[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE
Ở Trung Hoa, như bạn biết đấy, hoàng đế là người Trung Hoa, và tất cả những ai cận kề ngài cũng vậy. Câu chuyện tôi sắp kể cho bạn nghe đã xảy ra từ rất nhiều năm về trước, thế nên thật hay khi được lắng nghe nó ngay lúc này trước khi nó chìm vào quên lãng. Cung điện của hoàng đế là nơi lộng lẫy nhất trên trần gian. Nó được xây hoàn toàn bằng sứ, vô cùng đắt đỏ, nhưng lại mong manh và dễ vỡ đến mức bất cứ ai chạm vào cũng phải hết sức cẩn trọng. Trong khu vườn, người ta có thể nhìn thấy những loài hoa kỳ lạ nhất, với những chiếc chuông bạc xinh xắn buộc vào, rung lên lanh lảnh khiến bất cứ ai đi qua cũng không thể không chú ý đến những đóa hoa ấy. Quả thực, mọi thứ trong khu vườn của hoàng đế đều đáng kinh ngạc, và nó rộng đến mức chính người làm vườn cũng chẳng biết nó kết thúc ở đâu. Những ai đi xa hơn ranh giới ấy đều biết rằng có một khu rừng uy nghi với những tán cây cao vút, thoai thoải dốc xuống bờ biển xanh thẳm, nơi những con tàu lớn giương buồm lướt đi dưới bóng rợp của những nhành cây. Trên một trong số những cội cây ấy sống một chú chim họa mi, hót hay đến nỗi ngay cả những bác thợ chài nghèo, dẫu bận rộn trăm công nghìn việc, cũng phải dừng chân để lắng nghe. Thỉnh thoảng, khi họ ra khơi vào ban đêm để giăng lưới, họ nghe tiếng chim hót và thốt lên: "Ôi, sao mà hay thế nhỉ?" Nhưng rồi khi quay trở lại với công việc đánh bắt, họ lại quên bẵng đi mất chú chim cho đến tận đêm hôm sau. Để rồi khi nghe lại tiếng hót ấy, họ lại trầm trồ: "Ôi, tiếng hót của họa mi mới tuyệt vời làm sao!"
Những du khách từ mọi xứ sở trên thế giới đều đổ về kinh thành của hoàng đế, họ vô cùng thán phục nơi đây, từ cung điện cho đến khu vườn; thế nhưng khi nghe tiếng họa mi hót, tất cả đều đồng thanh tuyên bố đó mới là điều tuyệt diệu nhất trên đời. Khi trở về quê hương, các du khách liền kể lại những gì họ từng thấy; các bậc thức giả thì viết sách, miêu tả tường tận về thị trấn, cung điện và khu vườn; nhưng họ không hề quên họa mi, sinh vật thực sự là kỳ quan vĩ đại nhất. Những ai biết làm thơ thì sáng tác những vần thơ tuyệt mỹ ca ngợi chú chim họa mi sống trong khu rừng gần biển thẳm. Những cuốn sách ấy chu du khắp thế giới, và một vài trong số đó đã đến tay nhà vua; ngài ngồi trên ngai vàng dát vàng, vừa đọc vừa gật gù tán thưởng từng giây, bởi ngài lấy làm mãn nguyện khi tìm thấy những dòng mô tả vô cùng tốt đẹp về kinh thành, cung điện và khu vườn của mình. Thế nhưng, khi đọc đến câu: "họa mi là loài chim đẹp tuyệt vời hơn tất cả," ngài liền kinh ngạc thốt lên: "Cái gì thế này? Ta chẳng biết chút gì về con họa mi nào cả. Lại có một loài chim như thế tồn tại trong đế quốc của ta ư? Thậm chí lại ở ngay trong khu vườn của ta nữa? Ta chưa từng nghe ai nhắc đến bao giờ. Xem ra, sách vở đôi khi cũng dạy cho ta biết khối điều."
Nói rồi, ngài gọi một vị thị thần vốn là người dòng dõi cao quý đến mức hễ ai có thân phận thấp kém hơn bắt chuyện hoặc đặt câu hỏi, hắn ta chỉ đáp lại bằng một tiếng "Hừ", chẳng mang ý nghĩa gì.
"Có một loài chim vô cùng kỳ diệu được nhắc đến ở đây, gọi là họa mi," nhà vua nói; "họ bảo đó là báu vật tuyệt vời nhất trong vương quốc rộng lớn của trẫm. Tại sao trẫm lại chưa từng được nghe kể về nó?"
"Thần chưa từng nghe qua cái tên ấy," vị quan triều đình đáp; "nó chưa từng được tiến cử trước triều đình."
"Trẫm muốn tối nay nó phải có mặt ở đây," hoàng đế phán; "cả thế giới đều rõ trẫm đang sở hữu những gì hơn cả chính bản thân trẫm."
"Thần chưa hề nghe nói về con chim đó," vị đại thần thưa; "tuy nhiên, thần sẽ gắng sức tìm cho ra."
Nhưng biết tìm họa mi ở đâu cơ chứ? Vị quý tộc lùng sục khắp nơi, lên lầu xuống gác, qua biết bao sảnh đường và hành lang; vậy mà chẳng một ai ông ta gặp từng nghe đến chú chim ấy. Thế là ông ta quay lại bẩm với hoàng đế rằng đó hẳn là một câu chuyện hoang đường do mấy kẻ viết sách bịa đặt ra. "Tâu hoàng thượng," ông ta tâu, "ngài không thể tin vào mọi điều được viết trong sách vở; đôi khi chúng chỉ là hư cấu, hoặc cái gọi là ma thuật đen tối."
"Nhưng cuốn sách mà trẫm đọc những dòng này," hoàng đế nói, "đã được gửi đến cho trẫm bởi vị hoàng đế hùng mạnh của xứ Nhật Bản, thế nên nó không thể chứa đựng điều dối trá. Trẫm muốn nghe tiếng hót của họa mi, nó phải có mặt ở đây vào tối nay; nó đang hưởng sủng ách cao nhất của trẫm; và nếu nó không đến, toàn thể triều đình sẽ bị giẫm đạp dưới chân sau khi bữa tối kết thúc."
"Tsing-pe!" vị thị thần kêu lên, và hắn lại cắm cổ chạy ngược chạy xuôi qua các sảnh đường và hành lang; một nửa triều thần cũng hớt hải chạy theo hắn, bởi chẳng ai muốn viễn cảnh mình bị giẫm đạp chút nào. Người ta ráo riết truy tìm chú chim họa mi kỳ diệu ấy, một sinh vật mà cả thế giới đều biết mặt gọi tên nhưng lại hoàn toàn xa lạ với chốn triều đình.
Cuối cùng, họ bắt gặp một cô bé nghèo trong nhà bếp, con bé liền nói: "Ôi, vâng, cháu biết rất rõ chú chim họa mi ấy chứ; quả thật con bé... à không, chú ấy hót hay lắm. Chiều nào cháu cũng được phép mang những món thừa trên bàn tiệc về cho người mẹ đau ốm của mình; mẹ cháu ở tít dưới bờ biển, và trên đường quay về, mỗi khi thấy mệt mỏi, cháu lại ghé vào rừng nghỉ chân và lắng nghe tiếng họa mi hót. Lúc ấy, nước mắt giàn giụa khóe mi cháu, cảm giác cứ như thể chính mẹ đang ôm hôn cháu vậy."
"Này thiếu nữ," vị thị thần nói, "ta sẽ xin cho em một công việc làm bếp ổn định, và em sẽ được đặc quyền đứng xem hoàng đế dùng yến tiệc, nếu em chịu dẫn chúng ta đến chỗ con họa mi; bởi nó đã được mời đến cung điện vào tối nay rồi." Thế là cô bé dẫn đường vào khu rừng nơi họa mi thường hót, và một nửa triều thần lũ lượt kéo theo sau. Dọc đường đi, một chú bò bỗng cất tiếng rống lên.
"Ôi," một vị cận thần trẻ tuổi thốt lên, "cuối cùng chúng ta cũng tìm thấy nó rồi; thật là một chất giọng tuyệt diệu đối với một sinh vật nhỏ bé nhường này; ta chắc chắn đã từng nghe tiếng hót ấy trước đây."
"Không đâu, đó chỉ là tiếng bò rống thôi ạ," cô bé đáp; "chúng ta hãy còn cách xa nơi đó lắm."
Lúc bấy giờ, mấy con ếch ở đầm lầy bắt đầu cất tiếng kêu ộp oạp.
"Hay tuyệt," vị cận thần trẻ lại xuýt xoa. "Bây giờ thì ta nghe thấy rồi đấy, tiếng hót lanh lảnh tựa như tiếng chuông nhà thờ nhỏ."
"Không, đấy là lũ ếch mà," cô bé thưa; "nhưng cháu nghĩ chẳng mấy chốc nữa chúng ta sẽ được nghe tiếng của họa mi thôi": và ngay khoảnh khắc đó, họa mi bắt đầu cất giọng.
"Nghe kìa, nghe kìa! Chú ta kìa," cô bé nói, "và đang đậu ở đằng kia kìa," con bé nói thêm, chỉ tay về phía một chú chim nhỏ lông xám đang rúc trên cành cây.
"Có thể thế được sao?" vị thị thần kinh ngạc thốt lên, "Ta chưa từng tưởng tượng nó lại là một sinh vật nhỏ bé, mộc mạc và giản dị đến thế. Chắc hẳn nó đã biến đổi cả sắc diện khi nhìn thấy biết bao nhiêu người cao sang quyền quý vây quanh mình."
"Họa mi nhỏ bé ơi," cô bé cất cao giọng gọi, "hoàng đế tối cao nhân từ của chúng tôi muốn ngài cất tiếng hót trước mặt ngài ấy."
"Với sự hân hạnh lớn lao nhất," họa mi đáp, rồi cất giọng hót vang vô cùng say đắm.
"Nghe cứ như những chiếc chuông thủy tinh tí xíu vậy," vị thị thần nhận xét, "và kìa, hãy nhìn cái cổ họng nhỏ bé của nó đang phập phồng kìa. Thật đáng kinh ngạc là trước nay chúng ta chưa từng được nghe âm thanh này; chú chim này chắc chắn sẽ gây tiếng vang lớn chốn triều đình."
"Ta có được phép hót một lần nữa trước hoàng thượng không?" họa mi ngây thơ hỏi, cứ ngỡ ngài đang có mặt ở đây.
"Họa mi nhỏ bé xuất sắc của ta," vị cận thần nói, "ta vô cùng vinh hạnh được mời ngươi đến tham dự buổi yến tiệc chốn hoàng cung tối nay, nơi ngươi sẽ giành được sự sủng ách của hoàng đế nhờ khúc ca yểu điệu của mình."
"Tiếng hót của ta cất lên hay nhất là chốn rừng xanh," chú chim đáp; thế nhưng nó vẫn ngoan ngoãn vâng lời khi nghe nhắc đến ước nguyện của nhà vua.
Cung điện được trang hoàng lộng lẫy cho dịp trọng đại này. Những bức tường và sàn nhà bằng sứ lấp lánh dưới ánh sáng của hàng ngàn ngọn đèn. Những đóa hoa lộng lẫy, xung quanh buộc những chiếc chuông nhỏ, được bày dọc theo các hành lang; nào là tiếng người chạy qua chạy lại cùng với gió lùa khiến những chiếc chuông ấy ngân lên vang dội đến mức chẳng ai nghe thấy người bên cạnh nói gì. Ngay giữa sảnh đường lớn, một chiếc gậy đậu bằng vàng đã được dựng sẵn để họa mi ngự lên đó. Toàn thể triều đình đều tề tựu đông đủ, và cô bé làm bếp nghèo nàn cũng được đặc ân đứng cạnh cửa ra vào. Con bé chưa được chính thức sắc phong làm đầu bếp hoàng gia. Ai nấy đều diện trang phục trang trọng nhất, và mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía chú chim nhỏ lông xám khi hoàng đế gật đầu ra hiệu cho nó bắt đầu. Họa mi hót hay đến đỗi nước mắt trào ra khóe mắt hoàng đế, rồi lăn dài trên gò má ngài, khi khúc ca của chú chim ngày càng trở nên xao xuyến và chạm đến tận đáy lòng mọi người. Hoàng đế sung sướng đến mức tuyên bố họa mi sẽ được ban cho chiếc giày vàng của ngài để đeo quanh cổ, nhưng chú chim từ chối vinh dự ấy với lời cảm ơn chân thành: nó đã nhận được phần thưởng vô cùng xứng đáng rồi. "Tôi đã nhìn thấy những giọt nước mắt trong mắt của một vị hoàng đế," nó nói, "đó là phần thưởng quý giá nhất đời tôi. Nước mắt của hoàng đế có quyền năng kỳ diệu, và chừng đó là quá đủ vinh dự cho tôi rồi"; rồi nó lại cất tiếng hót, say đắm và mê hoặc hơn bao giờ hết.
"Tiếng hót ấy quả là một món quà tuyệt mỹ;" các quý bà trong triều rỉ tai nhau; và thế là họ ngậm nước trong miệng để phát ra những âm thanh róc rách hệt như tiếng hót của họa mi mỗi khi trò chuyện với ai đó, cốt để thiên hạ lầm tưởng họ cũng là những chú chim họa mi. Rồi cả những tên lậu bộc và các cung nữ cũng bày tỏ sự hài lòng tột độ, điều hiếm thấy làm sao, bởi họ vốn là những kẻ cực kỳ khó tính. Quả thực, chuyến viếng thăm của họa mi đã thành công rực rỡ. Từ nay nó sẽ ở lại cung điện, được sở hữu chiếc lồng của riêng mình, với đặc quyền được bay ra ngoài hai lần một ngày và một lần vào ban đêm. Mười hai người hầu được cắt cử để túc trực chăm sóc nó trong những chuyến đi ấy, mỗi người giữ một đầu sợi dây lụa buộc vào chân chú chim. Quả thực chẳng có mấy niềm vui sướng gì trong kiểu bay lượn bị kiểm soát thế này.
Cả kinh thành bàn tán không dứt về chú chim kỳ diệu, và khi hai người gặp nhau, người này chỉ cần thốt lên "họa", người kia liền tiếp lời "mi", thế là họ hiểu ngay đối phương muốn nói gì, bởi chẳng còn chủ đề nào khác được nhắc tới. Mười một đứa trẻ con nhà tiểu thương được đặt theo tên của chú, thế nhưng chẳng đứa nào cất nổi dù chỉ một nốt nhạc.
Một ngày nọ, hoàng đế nhận được một kiện hàng lớn trên đó đề dòng chữ "Họa Mi". "Chắc hẳn đây là một cuốn sách mới viết về chú chim lừng danh của chúng ta rồi," hoàng đế nghĩ bụng. Nhưng thay vì một sách vở, đó lại là một tác phẩm nghệ thuật nằm trong một chiếc tráp, một con chim họa mi nhân tạo được chế tác tinh xảo trông như thật, toàn thân dát đầy kim cương, hồng ngọc và saphia. Ngay khi được lên dây cót, chú chim giả có thể cất tiếng hót y như chim thật, lại còn có thể cử động chiếc đuôi lên xuống lấp lánh ánh bạc và vàng. Quàng quanh cổ nó là một dải ruy băng thêu dòng chữ: "Họa mi của Hoàng đế Trung Hoa thật quá đỗi tầm thường nếu đem so với họa mi của Hoàng đế Nhật Bản."
"Trời ơi, đẹp quá đi mất," tất cả những ai tận mắt chiêm ngưỡng đều trầm trồ thán phục, và kẻ mang chú chim nhân tạo đến liền được ban tước hiệu "Chánh tổng quản phụ trách dâng tiến họa mi hoàng gia".
"Giờ thì chúng phải cùng nhau cất tiếng hót, song ca thì mới tuyệt làm sao," triều đình nhao nhao lên. Nhưng ngặt một nỗi chúng không tài nào phối hợp ăn ý với nhau, bởi họa mi thật cất giọng theo bản năng tự nhiên của mình, trong khi con chim máy chỉ biết hát đi hát lại những khúc nhạc waltz.
"Đó không phải là lỗi của nó," vị giáo sư âm nhạc bênh vực, "nó hoàn toàn hoàn hảo theo gu thẩm mỹ của ta," thế là chú chim nhân tạo đành phải đơn ca một mình, và nó cũng gặt hái được thành công vang dội chẳng kém gì chim thật; hơn thế nữa, bề ngoài của nó trông lộng lẫy bắt mắt hơn nhiều, bởi nó lấp lánh hệt như những chiếc vòng tay và trâm cài áo. Ba mươi ba lần liền nó trổ tài ca khúc ấy mà chẳng hề biết mỏi mệt; dân chúng hẳn sẽ rất vui lòng được nghe thêm nữa, nhưng nhà vua lên tiếng rằng chú chim họa mi bằng xương bằng thịt cũng nên được cất giọng. Thế nhưng nó đâu rồi? Chẳng một ai mảy may để ý rằng nó đã bay vút qua ô cửa sổ đang mở để trở về với những khu rừng xanh thẳm của mình.
"Thật là một cách hành xử kỳ cục," hoàng đế phán khi sự việc chú chim trốn mất bị phát giác, và toàn thể triều thần liền hùa nhau trách móc, gọi đó là một sinh vật vô ơn bội nghĩa.
"Nhưng dẫu sao chúng ta vẫn đang nắm giữ chú chim tuyệt vời nhất," một kẻ lên tiếng chữa cháy, và thế là họ nài nỉ chú chim máy hát lại từ đầu, dẫu đó đã là lần thứ ba mươi tư họ phải lắng nghe cùng một giai điệu cũ rích, thế mà họ vẫn chẳng tài nào thuộc nổi, bởi nó khá là phức tạp. Dẫu vậy, vị giáo sư âm nhạc vẫn không tiếc lời ca ngợi chú chim lên tận mây xanh, thậm chí còn khẳng định chắc nịch rằng nó vượt trội hơn hẳn họa mi thật, không chỉ ở bộ cánh rực rỡ đính đầy kim cương trân quý mà còn ở cả kỹ năng âm nhạc điêu luyện. "Bởi ngài phải nhận ra điều này, tâu bệ hạ và thiên tử kính yêu, rằng với một chú chim họa mi bằng xương bằng thịt, chúng ta chẳng bao giờ đoán trước được nó sẽ hót khúc ca nào, nhưng với tuyệt tác này, mọi thứ đều đã được lập trình sẵn. Ta có thể tháo tung ra để nghiên cứu tường tận, để hiểu rõ cách thức những điệu waltz được cấu thành ra sao, và tại sao nốt nhạc này lại tiếp nối nốt nhạc kia."
"Chính xác là những gì chúng ta đang nghĩ," tất cả đồng thanh đáp, và ngay lập tức vị giáo sư âm nhạc được chuẩn y cho phép đem chú chim ra trình diễn trước thần dân vào ngày Chủ nhật tuần tới, hoàng đế cũng hạ lệnh tất cả phải tề tựu đông đủ để thưởng thức tiếng hót của nó. Khi lắng nghe, họ say sưa mê mẩn như thể đang trong cơn hoan hỉ; tuy nhiên, có lẽ men say ấy xuất phát từ việc uống trà, một phong tục đậm đà bản sắc Trung Hoa. Ai nấy đều trầm trồ "Ồ!" rồi giơ ngón tay trỏ lên và gật gù tán thưởng, chỉ có một bác thợ chài nghèo, từng có dịp lắng nghe tiếng họa mi thật, là lẩm bẩm: "Nghe cũng lọt tai phết đấy chứ, chỉ tiếc là giai điệu nào cũng giống điệu nào; thế nhưng hình như vẫn thiếu thiếu một thứ gì đó, mà ta chẳng tài nào gọi tên được."
Và kể từ dạo ấy, chú họa mi thật chính thức bị trục xuất khỏi vương quốc, còn chú chim nhân tạo được đặt ngự lãm trên một chiếc gối nhung thêu ngay sát giường ngủ của hoàng đế. Những món quà bằng vàng và đá quý được tiến cúng cùng nó được bày biện xung quanh, và giờ đây nó được thăng lên tước hiệu "Ca sĩ trang điểm hoàng gia nhỏ bé" cùng phẩm hàm Nhất phẩm bên tả; bởi nhà vua niệm tình phía bên trái, nơi trái tim ngự trị, là chốn tôn quý nhất, và trái tim của một vị hoàng đế cũng nằm ở vị trí tương tự như muôn dân.
Vị giáo sư âm nhạc đã cặm cụi biên soạn một bộ sách dày tới hai mươi lăm tập viết về chú chim nhân tạo, một công trình uyên bác, dài lê thê và ngập tràn những thuật ngữ tiếng Trung hiểm hóc nhất; thế mà mọi người ai nấy đều lớn tiếng khẳng định mình đã đọc và thấu hiểu tất cả, bởi họ sợ bị coi là kẻ đần độn để rồi phải chuốc lấy hình phạt giẫm đạp tấm thân.
Cứ thế, một năm trôi qua, hoàng đế, triều đình cùng toàn thể người Trung Hoa đã thuộc làu làu từng luyến láy trong khúc ca của chú chim nhân tạo; và chính vì lý do đó mà họ càng đâm ra say đắm nó hơn. Họ có thể nghêu ngao hát theo chú chim, và họ vẫn thường làm thế. Mấy đứa trẻ đầu đường xó chợ cũng ra rả cất giọng "Zi-zi-zi, cúc, cúc, cúc," và ngay cả bản thân hoàng đế cũng có thể hát theo được. Quả thực là vô cùng giải trí.
Vào một buổi tối nọ, khi chú chim nhân tạo đang cao hứng cất tiếng hót hay nhất của mình và nhà vua đang nằm trên giường chăm chú lắng nghe, một âm thanh "vút" phát ra từ bên trong lồng ngực chú chim. Tiếp đó là tiếng lò xo nứt gãy. Toàn bộ hệ thống bánh răng gầm lên "Vo veeeee," cuồng cuộn quay đảo, rồi âm nhạc đột ngột dừng bặt. Hoàng đế lập tức chồm dậy khỏi giường, cho gọi ngự y đến gấp; nhưng y thì làm được gì chứ? Người ta bèn sai người đi vời một thợ đồng hồ; và sau bao hồi bàn thảo cùng kiểm tra tỉ mỉ, chú chim cuối cùng cũng được sửa chữa tạm ổn, nhưng bác thợ dặn rằng phải sử dụng hết sức cẩn thận, bởi các trục xoay đã mòn vữa, và việc thay thế trục mới là điều bất khả thi nếu không muốn phá hỏng toàn bộ giai điệu âm nhạc. Thế là một bầuσm không khí u buồn bao trùm, bởi từ nay chú chim chỉ được phép tấu khúc ca có một lần trong năm; và ngay cả điều đó thôi cũng đã tiềm ẩn nguy cơ làm tổn hại đến bộ máy bên trong. Ngay lúc ấy, vị giáo sư âm nhạc bước lên đọc một bài diễn văn ngắn đầy rẫy những từ ngữ đao to búa lớn, khẳng định chắc nịch rằng chú chim vẫn phong độ như ngày nào, và tất nhiên là chẳng một ai dám đứng lên phản bác ông ta.
Năm năm trôi qua, và rồi một nỗi đau đớn thực sự giáng xuống vương triều. Người dân Trung Hoa thực lòng yêu mến vị hoàng đế của họ, và ngài lúc này đang lâm trọng bệnh đến mức ngỡ không qua khỏi. Một vị hoàng đế mới đã được suy tôn từ trước, và những kẻ đứng tụm lại ngoài phố cứ gặng hỏi vị thị thần xem tình hình của vị hoàng đế già ra sao; thế nhưng hắn ta chỉ lạnh lùng đáp "Hừ" rồi lắc đầu nguầy nguậy.
Nhà vua nằm lặng lẽ, lạnh ngắt và nhợt nhạt trên chiếc giường hoàng gia; toàn thể triều thần đinh ninh rằng ngài đã băng hà, và ai nấy đều nhất loạt bỏ chạy sang hầu hạ vị tân vương. Các quan thị vệ kéo nhau ra ngoài để bàn tán thời sự, trong khi mấy cô cung nữ rôm rả tụ tập uống cà phê. Sàn nhà dọc theo các sảnh đường và hành lang đã được trải thảm nỉ dày cộm để triệt tiêu hoàn toàn tiếng bước chân, khiến không gian chìm vào tịch mịch và tĩnh lặng tuyệt đối. Nhưng hoàng đế vẫn chưa trút hơi thở cuối cùng, dẫu ngài đang nằm bất động, trắng bệch và cứng đờ trên chiếc giường lộng lẫy với những lớp rèm nhung dài rủ xuống cùng tua rua bằng vàng nặng trịch. Một khung cửa sổ đang mở toang, ánh trăng vằng vặc rọi thẳng vào nhà vua và chú chim nhân tạo. Vị hoàng đế khốn khổ, cảm thấy ngực nặng trịch như bị đè nén khiến ngài khó thở vô cùng, liền hé mắt tỉnh giấc và bàng hoàng nhìn thấy Thần Chết đang ngồi ngay đó. Ngài ta đã đội chiếc vương miện bằng vàng của hoàng đế, một tay lăm lăm thanh gươm quốc bảo, tay kia cầm lá cờ phướn lộng lẫy. Vây quanh chiếc giường, nhác trông qua những lớp rèm nhung dài, là vô số những chiếc đầu kỳ dị, kẻ thì cực kỳ gớm ghiếc, người lại thanh tú dịu hiền. Đó chính là những việc làm tốt và xấu trong đời hoàng đế, đang trừng trừng đối mặt với ngài giờ phút Thần Chết đã ngự trị bên trái tim.
"Ngài còn nhớ chuyện này chứ?" "Ngài có nhớ lại việc đó không?" chúng lần lượt chất vấn, gợi lại trong tâm trí ngài những sự kiện khiến mồ hôi lạnh túa đầm đìa trên vầng trán.
"Ta chẳng biết gì sất," hoàng đế hoảng loạn thốt lên. "Âm nhạc! Âm nhạc mau!" ngài gào thét; "hãy đánh chiếc trống lớn của Trung Hoa lên! Để ta không phải nghe những gì chúng nói nữa." Nhưng chúng vẫn tiếp tục dồn dập, và Thần Chết thì cứ gật đầu hùa theo mọi điều chúng bới móc hệt như một kẻ xứ Trung Hoa. "Âm nhạc! Âm nhạc!" hoàng đế gào lên tuyệt vọng. "Hỡi chú chim vàng bé nhỏ trân quý, hãy hót đi, xin hãy hót đi! Trẫm từng ban cho ngươi vàng bạc châu báu; trẫm thậm chí còn tháo cả chiếc giày vàng của trẫm để quàng lên cổ ngươi cơ mà. Hót đi! Hót đi!" Nhưng chú chim vẫn im lìm bất động. Chẳng còn ai lên dây cót cho nó, thế nên nó chẳng thể cất nổi dù chỉ một nốt nhạc.
Thần Chết vẫn tiếp tục đăm đăm nhìn nhà vua bằng đôi mắt lạnh lẽo, vô hồn, và căn phòng chìm trong sự tĩnh lặng đến rợn người. Bỗng nhiên, từ ngoài khung cửa sổ đang mở vọng vào những âm thanh du dương ngọt ngào. Bên ngoài, trên cành cây vắt vẻo, chú họa mi bằng xương bằng thịt đang đậu ở đó. Hay tin hoàng đế lâm trọng bệnh, nó đã bay đến để cất tiếng ca mang lại niềm hy vọng và sự ủi an cho ngài. Và khi nó cất giọng, những bóng đen liền nhạt dần, nhạt dần; dòng máu trong huyết quản hoàng đế bắt đầu lưu thông nhanh hơn, thổi bùng sức sống vào đôi chân rũ rượi; và ngay cả bản thân Thần Chết cũng phải ngây người lắng nghe, rồi thì thầm: "Hót nữa đi, họa mi nhỏ bé, hãy hót nữa đi."
"Thế ngài có đồng ý trao cho tôi thanh gươm vàng tuyệt đẹp kia cùng lá cờ phướn quý giá đó không? Và ngài có trao cho tôi cả chiếc vương miện của hoàng đế nữa không?" chú chim dò hỏi.
Thế là Thần Chết lần lượt buông bỏ từng báu vật ấy để đổi lấy một khúc ca; và chú họa mi cứ thế tiếp tục ngân nga. Nó hát về nghĩa địa thanh bình nơi những đóa hồng trắng lặng lẽ vươn mình, nơi cây cơm cháy tỏa hương thơm ngát trong làn gió thoảng, và thảm cỏ xanh non tươi mát đẫm ướt giọt lệ của những kẻ tiếc thương. Bấy giờ, Thần Chết bỗng khao khát được trở về khu vườn của chính mình, bèn lững lờ trôi qua khung cửa sổ dưới hình hài một làn sương mỏng lạnh lẽo, trắng xóa.
"Cảm ơn ngươi, cảm ơn ngươi nhé, chú chim nhỏ bé từ thiên đường. Ta thừa nhận ngươi. Đã có lúc ta nhẫn tâm trục xuất ngươi khỏi vương quốc của mình, thế nhưng giờ đây ngươi lại xua tan đi những gương mặt gớm ghiếc bên giường bệnh của ta, và đánh đuổi cả Thần Chết ra khỏi trái tim ta bằng khúc ca ngọt ngào xiết bao. Ta biết lấy gì để đền đáp ngươi đây?"
"Ngài đã ban thưởng cho tôi rồi còn gì," họa mi đáp. "Tôi sẽ chẳng bao giờ quên khoảnh khắc mình rút được những giọt lệ từ khóe mắt ngài trong lần đầu tiên cất tiếng hót cho ngài nghe. Đó mới chính là những viên bảo ngọc làm hoan hỉ trái tim của một người nghệ sĩ. Nhưng giờ thì ngài hãy ngủ đi, để hồi phục sức khỏe và mau chóng khỏe lại nhé. Tôi sẽ lại hót cho ngài nghe."
Và khi nó cất giọng miên man, hoàng đế chìm dần vào một giấc ngủ ngọt ngào; giấc ngủ ấy mới nhẹ nhõm và sảng khoái làm sao! Khi ngài tỉnh giấc, cơ thể đã hoàn toàn khỏe khoắn và phục hồi nguyên vẹn, ánh mặt trời rực rỡ đang chiếu rọi qua khung cửa sổ; thế nhưng chẳng một ai trong số đám gia nhân quay trở lại—tất cả bọn họ đều đinh ninh rằng ngài đã băng hà; chỉ duy nhất chú họa mi vẫn điềm nhiên đậu bên cạnh ngài và cất tiếng ca.
"Ngươi phải luôn ở lại bên trẫm," hoàng đế phán. "Ngươi chỉ cần hót bất cứ khi nào ngươi muốn; còn con chim nhân tạo kia, trẫm sẽ đập nát nó thành hàng ngàn mảnh."
"Không; xin ngài đừng làm thế," họa mi điềm đạm đáp; "chú chim ấy đã hoàn thành rất tốt nhiệm vụ chừng nào mà nó còn có thể. Hãy cứ giữ nó lại đây đi. Bản thân tôi không thể sống trong cung điện hay xây tổ ở nơi này; nhưng xin hãy để tôi ghé đến bất cứ khi nào tôi thích. Tôi sẽ đậu trên cành cây ngay ngoài cửa sổ của ngài vào mỗi buổi chiều tà, và cất tiếng hót cho ngài nghe, để ngài được an nhiên vui vẻ, và tâm hồn ngập tràn những suy nghĩ hân hoan. Tôi sẽ hát cho ngài nghe về những mảnh đời hạnh phúc và cả những kẻ đang đọa đày trong khổ đau; về người tốt kẻ xấu đangẩn khuất quanh ngài. Chú chim ca sĩ nhỏ bé này sẽ bay đi thật xa, rời khỏi ngài và chốn triều đình để đến với mái ấm của những bác thợ chài và túp lều tranh của người tá điền. Trẫm... à không, tôi yêu trái tim ngài hơn cả chiếc vương miện; dẫu rằng vương miện ấy cũng phảng phất một vẻ uy nghiêm thiêng liêng nào đó. Tôi sẽ đến, tôi sẽ hót cho ngài nghe; nhưng ngài phải hứa với tôi một điều."
"Điều gì trẫm cũng hứa hết," hoàng đế đáp, trong khi đã y phục chỉnh tề trong bộ hoàng bào, ngài đứng đó với bàn tay đang áp chặt thanh gươm vàng nặng trịch lên lồng ngực.
"Tôi chỉ xin ngài một điều duy nhất," nó đáp: "tuyệt đối đừng để ai hay biết rằng ngài có một chú chim nhỏ luôn thì thầm kể cho ngài nghe mọi chuyện trên đời. Tốt nhất là nên giấu kín nó đi." Nói đoạn, chú họa mi vỗ cánh bay vút vào không trung.
Lúc này, đám gia nhân mới lũ lượt bước vào để lo hậu sự cho vị hoàng đế quá cố; thế nhưng chao ôi! Ngài đang đứng sững ở đó, và để mặc cho sự kinh ngạc tột độ hiện trên gương mặt họ, ngài cất tiếng: "Chào buổi sáng."