"Gần bờ Đại Hải Hiệp, một trong những eo biển nối liền vùng Cattegat với biển Baltic, tọa lạc một dinh thự cổ với những bức tường gạch đỏ dày đặc. Ta thuộc làu từng viên gạch ở đó," Gió cất lời kể. "Ta từng thấy nó khi nó còn là một phần lâu đài của Marck Stig trên mũi đất. Nhưng lâu đài buộc phải hạ giải, và những viên gạch ấy lại được dùng để dựng nên những bức tường cho một dinh thự mới ở nơi khác—dinh cơ bá tước Borreby, nay vẫn đứng uy nghi gần bờ biển. Ta biết rõ họ, những vị chúa tể và phu nhân quý phái, những thế hệ nối tiếp nhau sinh sống tại chốn này; và giờ đây, ta sẽ kể cho các ngươi nghe về Waldemar Daa cùng các cô con gái của ông. Dáng điệu ông mới kiêu hãnh làm sao, bởi ông mang dòng máu hoàng tộc, và có thể tự hào về những chiến tích lẫy lừng hơn là chỉ đi săn hươu hay cạn chén rượu nồng. Quyền uy của ông thật chuyên chế: 'Phải thế này,' ông thường phán truyền như vậy. Vợ ông, trong những xiêm y thêu vàng, kiêu hãnh bước đi trên những sàn đá cẩm thạch nhẵn bóng. Những tấm thảm treo tường thật lộng lẫy, còn đồ đạc thì mang phong cách nghệ thuật đắt giá. Bà đã mang theo vàng bạc và đồ gia bảo vào ngôi nhà này. Các hầm rượu thì chứa đầy thứ nước men say. Những con ngựa đen dũng mãnh, lồng lộn hí vang trong chuồng. Dinh cơ Borreby lúc bấy giờ ngập tràn vẻ giàu sang phú quý. Họ có ba người con gái, những thiếu nữ xinh đẹp và yểu điệu—Ida, Joanna, và Anna Dorothea; ta chưa từng quên tên của họ. Đó là một gia đình quyền quý, giàu sang, sinh ra trong cảnh sung túc và dưỡng dục giữa chốn nhung lụa."
"Vi vu, vi vu!" Ngọn gió gầm lên, rồi tiếp lời: "Ta không hề thấy ở ngôi nhà này, như ở những dinh thự lớn khác, người phu nhân dòng dõi cao quý ngồi giữa đám gia nhân, quay kì cúc bên chiếc khung cửi. Bà có thể lướt những ngón tay trên phím đàn ghi-ta ngân vang, cất tiếng ca hòa theo khúc nhạc, không phải lúc nào cũng là những điệu dân ca Đan Mạng, mà là khúc ca từ một xứ sở xa xôi. Nơi đây sống theo châm ngôn 'Sống và để cho người sống'. Những vị khách lạ từ muôn phương tấp nập kéo đến, tiếng nhạc vang lừng, chén ngọc chạm nhau, và ta," Gió nói, "đã chẳng thể nào át nổi thứ âm thanh huyên náo ấy. Sự phô trương, kiêu ngạo, tráng lệ và vẻ bề ngoài ngự trị nơi đây, chứ không phải lòng kính sợ Thiên Chúa."
"Đó là vào chiều ngày mùng Một tháng Năm," Gió tiếp tục kể, "ta từ phương Tây thổi tới, từng chứng kiến những con tàu bị sóng dữ đè bẹp, khi tất cả những kẻ trên tàu đều bỏ mạng hoặc dạt vào bờ biển Jutland trong cảnh đắm tàu. Ta đã vội vã lướt qua vùng hoang mạc, vượt qua bờ biển phía đông rợp bóng cây của Jutland, bay qua đảo Funen, rồi phóng mình xé ngang đại hải hiệp trong tiếng thở dài và rên rỉ. Cuối cùng, ta nằm xuống nghỉ ngơi trên bờ biển Zeeland, gần dinh cơ Borreby tráng lệ, nơi khu rừng sồi tuyệt đẹp vẫn còn xanh tốt. Những chàng trai trong vùng đang tụ tập thu lượm cành cây và củi khô dưới những gốc sồi. Khúc nào to nhất và khô nhất tìm được, họ khiêng về làng, chất thành một đống lớn rồi châm lửa đốt. Thế là trai thanh nữ lịch nắm tay nhau nhảy múa, hát ca vòng quanh đống lửa đang bập bùng cháy rực. Ta nằm hoàn toàn im lặng," Gió kể, "nhưng ta thầm thổi nhẹ vào một cành cây do một trong những chàng trai khôi ngô nhất mang đến, khiến đống củi bùng lên sáng rực, cháy rọi hơn hẳn tất cả những phần còn lại. Thế là chàng được chọn làm thủ lĩnh, nhận danh hiệu Mục Đồng, và được quyền chọn lấy con cừu non của lòng mình trong số các thiếu nữ. Tiếng cười vui và niềm hân hoan lớn hơn bất cứ âm thanh nào ta từng nghe thấy trong những sảnh đường của dinh cơ bá tước giàu sang. Đúng lúc ấy, vị phu nhân quý tộc ngồi trên cỗ xe ngựa mạ vàng sáu ngựa kéo lướt qua để về dinh thự của bá tước. Các cô con gái còn trẻ và xinh đẹp—ba đóa hoa kiều diễm—một đóa hồng, một nhành ly, và một nhành lan dạ hương trắng. Người mẹ tựa như một bông tulip kiêu kỳ, chẳng hề đoái hoái đến lời chào của bất kỳ người dân nào đang tạm dừng chò chơi để tỏ lòng kính trọng bà. Vị phu nhân quyền quý trông giống một nhành hoa có phần cứng nhắc nơi thân cành. Hoa hồng, hoa ly, và lan dạ hương—phải, ta đã thấy cả ba nàng. Rồi đây họ sẽ làm cừu non của ai? ta thầm nghĩ; mục đồng của họ sẽ là một hiệp sĩ hào hoa, có lẽ là một hoàng tử chăng. Cỗ xe lăn bánh, và đám nông dân lại tiếp tục nhảy múa. Họ dong xe đi khắp các ngôi làng lân cận suốt mùa hè hôm ấy. Nhưng rồi vào một đêm nọ, khi ta thức dậy lần nữa, vị phu nhân cao quý đã nằm xuống để không bao giờ gượng dậy được nữa; cái điều ấy đã đến với bà, cái điều đến với tất cả chúng ta, chẳng có gì là mới lạ. Waldemar Daa thẫn thờ và trầm ngâm một hồi lâu. 'Cây cao nhất dẫu có thể oằn xuống nhưng chẳng dễ gãy,' một giọng nói vang lên trong tâm khảm ông. Các con gái ông khóc thương; toàn thể gia nhân trong dinh thự đều lấy tay lau nước mắt, nhưng phu nhân Daa đã đi khuất, và ta cũng bay đi mất," Gió kể. "Vi vu, vi vu!"
"Ta lại quay về; ta thường xuyên trở lại và lướt qua đảo Funen cùng những bờ biển của eo biển. Rồi ta dừng chân nghỉ tại Borreby, gần khu rừng tươi đẹp, nơi loài diệc làm tổ, chốn tụ hội của chim bồ câu rừng, chim trả xanh, và cò đen. Lúc ấy hãy còn là mùa xuân, có loài đang ấp trứng, loài khác đã nở ra những bầy con thơ dại; thế nhưng chúng mới hoảng hốt và kêu la oai oái làm sao khi tiếng rìu vang lên khắp khu rừng, từng nhát búa giáng xuống! Những cội cây trong rừng đã bị định đoạt số phận. Waldemar Daa muốn đóng một con tàu lớn, một chiến hạm ba tầng buồm mà nhà vua chắc chắn sẽ mua lại; và vì thế, những cổ thụ trong rừng, cột mốc của những người đi biển, chốn nương thân của loài chim, buộc phải bị đốn hạ. Chim ưng giật mình bay vụt đi vì tổ của nó đã bị phá hủy; loài diệc cùng muôn loài chim trong rừng trở thành kẻ vô gia cư, hoảng loạn bay lượn trong nỗi sợ hãi và giận dữ. Ta hoàn toàn thấu hiểu cảm giác của chúng. Quạ đen và quạ khoang kêu quác quác như thể đang nhạo báng, trong khi cây cối xung quanh đang nứt nẻ rồi đổ rạp xuống. Sâu trong tận cùng khu rừng, nơi một bầy công nhân ồn ào đang tất bật làm việc, Waldemar Daa đứng cùng ba cô con gái, tất cả đều cười lớn trước những tiếng kêu hoảng loạn của loài chim, ngoại trừ một người—cô con gái út, Anna Dorothea, người đang đau quặn thắt trong tim; và khi họ chuẩn bị đốn hạ một cây cổ thụ đã gần mục khô, trên những cành trơ trụi ấy có tổ của một gia đình cò đen, nàng nhìn thấy những sinh linh bé bỏng tội nghiệp đang vươn dài cổ ra, liền rưng rưng nước mắt cầu xin ơn tha mạng cho chúng. Thế là cái cây có tổ cò đen được giữ lại; dẫu rằng bản thân cái cây ấy chẳng đáng giá là bao. Sau đó là biết bao công đoạn đục đẽo và cưa xẻ, và cuối cùng thì chiến hạm ba tầng buồm cũng được hoàn thành. Người thợ cả vốn có gốc gác thấp kém nhưng mang lòng kiêu hãnh ngút trời; ánh mắt và vầng trán của y toát lên một trí tuệ lớn, và Waldemar Daa rất thích lắng nghe y, cô con gái cả Ida của Waldemar cũng vậy—nàng lúc ấy khoảng mười lăm tuổi; và trong lúc y đang đóng tàu cho người cha, y cũng đang tự xây cho mình một lâu đài trên không, nơi y và Ida sẽ sống chung sau khi kết hôn. Điều đó quả thật đã có thể xảy ra, nếu như đó là một lâu đài đích thực với tường đá, thành lũy và hào nước. Nhưng bất chấp cái đầu thông minh ấy, người thợ cả vẫn chỉ là một chú sẻ nghèo hèn, thấp kém; và làm sao một con sẻ lại có thể hy vọng bước chân vào hội của loài công?"
"Ta tiếp tục hành trình của mình," Gió kể, "và y cũng ra đi. Y không được phép ở lại, và Ida nhỏ bé rồi cũng nguôi ngoai, bởi nàng buộc phải thế. Những con ngựa đen kiêu kỳ, đáng chiêm ngưỡng, đang hí vang trong chuồng. Rồi chúng bị khóa kín lại; bởi viên đô đốc được nhà vua phái đến để thị sát con tàu mới và thương thảo việc mua lại, đã hết lời tán dương những con ngựa tuyệt mỹ ấy. Ta nghe thấy hết," Gió nói, "vì ta đã đi theo các vị ấy qua cánh cửa chuồng đang mở rộng, và rải những cọng rơm óng ả như những thỏi vàng dưới chân họ. Waldemar Daa muốn có vàng, còn viên đô đốc lại thèm muốn những con ngựa đen kiêu hãnh; thế nên hắn mới hết lời ca tụng chúng đến vậy. Nhưng ngụ ý ấy đã không được đáp lại, và hệ quả là con tàu đã không được mua. Nó nằm phơi mình trên bờ, phủ đầy những tấm ván—một chiếc hòm cứu thế Noah chẳng bao giờ được chạm xuống làn nước—vi vu—và thật là đáng tiếc thay."
"Vào mùa đông, khi đồng ruộng ngập chìm trong tuyết và mặt nước đặc quánh những tảng băng lớn mà ta đã thổi dạt vào bờ," Gió tiếp tục, "từng đàn quạ đen sì và quạ khoang, tối tăm và đen đúa như thường lệ, kéo đến đậu kín trên con tàu cô độc, hoang phế. Rồi chúng cất tiếng kêu khàn đượt, oán thán về khu rừng nay đã không còn, về biết bao chiếc tổ xinh xắn của loài chim đã bị phá hủy và những sinh linh bé bỏng bị bỏ lại không nơi nương tựa; và tất cả chỉ vì đống gỗ mục nề khổng lồ ấy, vì con tàu kiêu hãnh chưa một lần giương buồm ra khơi. Ta cuốn tung những bông tuyết cho đến khi tuyết chất thành một hồ nước lớn bao quanh con tàu, rồi phủ trùm lên nó. Ta bắt nó phải lắng nghe tiếng nói của ta, để nó thấu hiểu thế nào là uy lực của giông bão. Quả thực ta đã làm tròn phần việc của mình trong việc dạy cho nó cách trở thành kẻ đi biển."
"Mùa đông ấy qua đi, rồi một mùa đông nữa cùng mùa hè lại trôi qua, hệt như cách chúng vẫn đang trôi đi, giống như chính ta đang bay đi. Tuyết lại dạt trôi, hoa táo rơi rụng, lá cây úa tàn,—mọi thứ đều qua đi, và con người cũng lần lượt khuất bóng. Thế nhưng những người con gái của vị đại gia vẫn còn trẻ trung, và Ida nhỏ bé vẫn là đóa hồng tươi tắn chẳng khác gì ngày mà người thợ đóng tàu lần đầu nhìn thấy nàng. Ta thường đùa nghịch với mái tóc nâu dài của nàng, trong khi nàng đứng thẫn thờ bên cây táo trong vườn, chẳng màng đến việc ta đang rải những cánh hoa lên mái tóc nàng và làm nó rối tung; hoặc đôi khi, khi nàng đứng đắm mình ngắm nhìn mặt trời đỏ rực và bầu trời vàng óng qua kẽ lá của những tán cây rậm rạp trong khu vườn. Em gái nàng, Joanna, tươi tắn và mảnh mai như nhành ly; nàng có dáng đi và vóc người cao sang, dẫu rằng giống như mẹ, tấm lưng có phần hơi cứng nhắc. Nàng rất thích đi dạo qua đại sảnh lớn, nơi treo chân dung của những bậc tiền nhân. Các vị phu nhân hiện lên trong những bộ xiêm y bằng nhung và lụa, đội những chiếc mũ tí hon thêu ngọc trai trên mái tóc tết gọn gàng. Họ đều là những người phụ nữ xinh đẹp. Các nam nhân khoác trên mình giáp sắt, hoặc những chiếc áo choàng sang trọng lót lông sóc; họ mang những chiếc cổ rướm xếp nếp nhỏ và gươm giắt bên hông. Ngày nào đó, vị trí của Joanna sẽ ở đâu trên bức tường kia? và trông chàng sẽ ra sao—vị chúa tể và phu nhân quý phái của nàng? Đó là điều nàng thầm nghĩ đến, và thường lẩm bẩm một mình thành tiếng. Ta nghe thấy tất cả khi lướt qua đại sảnh dài rồi vòng ra ngoài. Anna Dorothea, đóa lan dạ hương nhợt nhạt, một thiếu nữ mười bốn tuổi, có tính cách trầm lặng và suy tư; đôi mắt xanh thẳm và lớn của nàng phảng phất nét mơ màng, nhưng nụ cười ngây thơ vẫn vương vấn trên khóe môi. Ta chẳng thể thổi bay nó đi, và cũng chẳng muốn làm thế. Chúng ta từng gặp nhau trong vườn, trên con đường rãnh sâu, ngoài đồng nội và thảo nguyên, nơi nàng hái lượm thảo mộc và hoa cỏ mà nàng biết sẽ hữu ích cho người cha trong việc bào chế những thứ thuốc và dược chất mà ông vẫn luôn hì hục pha chế. Waldemar Daa kiêu ngạo và hách dịch, nhưng ông đồng thời cũng là một học giả uyên bác và hiểu biết rất nhiều. Đó chẳng phải là điều bí mật gì, và đã có vô số lời bàn tán được đưa ra về những việc ông làm. Trong lò sưởi nhà ông, ngọn lửa vẫn cháy rực ngay cả giữa tiết hè. Ông tự khóa mình trong phòng, và ngọn lửa cứ thế bập bùng suốt nhiều ngày liền; nhưng ông chẳng hé răng mấy về những việc mình đang thực hiện. Những quyền năng huyền bí của tự nhiên thường được khám phá trong sự cô tịch, và chẳng phải chẳng mấy chốc ông sẽ tìm ra nghệ thuật chế tạo ra thứ vĩ đại nhất trong mọi báu vật—nghệ thuật luyện vàng đó sao? Đó là điều ông hằng khao khát; thế nên ống khói cứ tỏa khói và lửa cứ lách tách không ngừng nghỉ. Phải, ta cũng có mặt ở đó," Gió nói. "'Hãy dừng tay đi,' ta hát vang xuống ống khói; 'hãy dừng lại đi, tất cả rồi cũng chỉ biến thành khói, không khí, than hồng và tro bụi, rồi ngươi sẽ phải bỏng tay đấy.' Nhưng Waldemar Daa chẳng chịu dừng tay, và tất cả những gì ông sở hữu đều tan biến như làn khói bị ta thổi bay. Những con ngựa đen tráng lệ đâu rồi? Đàn bò trên đồng cỏ, những món đồ vàng bạc cổ xưa trong tủ và rương, thậm chí cả ngôi nhà và tổ ấm đã đi về đâu? Thật dễ dàng để thiêu rụi tất cả những thứ ấy trong chiếc vạc luyện vàng, để rồi chẳng thu lại được môt chút vàng nào. Và sự thật đúng là như vậy. Chuồng trại và kho lứa trống hoác, hầm rượu và tủ chè lạnh ngắt; gia nhân thưa thớt dần trong khi lũ chuột ngày càng sinh sôi nảy nở. Hết khung cửa sổ này đến khung cửa sổ khác bị vỡ toác, tạo cơ hội cho ta luồn lách vào nhà từ những lối đi khác ngoài cửa chính. 'Nơi nào ống khói còn tỏa khói, nơi đó cơm vẫn được nấu,' câu tục ngữ là vậy; nhưng ở đây, có một ống khói đang nhả khói chỉ để nuốt chửng mọi bữa ăn vì mục đích kiếm vàng. Ta lượn vòng quanh khoảng sân," Gió kể, "hệt như một người gác đêm đang thổi còi khuya, nhưng chẳng có người gác đêm nào ở đó cả. Ta xoay tít chiếc chớp gió trên đỉnh tháp, phát ra tiếng kêu kẽo kẹt như tiếng ngáy của một gác quan, nhưng chẳng có ai canh gác; chỉ toàn chuột với gi. Sự nghèo đói đã dọn bàn; nghèo đói ngự trị trong tủ quần áo và kho lương thực. Cánh cửa sút bản lề, những vết nứt và khe hở xuất hiện ở khắp mọi nơi; nhờ thế mà ta có thể tự do ra vào tùy thích, và đó là lý do vì sao ta tường tận mọi chuyện. Giữa khói lửa, tro tàn, nỗi muộn phiền và những đêm mất ngủ, mái tóc và bộ râu của người chủ nhà đã ngả bạc, những nếp nhăn sâu hoắm hằn lên quanh thái dương; làn da ông tái xanh vàng vọt, trong khi đôi mắt vẫn ngập tràn vẻ khao khát kiếm tìm vàng, thứ vàng hằng mong ước, và thành quả lao động của ông cuối cùng chỉ là nợ nần chồng chất thay vì lợi lộc. Ta thổi khói và tro bụi vào khuôn mặt và bộ râu của ông; ta rên rỉ qua những ô cửa sổ vỡ và những khe nứt ngoác miệng trên tường; ta thổi vào những chiếc rương và hòm đựng quần áo của các cô con gái, nơi những bộ trang phục đã phai màu và sờn rách vì phải mặc đi mặc lại nhiều lần. Chưa từng có khúc ca nào thảm hại như khúc ca mà ta cất lên lúc này dẫu so với thuở chúng nằm nôi. Cuối đời, cuộc sống vương giả đã biến thành một kiếp sống bần hàn. Ta là kẻ duy nhất cất tiếng cười vui sảng khoái trong lâu đài ấy," Gió nói. "Cuối cùng, ta phủ tuyết lên họ, và người ta vẫn bảo tuyết giữ cho con người ta ấm áp. Điều đó thật tốt cho họ, bởi họ chẳng có lấy một thanh củi, và khu rừng từng có thể cung cấp củi cho họ thì đã bị đốn sạch. Cái lạnh cắt da cắt thịt, và ta lao vút qua những ô châu mai, hành lang, qua những đầu hồi và mái nhà với tốc độ buốt giá, sắc lẹm. Ba cô tiểu thư đài các phải nằm liệt trên giường vì cái lạnh, còn người cha thì co ro bên dưới tấm chăn da thuộc. Không có gì để ăn, không có gì để đốt, chẳng có lấy một đốm lửa trên lò sưởi! Thật là một cuộc sống dành cho những kẻ cao sang quyền quý! 'Bỏ cuộc đi, bỏ cuộc đi!' Nhưng lãnh chúa Daa nào chịu làm thế. 'Sau mùa đông sẽ là mùa xuân,' ông nói, 'sau cơ cực sẽ là thời vận tốt. Chúng ta không được đánh mất sự kiên nhẫn, chúng ta phải học cách chờ đợi. Giờ đây khi ngựa và đất đai của ta đều đã bị thế chấp, quả thực là thời khắc nguy khốn; nhưng vàng rồi sẽ đến—vào dịp Lễ Phục Sinh.'
"Ta nghe thấy ông lẩm bẩm như vậy; ông đang nhìn chằm chằm vào một mạng nhện, rồi tiếp tục nói: 'Hỡi kẻ dệt vải nhỏ bé xảo quyệt, ngươi đang dạy cho ta sự kiên nhẫn. Bất cứ ai xé rách mạng nhện của ngươi, ngươi cũng sẽ bắt đầu lại từ đầu và vá víu nó. Dẫu nó bị phá hủy hoàn toàn, ngươi vẫn kiên định bắt tay dệt chiếc khác cho đến khi hoàn thành. Chúng ta cũng phải hành xử như vậy, nếu muốn đạt được thành công vào phút cuối.'
"Đó là buổi sáng ngày Lễ Phục Sinh. Tiếng chuông nhà thờ lân cận ngân vang, và mặt trời dường như cũng hân hoan rạng rỡ trên bầu trời. Chủ nhân lâu đài đã thức trắng đêm trong trạng thái kích động đến phát sốt, trải qua bao công đoạn đun nấu, chưng cất và pha chế. Ta nghe tiếng ông thở dài như một linh hồn đang tuyệt vọng; ta nghe tiếng ông cầu nguyện, và nhận ra cách ông kìm nén hơi thở của chính mình. Chiếc đèn dầu cạn sạch và tắt ngấm, nhưng ông chẳng hề hay biết. Ta thổi bùng ngọn lửa trong đống than hồng trên lò sưởi, và nó hắt ánh sáng đỏ rực lên khuôn mặt trắng bệch như tử thi của ông, thắp sáng nó bằng một thứ ánh sáng chói lọi, trong khi đôi mắt trũng sâu nhìn trân trân đầy cuồng loạn từ những hốc mắt tối hoắm, có cảm tưởng như chúng sắp to lên và lồi hẳn ra ngoài tròng. 'Hãy nhìn chiếc bình luyện kim kìa,' ông thét lên; 'có cái gì đó đang bừng sáng trong chiếc vạc, tinh khiết và nặng trĩu.' Ông nhấc nó lên bằng bàn tay run rẩy, cất giọng đầy kích động thốt lên: 'Vàng! Vàng!' Ông choáng váng đến mức hoa mắt chóng mặt, ta hoàn toàn có thể thổi ngã ông," Gió nói; "nhưng ta chỉ quạt cho đống than thêm hồng rực, rồi theo chân ông bước qua cánh cửa vào căn phòng nơi cô con gái đang co ro vì lạnh. Áo khoác của ông phủ đầy tro bụi, và tro bám đầy trong bộ râu cùng mái tóc rối bù. Ông đứng thẳng người, giơ cao chiếc bình mỏng manh chứa đựng báu vật đắt giá. 'Tìm thấy rồi! Tìm thấy rồi! Vàng! Vàng!' ông gào lên, lại giơ chiếc bình lên cao để nó lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời; thế nhưng bàn tay ông run rẩy, và chiếc bình luyện kim rơi tuột khỏi tay, vỡ tung tóe xuống sàn nhà với tiếng leng keng chát chúa. Bong bóng cuối cùng của niềm hạnh phúc đã vỡ tan tành trong tiếng rít và tiếng vù, và ta vội vã vút bay khỏi ngôi nhà của kẻ luyện vàng."
"Vào lúc muộn màng của mùa thu, khi những ngày ngắn ngủi và sương mù rắc những hạt nước lạnh buốt lên những chùm quả cùng cành cây trơ trụi, ta quay trở lại với tâm trạng phấn chấn, lao vút qua bầu trời, quét sạch không gian và bẻ gãy những cành khô—đó chắc chắn chẳng phải là việc gì to tát, dẫu vậy vẫn phải làm. Một cuộc 'dọn dẹp' khác đang diễn ra tại dinh cơ của Waldemar Daa trong lâu đài Borreby. Kẻ thù của ông, Owe Ramel ở Basnas, đang có mặt ở đó, với tờ khế ước thế chấp ngôi nhà cùng toàn bộ tài sản bên trong nằm gọn trong túi áo. Ta lùa qua những ô cửa sổ vỡ, đập thình thình vào những cánh cửa gỗ mục nở và huýt sáo qua những khe nứt kẽ hở, khiến cho ngài Owe Ramel chẳng lấy gì làm thoải mái khi ở lại đó. Ida và Anna Dorothea khóc nức nở, Joanna đứng đó, tái nhợt và kiêu hãnh, cắn chặt môi đến rớm máu; nhưng làm thế thì ích gì? Owe Ramel ban ơn cho Waldemar Daa quyền được ở lại ngôi nhà này cho đến hết đời. Chẳng một ai thèm cảm ơn lời đề nghị ấy, và ta nhìn thấy vị lão gia thất cơ lỡ vận ngẩng cao đầu, ngẩng phắt lên còn kiêu hãnh hơn bao giờ hết. Thế rồi ta lao thẳng vào ngôi nhà và hàng cây đoạn cổ thụ với một lực mạnh đến mức một trong những cành cây dày nhất, một cành đã mục ruỗng, bị gãy bẻo và rơi xuống ngay lối ra vào, nằm lì ở đó. Nó hoàn toàn có thể được dùng làm chổi nếu có ai đó muốn quét tus lại chốn này, và quả thực một cuộc tổng vệ sinh hoành tráng đã diễn ra; ta nghĩ thế nào cũng có chuyện đó. Thật khó cho bất kỳ ai có thể giữ được sự bình tĩnh trong một ngày như thế; thế nhưng những con người này sở hữu ý chí sắt đá, kiên cường không chịu khuất phục trước nghịch cảnh phũ phàng. Chẳng còn thứ gì họ có thể gọi là của riêng mình, ngoại trừ những bộ quần áo đang mặc trên người. Vâng, còn sót lại một thứ nữa, đó là chiếc bình luyện kim, một chiếc mới tinh vừa được mua gần đây, bên trong chứa đầy những gì vớt vát được từ lớp cặn của đống báu vật từng hứa hẹn biết bao điều lớn lao nhưng rốt cuộc lại nuốt lời. Waldemar Daa giấu chiếc bình vào ngực áo, tay chống gậy, vị lão gia từng giàu có bước cùng các con gái rời khỏi dinh cơ Borreby. Ta thổi luồng gió lạnh buốt lên đôi gò má đang bừng lên vì xúc động của ông, vuốt ve bộ râu bạc và mái tóc trắng dài, cất tiếng hát hết khả năng của mình: 'Vi vu, vi vu! Đi mất rồi! Đi mất rồi!' Ida bước bên cạnh ông lão, Anna Dorothea đi bên phía còn lại; Joanna ngoái đầu nhìn lại lúc rời khỏi cổng. Tại sao chứ? Vận may sẽ chẳng quay đầu chỉ vì nàng ngoái lại. Nàng nhìn vào những viên gạch trên tường từng là một phần lâu đài của Marck Stig, và có lẽ nàng đang nghĩ về các cô con gái của ông cùng khúc ca xưa,—
Kẻ cả và người út, tay trong tay,
Đơn độc bước đi tới phương trời dài.
Đó chỉ là hai người; còn ở đây có tận ba, và cả người cha đi cùng họ nữa. Họ bước đi dọc theo con đường lớn, nơi xưa kia họ từng lướt đi trên cỗ xe ngựa lộng lẫy; họ ra đi cùng cha mình như những kẻ hành khất. Họ tha thẩn băng qua cánh đồng hoang đến một túp lều tranh vách đất, thứ mà họ thuê với giá một đồng rưởi mỗi năm, một tổ ấm mới với những bức tường trơ trọi và cái chạn trống không. Quạ và ác là bay lượn xung quanh họ, cất tiếng kêu như đang nhạo báng: 'Quác, quác, bị đuổi khỏi tổ rồi—quác, quác,' hệt như chúng từng làm trong khu rừng ở Borreby khi những cội cây bị đốn hạ. Daa và các con gái không tài nào tránh khỏi việc phải nghe thấy tiếng kêu ấy, thế nên ta liền thổi lốc bốc quanh tai họ để át đi thứ âm thanh đó; lắng nghe chúng thì có ích gì cơ chứ? Thế là họ dọn đến sống trong túp lều tranh giữa cánh đồng hoang, còn ta lang thang bay đi, vượt qua đầm lầy và thảo nguyên, qua những bụi cây trơ trọi và khu rừng không lá, hướng thẳng ra biển lớn, tới những bãi bờ bao la ở những xứ sở khác, 'Vi vu, vi vu! Đi thôi, đi thôi!' qua năm tháng dài đằng đẵng."
Và chuyện gì đã xảy ra với Waldemar Daa và các con gái của ông? Lắng nghe đây, Gió sẽ kể cho chúng ta nghe:
"Hình ảnh cuối cùng của họ mà ta nhìn thấy chính là đóa lan dạ hương nhợt nhạt, Anna Dorothea. Lúc ấy nàng đã già nua và còng c lưng; bởi năm mươi năm đã trôi qua và nàng đã sống thọ hơn tất cả mọi người. Nàng có thể thuật lại câu chuyện ấy. Đằng kia, trên vùng hoang mạc, gần thị trấn Wiborg ở Jutland, tọa lạc ngôi nhà mới tươm tất của vị kinh sĩ. Nó được xây bằng gạch đỏ với những chiếc đầu hồi nhô ra. Nơi đó có người ở, bởi làn khói trắng dày đặc đang tỏa ra từ các ống khói. Phu nhân hiền hậu của vị kinh sĩ cùng những cô con gái xinh đẹp ngồi bên ô cửa sổ lồi, phóng tầm mắt qua hàng rào táo gai của khu vườn nhìn ra vùng hoang mạc nâu sẫm. Họ đang ngắm cái gì vậy? Ánh mắt họ rơi vào một cái tổ cò, được dựng trên một túp lều cũ kỹ đã đổ nát. Mái nhà, nếu như còn gọi là mái, đã bị phủ kín bởi rêu phong và địa y. Chiếc tổ cò chiếm phần lớn diện tích mái nhà, và chỉ có duy nhất chiếc tổ ấy là còn ở trong tình trạng tốt; bởi nó được chính con cò chăm chút giữ gìn ngăn nắp. Đó là một ngôi nhà đáng để ngắm nhìn, chứ không thể chạm vào," Gió nói. "Nhờ có chiếc tổ cò mà nó được phép tồn tại, dẫu cho nó là một vết nhơ giữa cảnh quan thiên nhiên. Người ta không nỡ xua đuổi con cò đi; thế nên cái lúp súp cũ kỹ ấy vẫn được giữ lại, và người phụ nữ tội nghiệp sống trong đó được phép ở lại. Nàng phải cảm ơn loài chim Ai Cập ấy vì điều đó; hay có chăng đó chính là phần thưởng dành cho nàng vì thuở bé từng cất lời khẩn khoản xin tha mạng cho chiếc tổ của người anh em cò đen trong khu rừng ở Borreby? Vào thời điểm ấy, nàng—người đàn bà khốn khổ nay—vốn là một đứa trẻ, một đóa lan dạ hương trắng trong một khu vườn giàu sang. Nàng nhớ rất rõ khoảng thời gian đó; bởi đó chính là Anna Dorothea."
"'Ôi, ôi,' nàng thở dài; bởi con người ta có thể thở dài hệt như tiếng gió rên rỉ giữa đám sậy và lau lách. 'Ôi, ôi,' nàng thường thốt lên, 'chẳng có tiếng chuông nào vang lên trong tang lễ của cha, hỡi Waldemar Daa. Đám học trò nghèo thậm chí chẳng buồn cất lên một bài thánh ca khi cựu lãnh chúa của Borreby được hạ huyệt nằm xuống lòng đất mẹ. Ôi, vạn vật rồi cũng phải có hồi kết, ngay cả nỗi thống khổ. Chị Ida đã trở thành vợ của một gã nông phu; đó là thử thách cay đắng nhất giáng xuống cha chúng ta, khi chồng của con gái ruột ông lại là một kẻ nông nô khốn nạn, kẻ mà chủ nhân có thể đem ra trừng phạt trên con ngựa gỗ. Ta đoán giờ này hắn cũng đã nằm sâu dưới cỏ rồi; và Ida—ôi, hỡi ôi! Vẫn chưa chấm dứt đâu, ta mới khốn khổ làm sao! Hỡi Thiên đàng nhân từ, xin hãy rủ lòng thương cho con được chết.'"
"Đó chính là lời cầu nguyện của Anna Dorothea trong túp lều tồi tàn được giữ lại vì chiếc tổ cò. Ta đã rủ lòng thương xót người kiêu hãnh nhất trong số các chị em," Gió nói. "Sũng khí của nàng mạnh mẽ hệt như nam nhân; và trong bộ dạng trang phục của đàn ông, nàng làm thủy thủ phục vụ trên tàu. Nàng ít nói, sở hữu gương mặt sạm đen; nhưng nàng lại không biết cách leo trèo, thế nên ta đã thổi nàng rơiỏm xuống biển khơi trước khi bất kỳ ai phát hiện ra nàng là phụ nữ; và theo quan điểm của ta, việc đó được làm rất tốt," Gió nói.
Vào một buổi sáng Lễ Phục Sinh tương tự như ngày mà Waldemar Daa từng tưởng rằng mình đã khám phá ra nghệ thuật luyện vàng, ta nghe văng vẳng giai điệu của một bài thánh ca cất lên dưới chiếc tổ cò và bên trong những bức tường đang mục nát. Đó là khúc ca cuối cùng của Anna Dorothea. Trong lều chẳng có cửa sổ, chỉ có một lỗ thủng trên tường; và mặt trời mọc lên như một quả cầu bằng vàng đánh bóng, rọi chiếu vào bên trong. Ánh nắng rực rỡ biết bao đã lấp đầy chốn ngụ cư ảm đạm ấy! Đôi mắt nàng đã mờ đục, và trái tim đang tan vỡ; nhưng mọi chuyện rồi cũng sẽ diễn ra như thế, dẫu cho sáng hôm ấy mặt trời có không chiếu rọi lên Anna Dorothea đi chăng nữa. Chiếc tổ cò đã đảm bảo cho nàng một mái ấm cho đến tận cuối đời. Ta hát vang trên nấm mồ của nàng; ta hát trên mộ của cha nàng. Ta biết nơi nó nằm, và cả nơi chôn cất của nàng nữa, nhưng chẳng một ai khác tường tận điều ấy ngoài ta."
"Thời đại mới đã sang; vạn vật đều đổi thay. Con đường cái quan cũ đã chìm khuất giữa những cánh đồng canh tác; con đường mới nay uốn lượn vắt qua những ngôi mộ bị vùi lấp; và chẳng mấy chốc nữa tàu hỏa sẽ đến, kéo theo đoàn toa xe, lao vút qua những nấm mồ nơi an nghỉ của những kẻ mà tên tuổi đã trôi vào quên lãng. Mọi thứ đều qua đi, qua đi!"
"Đây chính là câu chuyện về Waldemar Daa và các con gái của ông. Bất kỳ ai trong số các ngươi, nếu biết cách, hãy kể nó hay hơn đi," Gió nói, đoạn vút bay đi và mất hút.