Truyện Cổ Tích Hans Christian Andersen

Lượt đọc: 690 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
The Flower Garden Of The Woman Who Could Conjure

❊ ❊ ❊

Nhưng bé Gerda ra sao trong lúc Kay vắng nhà? Chẳng ai biết tung tích của cậu, cũng chẳng có lấy một chút thông tin, ngoại trừ mấy đứa trẻ chạy chơi ngoài phố kể rằng chúng thấy cậu buộc chiếc xe trượt tuyết của mình vào một chiếc xe lớn khác vừa phóng qua đường rồi khuất sau cổng thành. Chẳng ai biết chiếc xe đi đâu; rất nhiều giọt nước mắt đã rơi vì cậu, và bé Gerda đã khóc nức nở ròng rã suốt một thời gian dài. Con bé đinh ninh rằng cậu đã chết, rằng cậu đã chết đuối dưới dòng sông chảy sát ngay bên cạnh trường học. Ôi, những ngày đông dài dằng dặc ấy mới ảm đạm làm sao! Nhưng cuối cùng mùa xuân cũng đến với ánh nắng ấm áp.

— Kay đã chết và đi mãi rồi, — bé Gerda nói.

— Ta không tin điều đó, — ánh nắng đáp.

— Cậu ấy đã chết và đi mãi rồi, — con bé nói với bầy chim sẻ.

— Chúng tôi không tin đâu, — chúng đáp lại; và cuối cùng chính bé Gerda cũng bắt đầu hoài nghi. — Mình sẽ đi đôi giày đỏ mới, — con bé tự nhủ một buổi sáng, — đôi mà Kay chưa từng thấy bao giờ, rồi mình sẽ ra sông và hỏi thăm về cậu ấy.

Trời còn rất sớm khi con bé hôn người bà kính yêu vẫn đang chìm trong giấc ngủ; rồi nó xỏ đôi giày đỏ vào chân, một mình lầm lũi bước qua cổng thành hướng về phía sông.

— Có thật là ông đã mang người bạn nhỏ của tôi đi không? — nó cất tiếng hỏi dòng sông. — Tôi sẽ tặng ông đôi giày đỏ nếu ông chịu trả cậu ấy lại cho tôi.

Và dường như những con sóng đang gật đầu với nó một cách kỳ lạ. Ngay sau đó, nó cởi đôi giày đỏ mà nó yêu quý hơn bất cứ thứ gì trên đời ra, ném cả chiếc xuống sông; nhưng chúng chỉ rơi sát bờ, và những con sóng nhỏ lại đẩy dạt chúng vào đất liền, tựa hồ như dòng sông không nỡ nhận đi vật mà nó yêu quý nhất, bởi dòng sông chẳng thể trao trả bé Kay cho nó. Nhưng con bé nghĩ rằng mình ném chưa đủ xa. Thế là nó leo lên một chiếc thuyền nằm ẩn giữa đám sậy, rồi từ mạn thuyền phía bên kia, nó lại ném đôi giày xuống nước; khổ nỗi chiếc thuyền không hề được buộc chặt. Chuyển động của nó đã khiến chiếc thuyền trôi dạt ra xa bờ. Nhận ra điều đó, con bé vội vã bò về phía mũi thuyền, nhưng trước khi nó kịp chạm tới nơi, chiếc thuyền đã cách bờ hơn một thước và đang trôi đi ngày một nhanh hơn.

Lúc bấy giờ, bé Gerda vô cùng hoảng sợ và bắt đầu bật khóc, nhưng chẳng một ai nghe thấy tiếng nó ngoại trừ bầy chim sẻ; chúng không thể đưa nó vào bờ, nhưng chúng bay kèm theo dọc bờ sông và hót vang như để an ủi: "Chúng tôi đây rồi! Chúng tôi đây rồi!". Chiếc thuyền cứ thế xuôi theo dòng nước; bé Gerda ngồi bất động, chân không đi giày mà chỉ mang tất; đôi giày đỏ bồng bềnh trôi theo sau, nhưng con bé chẳng tài nào với tới vì chiếc thuyền cứ trôi cách xa quá đỗi. Phong cảnh hai bên bờ sông thật hữu tình. Nào hoa thắm, cây cổ thụ, những sườn đồi thoai thoải nơi bò và cừu đang gặm cỏ, nhưng tuyệt nhiên không bóng người qua lại. "Biết đâu dòng sông sẽ đưa mình đến với bé Kay," Gerda nghĩ bụng, và rồi lòng nó bỗng phấn chấn hơn, nó ngẩng cao đầu ngắm nhìn những bờ sông xanh ngút ngàn; cứ thế, chiếc thuyền trôi xuôi suốt mấy tiếng đồng hồ.

Cuối cùng, nó trôi đến một vườn anh đào rộng lớn, nơi có một ngôi nhà nhỏ màu đỏ với những ô cửa sổ xanh đỏ kỳ lạ. Ngôi nhà lợp mái tranh, và ngay bên ngoài có hai bức tượng lính bằng gỗ đang giơ súng chào khi thuyền nó lướt qua. Gerda cất tiếng gọi họ vì cứ đinh ninh đó là người sống thật, nhưng dĩ nhiên chẳng có lời đáp; và khi chiếc thuyền trôi dạt vào sát bờ, con bé mới nhận ra bản chất thực sự của chúng. Gerda liền cất giọng gọi to hơn nữa, và từ trong nhà một bà lão chống gậy khập khiễng bước ra. Bà đội một chiếc vành rộng che nắng, trên nón vẽ đủ các loài hoa rực rỡ.

— Tội nghiệp cô bé, — bà lão nói, — làm sao mà cháu lại dấn thân vào chốn hồng trần rộng lớn này trên một dòng nước xiết thế hả cháu?

Nói đoạn, bà lão lội xuống nước, dùng chiếc gậy chống kéo chiếc thuyền cập bờ rồi bế thốc Gerda ra ngoài. Gerda khẽ thở phào nhẹ nhõm khi đặt chân lên mảnh đất khô ráo, dẫu trong lòng hãy còn đôi chút e dè trước bà lão lạ lùng.

— Lại đây kể cho ta nghe cháu là ai, và vì sao lại đến đây nào, — bà bảo.

Thế là Gerda thuật lại đầu đuôi câu chuyện, trong khi bà lão cứ lắc đầu lè lưỡi kêu "hừm hừm"; và khi con bé dứt lời, Gerda liền hỏi xem bà có trông thấy bé Kay đi ngang qua đây không. Bà lão đáp rằng cậu bé chưa từng đi qua đường này, nhưng rất có thể cậu sẽ tới. Bà khuyên Gerda đừng buồn rầu nữa, hãy thử nếm những quả anh đào thơm ngon và ngắm nhìn trăm hoa đua nở; chúng còn tuyệt vời hơn cả vạn cuốn sách tranh, bởi mỗi đóa hoa đều có thể kể cho nghe một câu chuyện thú vị. Nói đoạn, bà nắm tay dắt Gerda bước vào ngôi nhà nhỏ rồi khép cửa lại. Các khung cửa sổ ở đây rất cao, và vì kính có đủ các màu đỏ, xanh dương, vàng nên ánh sáng ban ngày rọi qua mang theo muôn vàn sắc thái kỳ ảo. Trên bàn bày biện những chùm anh đào mọng đỏ, và Gerda được phép ăn tùy thích. Trong lúc con bé ăn, bà lão dùng chiếc lược bằng vàng chải mái tóc xoăn dài màu lanh của nó, và những lọn tóc óng ả buông xõa hai bên khuôn mặt tròn trịa, bầu bĩnh, tươi tắn như đóa hồng hé nở.

— Ta đã mong ngóng có được một cô tiểu thư đáng yêu nhường này từ lâu lắm rồi, — bà lão nói, — và giờ thì cháu phải ở lại đây với ta, để thấy chúng ta sẽ sống hạnh phúc bên nhau biết nhường nào.

Và trong lúc tiếp tục chải tóc cho bé Gerda, bà khiến con bé ngày một quên bẵng đi người anh nuôi Kay, bởi bà lão biết phù phép dẫu chẳng phải là một mụ phù thủy độc ác; bà chỉ dùng chút phép thuật để tự vui vẻ lúc buồn tay buồn chân, và giờ thì vì muốn giữ chân Gerda ở lại. Thế là bà đi ra vườn, giơ chiếc gậy chống hướng về phía những khóm hồng dù đang khoe sắc thắm; ngay lập tức, tất cả chìm sâu vào lòng đất đen, đến nỗi chẳng ai còn nhận ra chúng từng mọc ở nơi nào. Bà lão sợ rằng nếu bé Gerda nhìn thấy hoa hồng, con bé sẽ nhớ đến những khóm hồng ở nhà, rồi từ đó nhớ ra bé Kay và tìm cách trốn mất. Đoạn, bà dẫn Gerda vào khu vườn hoa. Ôi, hương thơm ngào ngạt và cảnh sắc mới tuyệt mỹ làm sao! Mọi loài hoa có thể tưởng tượng nổi thuộc về bất kỳ mùa nào trong năm đều đang khoe sắc thắm ở nơi đây; chẳng cuốn sách tranh nào sánh được với bảng màu rực rỡ ấy. Gerda nhảy tưng lên vì vui sướng, mải mê chơi đùa cho đến khi mặt trời khuất dạng sau những tán anh đào cao vút; rồi con bé chìm vào giấc ngủ trên chiếc giường sang trọng lót gối lụa đỏ thêu hoa violet nhiều màu; và nó mơ những giấc mơ đẹp đẽ tựa một vị nữ hoàng trong ngày cưới.

Ngày hôm sau, và nhiều ngày tiếp nối sau đó, Gerda cứ mãi nô đùa cùng muôn hoa dưới ánh nắng ấm áp. Con bé thuộc làu từng loài hoa, và dẫu chúng có vô vàn kể sao cho xuể, nó vẫn có cảm giác như thiếu vắng một loài nào đó, nhưng rốt cuộc là loài nào thì nó chịu không tài nào nhớ nổi. Thế nhưng, vào một ngày nọ, khi ngồi ngắm chiếc nón có vẽ hoa của bà lão, nó chợt nhận ra bông hoa đẹp nhất trong số đó chính là đóa hồng. Bà lão đã sơ suất quên mất không xóa nó khỏi chiếc nón khi khiến toàn bộ hoa hồng chìm vào lòng đất. Quả thật thật khó để chu toàn mọi thứ trên đời; chỉ một thoáng lơ đễnh nhỏ nhoi cũng đủ làm đảo lộn cả cơ đồ.

— Ôi, ở đây không có hoa hồng nào sao? — Gerda thốt lên; rồi con bé hoảng hốt chạy bổ ra vườn, săm soi từng luống đất, hết sục sạo chỗ này đến tìm kiếm chỗ kia. Chẳng có lấy một bông nào. Bấy giờ con bé mới sà xuống khóc nức nở, và những giọt nước mắt nóng hổi rơi đúng vào vị trí khóm hồng từng chìm xuống thuở nào. Tấm lòng thắm thiết tưới nhuộm đất mềm, và khóm hồng liền bừng tỉnh đâm chồi, tươi tắn y như thuở chưa bị vùi lấp; Gerda ôm chầm lấy, hôn lên những cánh hoa, và lòng hoài niệm về những đóa hồng tươi đẹp ở quê nhà, cùng với hình bóng bé Kay.

— Ôi, mình đã bị giữ chân ở đây biết bao lâu rồi! — cô tiểu thư nhỏ thốt lên. — Lẽ ra mình phải đi tìm bé Kay chứ. Các bạn có biết cậu ấy ở đâu không? — nó cất tiếng hỏi những đóa hồng. — Các bạn có nghĩ là cậu ấy đã chết rồi không?

Và những đóa hồng đáp rằng: — Không, cậu ấy không chết đâu. Chúng tôi từng nằm sâu dưới lòng đất nơi chôn vùi những kẻ đã khuất; nhưng không hề có bóng dáng Kay ở đó.

— Cảm ơn các bạn, — bé Gerda nói, rồi nó rảo bước sang những loài hoa khác, ghé sát vào đài hoa nhỏ bé và cất tiếng hỏi: — Các bạn có biết bé Kay ở đâu không?

Nhưng từng đóa hoa, khi tắm mình trong ánh nắng, chỉ mải mê chìm đắm trong những câu chuyện cổ tích và huyền thoại của riêng mình. Chẳng một ai hay biết gì về Kay. Gerda đành lắng nghe vô số câu chuyện từ các loài hoa khi hết lượt này đến lượt khác hỏi chúng về cậu.

Và đóa hoa huệ tây vằn đã nói những gì? "Hãy lắng tai nghe, bạn có nghe tiếng trống trận không?—'tùng, tùng',—chỉ có hai nốt nhạc lặp đi lặp lại mãi, 'tùng, tùng'. Hãy lắng nghe tiếng khóc than của những người phụ nữ! Nghe tiếng tế lễ của thầy tu! Trong bộ xiêm y đỏ thẫm dài chấm gót, người quả phụ theo đạo Hindu đứng cạnh giàn hỏa táng. Ngọn lửa bùng lên vây quanh khi nàng tự đặt mình lên thi hài của người chồng quá cố; nhưng người phụ nữ Hindu ấy lại đang hoài niệm về một kẻ còn sống trong cõi đời này: đứa con trai đã châm lên ngọn lửa ấy. Ánh mắt rực sáng ấy xé tâm can nàng đau đớn hơn cả ngọn lửa chẳng mấy chốc sẽ thiêu rụi thân xác nàng thành tro bụi. Liệu ngọn lửa của trái tim có thể bị dập tắt bởi ngọn lửa trên giàn hỏa táng chăng?"

— Tôi chẳng hiểu gì sất, — bé Gerda đáp.

— Đó là câu chuyện của tôi đấy, — đóa huệ tây vằn nói.

Còn hoa bìm bìm nói gì nào? "Gần con đường hẹp kia sừng sững một lâu đài hiệp sĩ cổ kính; dây thường xuân dày đặc leo kín những bức tường hoang phang, phủ lá chồng lên lá, vươn tận đến ban công nơi một thiếu nữ kiều diễm đang đứng. Nàng nhoài người qua lan can, đăm đăm nhìn lên con đường dài. Chẳng nhành hồng nào tươi tắn hơn nàng; chẳng cánh hoa táo nào lất phất trong gió lại bay bổng uyển chuyển hơn dáng điệu của nàng. Bộ lụa là cao cấp sột soạt theo nhịp chuyển động khi nàng rướn người cất tiếng than: 'Chàng sẽ chẳng về sao?'"

— Có phải ý bạn đang nhắc đến Kay không? — Gerda hỏi.

— Tôi chỉ đang kể lại một giấc mơ của mình thôi, — đóa hoa đáp.

Đóa hoa tuyết điểm nhỏ bé thì thầm điều chi? "Giữa hai thân cây căng một sợi dây thừng; vắt ngang qua đó là một tấm ván nhỏ tạo thành chiếc xích đu. Hai cô bé xinh xắn khoác chiếc đầm trắng tinh khôi như tuyết, thắt dải lụa xanh dài phấp phới trên vành nón, đang ngồi trên xích đu đánh đu. Người anh trai cao lớn hơn đứng thăng bằng ngay trên ván đu; một tay cậu bám chặt lấy dây thừng để giữ mình, tay kia một bên cầm chiếc bát nhỏ, bên kia cầm chiếc tẩu đất, ung dung thổi nhữngh bong bóng xà phòng. Xích đu vút bay lên cao, mang theo những quả bóng phản chiếu muôn màu rực rỡ đổi thay liên tục. Quả bóng cuối cùng vẫn lơ lửng trên miệng tẩu, chòng chành theo làn gió. Xích đu tiếp tục lao đi; rồi một chú chó đen nhỏ xíu lon ton chạy tới. Chú ta nhẹ tựnh như một quả bóng xà phòng, chồm hai chân sau lên ngỏ ý muốn được đu cùng; nhưng xích đu nào có dừng lại, khiến chú chó chuội chân ngã nhào; thế là chú ta sủa vang đầy ấm ức. Bọn trẻ nhoài người về phía chú, và quả bóng xà phòng bỗng vỡ tan tành. Một tấm ván đu, một bức tranh bọt biển lấp lánh ánh quang,—đó là câu chuyện của tôi đấy."

— Những gì bạn kể nghe có vẻ hay thật đấy, — bé Gerda nói, — nhưng giọng bạn u sầu quá, và chẳng hề đả động gì đến bé Kay cả.

Thế còn hoa lục bình thì sao? "Có ba nàng công chúa xinh đẹp, kiều diễm và mong manh. Xiêm y của người thứ nhất đỏ rực, người thứ hai xanh biếc, và người thứ ba trắng muốt một màu. Tay trong tay, họ cùng nhau khiêu vũ dưới ánh trăng vằng vặc bên hồ nước phẳng lặng; nhưng họ là con người chứ nào phải yêu tinh chốn rừng xanh. Hương thơm ngọt ngào lôi cuốn họ, để rồi họ biến mất vào sâu thẳm trong rừng; tại đây hương thơm càng lúc càng ngào ngạt. Ba cỗ quan tài chứa ba thiếu nữ xinh đẹp trôi dạt từ chốn thâm sơn cùng cốc băng qua mặt hồ. Đóm đom đóm lướt nhẹ phía trên như những ngọn đuốc lập lòe trôi nổi. Phải chăng những thiếu nữ múa ca đang chìm vào giấc ngủ, hay họ đã thật sự ngã xuống? Hương thơm của loài hoa thì thầm rằng họ đã là những thây ma. Tiếng chuông chiều đang ngân lên điệu khúc tiễn biệt."

— Bạn làm tôi buồn quá đi mất, — bé Gerda nói; — hương thơm của bạn nồng nàn quá, khiến tôi cứ nghĩ đến những thiếu nữ đã khuất. A! Chẳng lẽ bé Kay thực sự đã chết rồi sao? Những đóa hoa hồng từng nằm dưới lòng đất mà vẫn bảo là không cơ mà.

— Tinh tang, — tiếng chuông lục bình ngân vang. — Chúng tôi chẳng ngân lên vì bé Kay đâu; chúng tôi nào có biết cậu ta là ai. Chúng tôi chỉ hát khúc ca của mình, khúc ca duy nhất mà chúng tôi biết.

Đoạn, Gerda tiến về phía những đóa hoàng cúc đang lấp lánh giữa tầng lá xanh tươi.

— Các bạn là những mặt trời nhỏ rực rỡ, — Gerda nói; — hãy cho tôi biết nếu các bạn hay tin mình có thể tìm thấy người bạn đồng hành ở chốn nào.

Và những đóa hoàng cúc lấp lánh hân hoan, đưa đôi mắt nhìn Gerda. Nào khúc ca chi mà loài hoàng cúc có thể cất lên? Hẳn nhiên chẳng dính dáng gì đến Kay cả.

“Ánh nắng ấm áp chan hòa chiếu xuống một khoảnh sân nhỏ, vào ngày đầu tiên của mùa xuân ấm áp. Những tia nắng rực rỡ đậu trên bức tường trắng toát của ngôi nhà bên cạnh; và ngay sát đó hé nở đóa hoa vàng đầu tiên trong năm, lấp lánh tựa thỏi vàng dưới ánh dương chan hòa. Một bà cụ ngồi trên chiếc ghế bành trước hiên nhà, và cô cháu gái, một nàng hầu vừa nghèo vừa xinh xắn, ghé thăm bà trong chốc lát. Khi cô cúi xuống hôn bà, ánh vàng ngập tràn khắp chốn: ánh vàng của trái tim gửi gắm trong nụ hôn thiêng liêng; đó là một buổi sáng dát vàng; ánh vàng hiện hữu trong tia nắng rực rỡ, trong từng chiếc phiến lá nhỏ nhoi và trên đôi môi của nàng thiếu nữ. Đấy, câu chuyện của tôi là thế đấy,” đóa hoàng cúc cất lời.

— Bà cụ tội nghiệp của tôi ơi! — Gerda thở dài; — bà đang mong mỏi gặp lại tôi, và đau buồn vì tôi hệt như đã từng đau buồn vì bé Kay; nhưng chẳng bao lâu nữa tôi sẽ trở về nhà và mang theo cả bé Kay bên mình. Hỏi han mấy đóa hoa chẳng ích gì sảng; chúng chỉ biết bài ca của chính mình và chẳng thể cung cấp cho tôi chút thông tin nào.

Rồi con bé xắn cao chiếc váy nhỏ để có thể chạy nhanh hơn, nhưng bông hoa thủy tiên bất ngờ tóm lấy chân nó khi nó vừa nhảy qua; thế là nó khựng lại ngắm nhìn đóa hoa vàng cao ngồng và cất tiếng hỏi: — Biết đâu bạn lại hay biết điều gì chăng.

Nó bèn khom người sát rạt vào đóa hoa và lắng tai nghe; và đóa hoa đã nói những gì?

— Ta có thể nhìn thấy chính mình, ta có thể nhìn thấy chính mình, — đóa thủy tiên râm ran. — Ôi, hương thơm của ta ngọt ngào làm sao! Tận trên căn phòng nhỏ với khung cửa sổ lồi, có một nữ vũ công đang đứng trong trang phục nửa kín nửa hở; nàng lúc thì đứng bằng một chân, lúc lại trụ cả hai chân, ra điều muốn giẫm đạp cả thế gian dưới chân mình. Nàng chẳng qua chỉ là một khối ảo ảnh. Nàng đang dùng ấm trà trút nước lên một mảnh vải trên tay; đó chính là chiếc áo lót của nàng. 'Sạch sẽ là một đức tính tốt,' nàng tự lẩm bẩm. Chiếc đầm trắng của nàng treo lủng lẳng trên móc; nó cũng vừa được giặt bằng nước pha trong ấm trà và đem phơi khô trên mái nhà. Nàng mặc nó vào, thắt chiếc khăn màu nghệ quanh cổ khiến chiếc đầm trông càng thêm phần trắng muốt. Nhìn kìa cách nàng duỗi thẳng chân, tựa hồ đang uốn éo tạo dáng trên một thân cây. Ta có thể nhìn thấy chính mình, ta có thể nhìn thấy chính mình.

— Tôi thèm vào đếm xỉa đến mấy chuyện đó, — Gerda nói, — bạn chẳng cần phải nhồi nhét vào tai tôi mấy thứ nhảm nhí ấy. Và rồi nó cắm cổ chạy thục mạng đến đầu bên kia khu vườn. Cánh cửa khép hờ, nhưng nó dùng sức đẩy mạnh chiếc chốt gỉ sét, thế là then cửa bật tung. Cánh cửa phắt mở rộng và bé Gerda trần chân chạy bổ ra cõi đời rộng lớn bao la. Nó ngoái đầu nhìn lại ba lần, nhưng chẳng thấy ai đuổi theo sau. Cuối cùng, đôi chân đã mỏi nhừ không thể cất bước thêm, nó đành sà xuống một tảng đá lớn để nghỉ chân; và khi đảo mắt nhìn xung quanh, nó chợt bàng hoàng nhận ra mùa hè đã qua đi tự bao giờ và mùa thu đã sang kỳ sâu đậm. Chẳng mảy may hay biết điều ấy suốt quãng thời gian đắm chìm trong khu vườn tuyệt diệu, nơi ánh nắng chan hòa và hoa cỏ khoe sắc quanh năm.

— Ôi, sao mình lại để uổng phí thời gian thế này? — bé Gerda kêu lên; — trời đã sang thu rồi. Mình không thể dừng chân nghỉ ngơi thêm nữa, và nó gượng đứng dậy bước tiếp. Nhưng đôi bàn chân bé nhỏ của nó đã sưng tấy và rớm máu, còn vạn vật xung quanh thì lạnh lẽo và tiêu điều làm sao. Những chiếc lá liễu dài đã ngả vàng úa. Từng giọt sương rơi nặng trĩu như nước, lá rụng tả tơi khắp các cội cây, duy chỉ có cây mận gai là hãy còn trĩu quả, nhưng vị chát xít của nó làm ê buốt cả hàm răng. Ôi, thế gian mới tối tăm và ảm đạm làm sao!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của H. C. Andersen

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.