô cùng ưng ý. Tôi chỉ cầu mong râu của hắn đừng mọc, bằng không hắn sẽ cuốn gói đi mất."
Vào buổi tối, công chúa và cái bóng cùng nhau khiêu vũ trong phòng khánh tiết rộng lớn. Nàng uyển chuyển, nhưng hắn còn uyển chuyển hơn; nàng chưa từng thấy vũ công nào như thế trước đây. Nàng kể cho hắn nghe nàng đến từ vương quốc nào, và nhận ra hắn biết rõ nơi đó từng đặt chân tới, nhưng không phải thời điểm nàng còn ở nhà. Hắn từng nhòm qua những khung cửa sổ trong cung điện của phụ vương nàng, cả cửa sổ tầng trên lẫn tầng dưới; hắn đã thấy vô số thứ, và vì thế có thể đáp lời công chúa, đưa ra những ẩn ý khiến nàng vô cùng kinh ngạc. Nàng nghĩ hắn chắc chắn là người thông minh nhất thế gian, và dành sự kính trọng lớn lao nhất cho hiểu biết của hắn. Khi khiêu vũ với hắn một lần nữa, nàng đã đem lòng yêu hắn, điều mà cái bóng nhanh chóng nhận ra, bởi ánh mắt nàng đã nhìn thấu tâm can hắn. Họ khiêu vũ thêm lần nữa, và nàng suýt thì thổ lộ, nhưng nàng vẫn giữ được chút lý trí; nàng nghĩ về quê hương, vương quốc của mình, và thần dân muôn nơi mà một mai nàng sẽ cai trị. "Hắn là một kẻ thông minh," nàng tự nhủ, "đó là một điều tốt, và hắn khiêu vũ tuyệt vời, đó cũng là điều hay. Nhưng liệu hắn có kiến thức uyên thâm không? Đó mới là vấn đề quan trọng, và mình phải thử thách hắn." Thế rồi nàng đố hắn một câu hỏi hóc búa nhất, đến bản thân nàng cũng không thể trả lời nổi, và cái bóng liền nhăn mặt một cách vô cùng khó hiểu.
"Ngài không trả lời được chứ gì," công chúa nói.
"Tôi từng học chút ít về điều đó thời thơ ấu," hắn đáp; "và tin rằng ngay cả cái bóng của tôi, đang đứng đằng kia bên cửa ra vào, cũng có thể trả lời được."
"Cái bóng của ngài ư," công chúa nói; "thế thì thực sự đáng kinh ngạc đấy."
"Tôi không dám chắc chắn 100%," cái bóng nhận xét; "nhưng tôi nghiêng về khả năng nó làm được. Nó đã theo tôi bao nhiêu năm trời, và nghe tôi giảng giải quá nhiều, nên tôi nghĩ chuyện đó rất dễ xảy ra. Nhưng điện hạ phải cho phép tôi lưu ý rằng, nó rất kiêu hãnh về việc được coi là một con người, và để nó có tâm trạng vui vẻ nhằm trả lời cho đúng, ngài phải đối xử với nó như một con người."
"Tôi rất sẵn lòng làm vậy," công chúa nói. Thế là nàng bước đến chỗ nhà bác học, kẻ đang đứng ở ngưỡng cửa, và trò chuyện với ông về mặt trời, mặt trăng, những khu rừng xanh thẳm, về những người ở chốn gần lẫn phương xa; và nhà bác học đã trò chuyện với nàng một cách vô cùng thú vị và khôn ngoan.
"Đúng là một người đàn ông tuyệt vời mới có được một chiếc bóng thông minh đến thế!" nàng thầm nghĩ. "Nếu ta chọn hắn thì đó sẽ là một hồng phúc thực sự cho đất nước và thần dân của ta, và ta sẽ làm thế." Thế là công chúa và cái bóng nhanh chóng đính hôn, nhưng không được hé lộ nửa lời với bất kỳ ai cho đến khi nàng trở về vương quốc của mình.
"Sẽ không ai biết được đâu," cái bóng nói; "thậm chí cả cái bóng của tôi cũng không;" và hắn có những lý do vô cùng đặc biệt khi nói vậy.
Sau một thời gian, công chúa trở về vùng đất nàng cai trị, và cái bóng đi theo sát cánh.
"Nghe này bạn hiền," cái bóng nói với nhà bác học; "giờ đây khi tôi đã may mắn và quyền lực chẳng kém bất kỳ ai trên đời này, tôi sẽ làm một việc vô cùng tốt đẹp cho ngài. Ngài sẽ được sống trong cung điện của tôi, ngồi xe ngựa hoàng gia cùng tôi, và hưởng bổng lộc một trăm nghìn đô-la một năm; nhưng ngài phải cho phép mọi người gọi mình là cái bóng, và không bao giờ được phép mở miệng nói rằng mình từng là một con người. Và mỗi năm một lần, khi tôi ngồi ngoài ban công tắm nắng, ngài phải nằm rạp dưới chân tôi đúng tư cách của một cái bóng phải làm; bởi tôi phải nói cho ngài hay, tôi sắp kết hôn với công chúa, và đám cưới của chúng ta sẽ diễn ra vào tối nay."
"Nào, thực sự thì thế này là quá quắt lắm rồi," nhà bác học nói. "Tôi không thể, và sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước một trò lố bịch đến thế. Làm vậy chẳng khác nào lừa gạt cả vương quốc lẫn công chúa. Tôi sẽ phơi bày tất cả, và nói rõ rằng tôi mới là con người thật sự, còn ngươi chỉ là một chiếc bóng khoác lên mình y phục loài người mà thôi."
"Sẽ chẳng ai tin ngài đâu," cái bóng nói; "tỉnh táo lại đi, bằng không tôi sẽ gọi lính canh đấy."
"Tôi sẽ đi gặp thẳng công chúa," nhà bác học nói.
"Nhưng tôi sẽ đến đó trước," cái bóng đáp, "và ngài sẽ bị tống vào ngục." Và sự thật đúng là như vậy, bởi đám lính canh răm rắp tuân lệnh hắn, vì chúng biết hắn sắp sửa kết hôn với ái nữ của quốc vương.
"Ngài đang run rẩy kìa," công chúa nói khi cái bóng xuất hiện trước mặt nàng. "Có chuyện gì xảy ra ư? Ngài không được phép đổ bệnh vào ngày hôm nay đâu nhé, bởi tối nay đám cưới của chúng ta sẽ cử hành rồi."
"Tôi vừa trải qua một chuyện tồi tệ nhất có thể tưởng tượng được," cái bóng nói; "ngài thử tưởng tượng xem, cái bóng của tôi bỗng nhiên phát điên; chắc là cái bộ óc nông cạn, nghèo nàn ấy không chịu đựng nổi nhiều thứ quá; hắn hoang tưởng rằng bản thân mới là người thật, còn tôi lại là cái bóng của hắn."
"Thật đáng sợ làm sao," công chúa kêu lên; "hắn đã bị tống giam chưa?"
"Ồ rồi, chắc chắn là thế; vì tôi sợ hắn sẽ chẳng bao giờ hồi phục nổi đâu."
"Tội nghiệp cái bóng!" công chúa nói; "đó thực sự là điều bất hạnh cho hắn; giải thoát hắn khỏi sự tồn tại mỏng manh ấy quả thực là một việc làm phúc đức; và quả thực, khi nghĩ đến việc ngày nay người ta hay bênh vực tầng lớp hạ đẳng chống lại tầng lớp bề trên thế nào, thì việc thủ tiêu hắn một cách êm thấm chính là một sách lược khôn ngoan."
"Làm vậy quả thực hơi nhẫn tâm với hắn, vì hắn từng là một bề tôi trung thành," cái bóng nói; và hắn làm bộ thở dài.
"Ngài quả là một con người cao thượng," công chúa nói, rồi cúi đầu trước hắn.
Vào buổi tối, toàn thành phố lung linh ánh đèn hoa đăng, những phát đại bác nổ vang trời, và các binh sĩ bồng súng chào. Đó quả thực là một đám cưới vô cùng hoành tráng. Công chúa và cái bóng bước ra ban công để ra mắt mọi người và đón nhận thêm một tràng hoan hô nữa. Thế nhưng nhà bác học chẳng hề hay biết gì về những khúc ca hoan hỉ ấy, bởi ông đã bị đem ra xử trảm từ trước đó rồi.