Kẻ hề. . . Ấy là ở quán Bunch of Grapes, nơi ngài rất thích ngồi đó chứ, phải không ạ?
Froth. Vâng, đúng vậy: vì đó là căn phòng thoáng đãng, lại rất hợp vào mùa đông.
Kẻ hề. Thế thì hay lắm: hy vọng ở đây đều là những lời chân thật.
—Measure for Measure.
Năm ngày sau cái chết của Raffles, ông Bambridge đang thảnh thơi đứng dưới vòm cổng lớn dẫn vào sân quán Green Dragon. Ông vốn không thích sự suy ngẫm cô độc, nhưng vì vừa mới bước ra từ trong nhà, nên bất kỳ bóng người nào đứng thong thả dưới vòm cổng vào đầu giờ chiều ấy cũng chắc chắn thu hút sự bầu bạn chẳng khác nào chú chim bồ câu vừa tìm thấy thứ gì đó đáng mổ ăn. Trong trường hợp này, chẳng có vật chất nào để bón mọt, nhưng con mắt lý trí lại nhìn thấy khả năng có được nguồn dưỡng chất tinh thần dưới hình thức những câu chuyện phiếm. Ông Hopkins, người thợ may có cung cách nhã nhặn ở đối diện, là người đầu tiên hành động theo vi giác nội tâm ấy, bởi ông ta rất khao khát được trò chuyện đôi điều nam nhi khi mà khách hàng của ông phần lớn là phụ nữ. Ông Bambridge tỏ ra khá cộc cằn với người thợ may, cảm thấy rằng Hopkins tất nhiên là rất mừng được nói chuyện với mình, nhưng bản thân ông ta thì không định phung phí quá nhiều lời lẽ cho Hopkins. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, đã có một nhúm nhỏ những thính giả quan trọng hơn xuất hiện – họ hoặc là những kẻ qua đường tạt lại, hoặc là dạo bước đến tận nơi này chỉ để xem ở quán Green Dragon có chuyện gì đang diễn ra; và ông Bambridge thấy rằng việc ba hoa những điều ấn tượng về những con tuấn mã tuyệt đẹp mà ông từng thấy cùng những món hàng ông đã mua trong chuyến đi miền bắc vừa trở về là hoàn toàn bõ công. Các quý ông có mặt được đảm bảo rằng, khi nào họ có thể trưng ra cho ông thấy một con ngựa cái dòng máu thuần chủng vượt trội, một con ngựa tía, tròn bốn tuổi, hiện đang ở Doncaster nếu họ muốn đi mà ngắm nghía nó, ông Bambridge sẽ làm vừa lòng họ bằng cách chịu bắn “từ đây cho đến Hereford.” Thêm vào đó, một cặp ngựa ô mà ông chuẩn bị kéo xe bưu điện đã gợi nhắc sống động trong tâm trí ông về cặp ngựa mà ông từng bán cho Faulkner vào năm ’19, với giá một trăm ghine, để rồi hai tháng sau Faulkner bán lại với giá một trăm sáu mươi — bất kỳ vị quý ông nào dám phủ nhận lời này đều sẽ được ban cho đặc quyền gọi ông Bambridge bằng một cái tên cực kỳ khó nghe cho đến khi cái sự thực hiện ấy làm khô cả cổ họng.
Khi cuộc trò chuyện đang ở cao trào náo nhiệt ấy, ông Frank Hawley bước tới. Ông không phải là kẻ làm tổn hại phẩm giá của mình bằng cách la cà tại quán Green Dragon, nhưng nhân tiện đi ngang qua phố High Street và nhìn thấy Bambridge ở bên kia đường, ông liền sải những bước dài sang để hỏi gã buôn ngựa xem liệu gã đã tìm được con ngựa kéo xe hạng nhất mà ông từng thuê gã tìm kiếm chưa. Ông Hawley được đề nghị hãy chờ cho đến khi được mục sở thị một con ngựa xám đã được chọn ở Bilkley: nếu con đó không vừa ý ông đến từng sợi lông, thì Bambridge quả là không biết nhìn ngựa, điều mà xem ra là chuyện khó xảy ra nhất trên đời. Ông Hawley, đứng quay lưng về phía đường phố, đang ấn định thời gian để đi xem con ngựa xám và thử tài của nó, thì có một người cưỡi ngựa thong thả đi qua.
“Bulstrode!” hai hay ba giọng đồng thanh cất lên nhỏ nhẹ, trong đó có giọng của người thợ may lịch sự thêm chữ “Ông” vào trước; nhưng chẳng ai có ý niệm gì sâu xa trong việc gọi tên buột miệng ấy hơn là khi họ thốt lên “xe khách Riverston” lúc chiếc xe đó xuất hiện đằng xa. Ông Hawley liếc qua một cách thờ ơ về phía tấm lưng của Bulstrode, nhưng khi ánh mắt Bambridge dõi theo thì hắn lại nhếch mép cười mỉa mai.
“Nhân quả thật! điều đó làm tôi nhớ lại,” hắn bắt đầu, hạ giọng xuống đôi chút, “tôi vớ được một thứ khác ở Bilkley ngoài con ngựa kéo xe của ông đấy, ông Hawley ạ. Tôi vớ được một câu chuyện hay ho về lão Bulstrode. Các người có biết lão ta phất lên bằng cách nào không? Vị quý ông nào muốn chút thông tin tò mò thú vị, tôi xin hiến tặng hoàn toàn miễn phí. Nếu ai nấy đều nhận được trừng phạt xứng đáng, thì lão Bulstrode có lẽ đã phải đọc kinh cầu nguyện ở tận Botany Bay rồi ấy chứ.”
“Ý anh là sao?” ông Hawley nói, đút tay vào túi quần và nhích người tiến lên một chút dưới vòm cổng. Nếu Bulstrode hóa ra lại là một tên bịp bợm, thì quả là Frank Hawley có một trực giác tiên tri.
“Tôi nghe được từ một kẻ vốn là chiến hữu cũ của Bulstrode. Để tôi kể cho các ông nghe nơi tôi chộp được hắn lần đầu,” Bambridge nói với cái hất ngón trỏ bất chợt. “Hắn có mặt ở buổi bán đấu giá của Larcher, nhưng lúc đó tôi chẳng biết gì về hắn — hắn tuột khỏi tay tôi — chắc chắn là đang săn đuổi Bulstrode rồi. Hắn bảo với tôi rằng hắn nắm thóp được Bulstrode bao nhiêu tiền cũng có, biết rõ mọi bí mật của lão ta. Thế nhưng, hắn lại lỡ lời với tôi ở Bilkley: hắn nốc những ly rượu mạnh. Mẹ kiếp, tôi không nghĩ hắn định làm nhân chứng cho nhà vua đâu; nhưng hắn là cái loại khoác lác ấy mà, thói ba hoa tuôn trào qua cả bờ rào mương rãnh cho đến khi hắn có thể khoe khoang về một tật sưng khớp của ngựa cứ như thể nó đổi ra được tiền vậy. Con người ta phải biết lúc nào nên dừng lại chứ.” Ông Bambridge thốt lên lời nhận xét này với vẻ ghê tởm, hoàn toàn mãn nguyện rằng thói khoác lác của chính mình lại thể hiện một óc thực tế thương mại vô cùng tinh tế.
“Tên gã đó là gì? Có thể tìm thấy hắn ở đâu?” ông Hawley hỏi.
“Còn về việc tìm hắn ở đâu, tôi để mặc hắn ở quán Saracen’s Head rồi; nhưng tên hắn là Raffles.”
“Raffles!” ông Hopkins thốt lên. “Tôi vừa mới lo tang lễ cho hắn ngày hôm qua. Hắn được chôn cất ở Lowick. Ông Bulstrode đã đi theo đưa tang. Một đám tang rất đàng hoàng.” Có một sự chấn động mạnh mẽ lan truyền giữa những thính giả. Ông Bambridge buột miệng thốt ra một câu trong đó từ “diêm sinh” là từ nhẹ nhàng nhất, và ông Hawley, nhíu mày cúi gằm đầu xuống, kêu lên: “Sao cơ?—gã đó chết ở đâu?”
“Ở Stone Court,” người thợ may đáp. “Bà quản gia nói hắn là họ hàng của ông chủ. Hắn đến đó trong cơn bệnh vào hôm thứ Sáu.”
“Ơ hay, chính vào hôm thứ Tư tôi còn cạn ly với hắn mà,” Bambridge đan xen vào.
“Có vị bác sĩ nào chữa trị cho hắn không?” ông Hawley hỏi.
“Có chứ. Bác sĩ Lydgate. Ông Bulstrode đã thức canh bên giường bệnh của hắn một đêm. Hắn chết vào sáng hôm thứ ba.”
“Nói tiếp đi, Bambridge,” ông Hawley giục giã nói. “Gã đó đã nói gì về Bulstrode?”
Đám đông đã trở nên đông đúc hơn, sự hiện diện của viên thư ký thị trấn chính là sự bảo đảm rằng có điều đáng nghe đang diễn ra ở đó; và ông Bambridge liền kể lại câu chuyện của mình cho bảy người cùng nghe. Đó chủ yếu là những gì chúng ta đã biết, bao gồm cả sự thật về Will Ladislaw, kèm theo một số nét màu sắc và chi tiết địa phương được thêm thắt vào: đó chính là điều mà Bulstrode hằng kinh hoàng sợ bị phơi bày — và hy vọng có thể chôn vùi vĩnh viễn theo thi hài của Raffles — đó chính là hồn ma ám ảnh về cuộc đời thuở trước của lão mà khi cưỡi ngựa đi ngang qua vòm cổng quán Green Dragon, lão vẫn hằng đinh ninh rằng ơn trên đã giải thoát cho lão. Vâng, ơn trên. Lão vẫn chưa tự thú nhận với chính mình rằng lão đã nhúng tay vào việc sắp đặt để đạt được kết quả này; lão đã đón nhận những gì tưởng như đã được ban tặng. Thật không thể chứng minh được rằng lão đã làm bất kỳ điều gì đẩy nhanh sự ra đi của linh hồn kẻ đó.
Thế nhưng câu chuyện phiếm về Bulstrode này đã lan truyền khắp Middlemarch tựa như mùi khói lửa. Ông Frank Hawley tiếp nối thông tin bằng cách phái một tay thư ký mà ông tin tưởng đến Stone Court với cái cớ hỏi mua rơm, nhưng thực chất là để thu thập mọi điều có thể tìm hiểu về Raffles cùng căn bệnh của hắn từ bà Abel. Bằng cách này, ông hay tin rằng chính ông Garth đã chở người đàn ông đó đến Stone Court trên chiếc xe ngựa của mình; và hậu quả là ông Hawley đã nhân cơ hội tìm gặp Caleb, ghé qua văn phòng của ông để hỏi xem liệu ông có thời gian nhận lời làm trọng tài nếu cần thiết hay không, rồi tiện thể hỏi thăm về Raffles. Caleb không hề lỡ lời nào tổn hại đến Bulstrode ngoài sự thật mà ông buộc phải thừa nhận, rằng ông đã thôi việc làm thuê cho lão trong tuần vừa qua. Ông Hawley tự suy diễn ra mọi chuyện, và vì đinh ninh rằng Raffles đã kể câu chuyện của mình cho Garth, và Garth vì thế mà từ bỏ công việc của Bulstrode, ông liền bô bô điều đó vài giờ sau với ông Toller. Câu chuyện cứ thế được chuyền đi cho đến khi hoàn toàn mất đi cái mác suy đoán, và được coi như thông tin xuất phát thẳng từ Garth, đến nỗi ngay cả một nhà sử học chăm chỉ cũng có thể kết luận Caleb chính là kẻ tung hê những hành vi sai trái của Bulstrode ra ánh sáng.
Ông Hawley không chậm nhận ra rằng chẳng có căn cứ pháp lý nào trong những tiết lộ của Raffles cũng như trong các tình tiết cái chết của hắn. Chính ông đã cưỡi ngựa đến tận làng Lowick để xem sổ bộ và bàn bạc toàn bộ sự việc với ông Farebrother, vị mục sư chẳng hề ngạc nhiên hơn viên luật sư trước việc một bí mật xấu xí bị phơi bày về Bulstrode, dù ông vẫn luôn giữ được sự công tâm để ngăn không cho ác cảm của mình biến thành những lời phán xét cuối cùng. Thế nhưng trong lúc họ đang trò chuyện, một sự liên kết khác lại âm thầm hình thành trong tâm trí ông Farebrother, dự báo trước điều chẳng mấy chốc sẽ được bàn tán rôm rả khắp Middlemarch như một sự “ghép nối hai với hai” tất yếu. Cùng với những lý do khiến Bulstrode khiếp sợ Raffles, trong đầu ông lóe lên ý nghĩ rằng nỗi sợ ấy có lẽ dính líu đến sự hào phóng của lão đối với vị bác sĩ của mình; và dẫu ông chống lại gợi ý rằng điều đó đã được đón nhận một cách có ý thức dưới bất kỳ hình thức hối lộ nào, ông vẫn có linh cảm rằng mối phức hợp sự việc này có thể gây ra tác động độc hại cho danh tiếng của Lydgate. Ông nhận ra rằng hiện tại ông Hawley hoàn toàn không biết gì về khoản tiền giải tỏa nợ nần bất ngờ kia, và bản thân ông cũng cẩn trọng lảng tránh mọi lối tiếp cận liên quan đến chủ đề ấy.
“Ừm,” ông cất một tiếng thở dài, muốn chấm dứt cuộc bàn luận vô tận về những chuyện vốn dĩ đã có thể xảy ra, dẫu chẳng có gì chứng minh được về mặt pháp lý, “đúng là một câu chuyện kỳ lạ. Thế ra cậu Ladislaw thất thường nhà ta lại có một tấm gia phả oái oăm thế đấy! Một vị tiểu thư hào hiệp và một nhà ái quốc âm nhạc người Ba Lan tạo thành cội nguồn hợp lý cho cậu ta sinh ra, nhưng tôi chưa bao giờ ngờ lại có thêm sự lai giống của một tên cầm đồ Do Thái cả. Tuy nhiên, chẳng thể biết trước sự pha trộn sẽ cho ra kết quả gì đâu. Vài loại cặn bã đôi khi lại có công dụng làm trong sạch nước đấy chứ.”
“Đúng y như những gì tôi đoán trước,” ông Hawley nói, trèo lên lưng ngựa. “Bất kỳ dòng máu ngoại tộc chết tiệt nào, Do Thái, Xéc-ni hay Digan.”
“Tôi biết cậu ta là con cừu đen trong mắt anh mà, Hawley. Nhưng cậu ta thực sự là một kẻ vô tư, không màng danh lợi đấy chứ,” ông Farebrother mỉm cười nói.
“Phải, phải, đó chính là cái thói xoay chuyển theo kiểu Whig của anh rồi,” ông Hawley nói, người vốn có thói quen thanh minh rằng Farebrother là một kẻ dễ mến tốt bụng đến mức chết tiệt khiến người ta dễ nhầm tưởng ông là phe Tory.
Ông Hawley phóng ngựa về nhà mà chẳng mảy may nghĩ về việc Lydgate chăm sóc Raffles dưới góc độ nào khác ngoài vai trò là một bằng chứng có lợi cho Bulstrode. Thế nhưng tin tức về việc Lydgate bỗng nhiên vừa có khả năng tháo gỡ lệnh phong tỏa tài sản trong nhà vừa trả hết mọi khoản nợ ở Middlemarch lại đang lan truyền chóng mặt, cuốn theo vô số những lời phỏng đoán và bình phẩm làm cho nó thêm phần da thịt và xung lực, chẳng mấy chốc đã rót đầy tai những kẻ khác ngoài ông Hawley, những kẻ vốn không chậm chạp gì trong việc nhận ra mối liên hệ đầy ngụ ý giữa khoản tiền đến tay bất ngờ này với mong muốn bịt miệng vụ bê bối của Raffles ở Bulstrode. Việc số tiền đó xuất phát từ Bulstrode chắc chắn sẽ được đoán trúng phóc dẫu cho chẳng có bằng chứng trực tiếp nào đi nữa; bởi vì nó đã sớm lọt vào các câu chuyện phiếm về tình trạng tài chính của Lydgate từ trước, rằng cả cha vợ lẫn gia đình anh đều chẳng chịu nhúng tay giúp đỡ, và bằng chứng trực tiếp được cung cấp không chỉ bởi một nhân viên ngân hàng, mà còn bởi chính bà Bulstrode ngây thơ, người đã nhắc đến khoản vay ấy với bà Plymdale, để rồi bà này lại kể cho con dâu của dòng họ Toller, rồi cứ thế lan truyền ra khắp nơi. Vụ việc được cảm nhận là công khai và quan trọng đến mức nó đòi hỏi phải có những buổi tiệc tùng để bồi dưỡng cho câu chuyện, thế là rất nhiều lời mời đã được phát ra và đón nhận nồng nhiệt dựa trên sức hút của vụ bê bối liên quan đến Bulstrode và Lydgate; những người vợ, các bà góa phụ và phụ nữ độc thân mang theo đồ thêu thùa ra ngoài uống trà thường xuyên hơn mọi khi; và mọi cuộc vui chơi cộng đồng, từ Green Dragon cho đến quán Dollop, đều thu hút một thứ hương vị kích thích chẳng thể nào tìm thấy nổi ở câu hỏi liệu Viện Quý tộc có bác bỏ Dự luật Cải cách hay không.
Bởi vì hầu như chẳng ai nghi ngờ gì việc có một lý do bê bối nào đó ẩn giấu đằng sau sự hào phóng của Bulstrode dành cho Lydgate. Quả thực, ban đầu ông Hawley đã mời một nhóm nhỏ chọn lọc, bao gồm hai vị bác sĩ cùng ông Toller và ông Wrench, với mục đích rõ ràng là mở một cuộc tranh luận thật cặn kẽ về những khả năng liên quan đến căn bệnh của Raffles, tường thuật lại cho họ mọi chi tiết thu thập được từ bà Abel gắn liền với chứng nhận của Lydgate rằng cái chết là do chứng sảng rượu; và các vị bác sĩ, những kẻ đều đứng vững một cách bình thản trên lối mòn xưa cũ đối với căn bệnh này, đã tuyên bố rằng họ chẳng thể nhìn thấy điểm nào trong các chi tiết ấy có thể biến đổi thành căn cứ nghi ngờ xác đáng. Thế nhưng những căn cứ đạo đức của nghi ngờ vẫn còn đó: những động cơ mạnh mẽ mà Bulstrode rõ ràng đang có để muốn tống khứ Raffles, cùng thực tế là vào thời điểm nguy cấp này, lão đã trao cho Lydgate sự giúp đỡ mà hẳn lão đã biết anh đang khao khát từ lâu; hơn nữa, xu hướng tin rằng Bulstrode là kẻ vô lương tâm, cùng sự thiếu vắng bất kỳ sự chần chừ nào khi tin rằng Lydgate cũng có thể dễ dàng bị mua chuộc như những kẻ kiêu ngạo khác khi rơi vào cảnh túng tiền. Ngay cả khi khoản tiền được trao chỉ để bắt anh phải ngậm tăm về vụ bê bối trong quá khứ của Bulstrode, thì sự thật ấy vẫn hắt một thứ ánh sáng gớm ghiếc lên Lydgate, kẻ từ lâu đã bị chế giễu là xu nịnh viên chủ ngân hàng để ngoi lên vị trí thống trị và hạ bệ các bậc đàn anh trong nghề. Do đó, bất chấp sự phủ nhận về bất kỳ dấu hiệu tội lỗi trực tiếp nào liên quan đến cái chết tại Stone Court, buổi tiệc chọn lọc của ông Hawley vẫn tan rã với cảm giác rằng vụ việc này “mang một vẻ ngoài gớm ghiếc.”
Thế nhưng niềm xác tín mơ hồ về tội lỗi không thể định hình ấy, vốn đủ để duy trì vô số cái lắc đầu và những câu nói mỉa mai cay độc ngay cả giữa những bậc trưởng bối hành nghề đáng kính, lại mang đến cho tâm thức đại chúng toàn bộ sức mạnh tối thượng của sự huyền bí hơn là sự thật. Ai ai cũng thích phỏng đoán mọi chuyện diễn ra thế nào hơn là chỉ đơn thuần biết rõ về nó; bởi vì sự phỏng đoán chẳng mấy chốc đã trở nên tự tin hơn cả tri thức, và có thái độ dung túng phóng khoáng hơn đối với những điều bất dung. Ngay cả câu chuyện bê bối rõ ràng hơn về cuộc đời thuở trước của Bulstrode cũng, đối với một số tâm trí, bị tan chảy vào khối hỗn độn huyền bí ấy, tựa như thứ kim loại sống động được rót vào các cuộc đối thoại, để rồi uốn lượn thành những hình thù quái đản tùy theo ý trời.
Đó là âm hưởng tư duy được chủ yếu tán thành bởi bà Dollop, người nữ chủ quán đầy khí thế của tiệm Tankard ở ngõ Slaughter Lane, kẻ thường xuyên phải chống lại thứ chủ nghĩa thực dụng nông cạn của những khách hàng có xu hướng cho rằng các bản tin từ thế giới bên ngoài của họ có trọng lượng ngang ngửa với những gì đã “nổi lên” trong tâm trí bà. Nó đã đến với bà bằng cách nào thì bà chẳng hề hay biết, nhưng nó cứ chình ình ở đó trước mặt bà tựa như được “vạch bằng phấn trên tấm bảng lò sưởi —” như cách mà Bulstrode sẽ phải thốt lên rằng, “nội tạng của lão ta đen đúa đến mức nếu những sợi tóc trên đầu lão mà biết được suy nghĩ trong tim lão, chúng chắc chắn đã tự nhổ bật gốc lên rồi.”
“Lạ thật nhỉ,” ông Limp, một thợ giày trầm ngâm có đôi mắt kèm nhèm và giọng nói lanh lảnh, lên tiếng. “Chính tai tôi đọc trên tờ ‘Trumpet’ thấy rằng đó là câu mà Công tước xứ Wellington đã thốt lên khi lão ta trở mặt và gia nhập phe La Mã.”
“Rất có thể lắm chứ,” bà Dollop đáp. “Nếu một tên khốn đã thốt ra câu ấy, thì lại càng có lý do để kẻ khác lặp lại. Thế nhưng dù cho là kẻ đạo đức giả và ôm giang sơn trùm sò đến mức chẳng có vị mục sư nào trong vùng đủ tư cách lọt mắt xanh lão, thì lão cuối cùng vẫn buộc phải rước quỷ Satan vào bàn bạc mà thôi, để rồi quỷ Satan lại chơi khăm lão một vố đau đớn.”
“Phải, phải, hắn là một kẻ tòng phạm mà anh chẳng thể nào tống cổ ra khỏi đất nước nổi đâu,” ông Crabbe, thợ cắt kính, người thu lượm rất nhiều tin tức và lần mò trong đó một cách mơ hồ, chen vào. “Nhưng theo những gì tôi gom góp được, có kẻ còn bảo rằng Bulstrode đã chuẩn bị chuồn lẹ vì sợ bị lật tẩy từ đời nào rồi cơ.”
“Rồi thế nào lão cũng bị đuổi cổ đi thôi, dù muốn hay không,” ông Dill, người thợ cạo vừa mới ghé vào, nói. “Sáng nay tôi vừa cạo râu cho Fletcher, tên thư ký của ông Hawley — ngón tay hắn đang bị thương nặng — và hắn bảo rằng tất cả mọi người đều đồng lòng tống cổ Bulstrode đi cho khuất mắt. Mục sư Thesiger đã quay lưng lại với giáo đoàn của lão và muốn lão cút khỏi giáo xứ này. Thậm chí có những quý nhân trong thị trấn này tuyên bố rằng họ thà ngồi ăn tối với một tên tù vượt ngục còn hơn. ‘Và tôi thà làm thế gấp vạn lần,’ Fletcher nói; ‘bởi vì còn gì làm người ta lộn mửa hơn là một kẻ cứ lê la đến chuốc lấy sự khó chịu với cái vỏ bọc tôn giáo của hắn, lớn mác rêu rao rằng Mười Điều Răn vẫn chưa đủ với hắn, trong khi thực chất hắn còn đồi bại hơn phân nửa số tù nhân ở cái cối xay lao động chứ?’ Chính miệng Fletcher đã nói thế đấy.”
“Thế nhưng sẽ là một điều tồi tệ cho thị trấn nếu tiền của Bulstrode cứ thế bốc hơi khỏi đây,” ông Limp cất giọng run rẩy.
“A, có những kẻ đàng hoàng hơn đang vứt tiền vào những chỗ tồi tệ hơn nhiều,” một thợ nhuộm có giọng nói cứng rắn, với đôi bàn tay đỏ thẫm trông chẳng ăn nhập gì với khuôn mặt nhân hậu của ông, cất tiếng.
“Nhưng theo những gì tôi hiểu, lão ta sẽ chẳng giữ nổi tiền của mình đâu,” thợ cắt kính nói. “Chẳng lẽ họ không đồn rằng có kẻ nào đó có thể lột sạch sành sanh gia sản của lão hay sao? Theo chỗ tôi hiểu, họ có thể tước đoạt từng xu của lão nếu họ kiện tụng ra tòa.”
“Làm gì có chuyện đó!” người thợ cạo lên tiếng, cảm thấy bản thân mình có vẻ nhỉnh hơn đám đông tụ tập ở quán Dollop đôi chút, nhưng chẳng vì thế mà bớt khoái chí. “Fletcher bảo chẳng có chuyện đó đâu. Hắn nói họ có thể chứng minh đi chứng minh lại rằng cậu trẻ Ladislaw này là con của ai đi nữa thì cũng chẳng khác gì chứng minh tôi chui ra từ vùng đầm lầy Fens cả — hắn chẳng thể sờ soạng nổi đến một xu.”
“Nhìn lão ta kìa!” bà Dollop phẫn nộ thốt lên. “Tôi tạ ơn Chúa vì Ngài đã rước các con tôi về với Ngài, nếu đó là tất cả những gì luật pháp có thể làm cho một người mẹ góa bụa. Thế thì theo đó, bố mẹ anh là ai chẳng còn chút ý nghĩa gì sất. Nhưng mà đi nghe theo lời một gã luật sư mà chẳng thèm hỏi han gã khác — tôi thực sự kinh ngạc trước sự thông thái của ông đấy, ông Dill ạ. Ai mà chẳng thừa biết là sự việc nào cũng có hai mặt, nếu không muốn nói là nhiều hơn; bằng không thì ai thèm lết thết ra tòa kiện tụng làm gì, tôi đố ông đấy? Thật là một câu chuyện nực cười, với ngần ấy luật lệ nhan nhản khắp nơi, nếu việc chứng minh bạn là con ai chẳng mang lại tích sự gì. Fletcher thích nói gì thì mặc thây hắn, nhưng tôi xin tuyên bố, đừng có đem cái điệu bộ Fletcher ra mà lòe tôi!”
Ông Dill đành cười trừ một cách xã giao với bà Dollop, xem bà như một mụ đàn anh sắc sảo đủ sức đè bẹp cả giới luật sư; vốn dĩ ông ta đã quen chịu đựng vô số lời châm chọc từ một mụ chủ quán đang nắm giữ khoản nợ dài dặc của mình.
“Nếu họ lôi nhau ra tòa, và mọi chuyện đúng như lời đồn đại, thì còn khối thứ phải nhòm ngó chứ chẳng riêng gì tiền bạc đâu,” thợ cắt kính nói. “Còn có cả cái thân phận tội nghiệp đã khuất núi kia nữa chứ; theo những gì tôi thu lượm được, hắn đã từng trải qua những ngày tháng mà bản thân hắn còn là một quý ông lịch lãm gấp vạn lần lão Bulstrode ấy chứ.”
“Quý ông lịch lãm ư! Tôi dám cá là thế,” bà Dollop quả quyết; “và còn là một kẻ khôi ngô tuấn tú hơn nhiều, theo những gì tôi hóng được. Đúng như tôi từng nói khi ông Baldwin, nhân viên thu thuế, bước vào đây, đứng ngay đúng chỗ ông đang ngồi, và phán rằng, ‘Bulstrode vơ vét toàn bộ số tiền mang vào thị trấn này bằng nghề trộm cắp và lừa đảo,’ — tôi liền đáp ngay, ‘Ông chẳng làm tôi khôn ra tí nào đâu, ông Baldwin ạ: máu trong người tôi cứ rần rần mỗi khi nhìn ngó lão ta kể từ ngày lão bước chân vào ngõ Slaughter Lane này với mưu đồ mua đứt cái nhà trên đầu tôi: thiên hạ chẳng bao giờ có cái nước da nhợt nhạt như cục bột mì rồi cứ trợn trừng nhìn bạn cứ như thể muốn soi thấu tận xương sống nếu không có mưu đồ gì đâu.’ Chính miệng tôi đã nói thế đấy, và ông Baldwin hoàn toàn có thể làm chứng cho tôi.”
“Và nói rất có lý nữa là đằng khác,” ông Crabbe phụ họa. “Bởi vì theo những gì tôi nắm bắt được, cái gã Raffles này, đúng như tên gọi của hắn, là một gã đàn ông vạm vỡ, hồng hào đúng như những gì người ta hằng mong ước được chiêm ngưỡng, và là một tay bạn nhậu cự phách — dù rằng giờ đây hắn đang nằm chết cứng ở nghĩa trang làng Lowick; và theo những gì tôi hiểu, có những kẻ biết nhiều hơn mức họ nên biết về cách mà hắn đặt chân được xuống dưới đó đấy.”
“Tôi tin lời anh có mà bán nhà!” bà Dollop thốt lên với chút khinh miệt dành cho sự u mê thấy rõ của ông Crabbe. “Khi một gã đàn ông bị dụ dỗ đến một ngôi nhà hoang vắng, và lại có những kẻ sẵn sàng chi tiền cho bệnh viện cùng y tá suốt cả một vùng lân cận cứ khăng khăng đòi thức canh đêm canh ngày, chẳng có ai bén mảng đến ngoài một vị bác sĩ nổi tiếng là chẳng từ bất kỳ thủ đoạn nào, lại nghèo rớt mồng tơi đến mức chạy ăn từng bữa, thế mà sau đó lại bỗng dưng bạo tiền đến mức có thể trả sạch sành sanh khoản nợ kéo dài đằng đẵng cho lão thợ thịt Byles kể từ mùa lễ Mi-ken năm ngoái — tôi chẳng cần bất kỳ ai đến răn dạy mình rằng có điều gì khuất mủi đang diễn ra vượt ra ngoài cuốn Sách Cầu Nguyện đâu — tôi chẳng việc gì phải đứng đó mà chớp chớp nháy nháy rồi suy diễn vẩn vơ.”
Bà Dollop đảo mắt nhìn quanh với phong thái của một mụ chủ quán quen thói thống trị đám khách hàng. Lập tức có một dàn đồng ca tán thành từ những kẻ gan dạ hơn; thế nhưng ông Limp, sau khi nốc cạn một ngụm, liền áp hai bàn tay bẹt vào nhau rồi bấu chặt giữa hai đầu gối, đăm đăm nhìn xuống với vẻ chiêm nghiệm mờ đục, cứ như thể sức nóng hừng hực từ bài diễn văn của bà Dollop đã thiêu rụi và vô hiệu hóa hoàn toàn trí tuệ của ông ta cho đến khi chúng có thể được hồi phục nhờ chút chất lỏng nào đó.
“Sao họ không quật mã gã đó lên rồi nhờ quan Giảo nghiệm xử lý nhỉ?” người thợ nhuộm đề xuất. “Chuyện ấy đã diễn ra từ đời thuở nào rồi cơ mà. Nếu có vụ án mạng khuất tất thì họ thế nào cũng lòi ra được.”
“Làm thế quái nào được, ông Jonas!” bà Dollop quả quyết nói. “Tôi lạ gì lũ bác sĩ nữa. Chúng thừa ranh mãnh để không bao giờ bị tóm tẩy đâu. Còn cái gã bác sĩ Lydgate chuyên môn chém phanh thây mọi người khi hơi thở còn chưa kịp thoát hẳn khỏi lồng ngực này — rõ mười mươi ra đấy rồi, mục đích của hắn là gì khi cứ chực chờ dòm ngó vào nội tạng của những kẻ đáng kính cơ chứ. Lão ta rành mấy thứ thuốc men lắm, cứ tin tôi đi, loại thuốc mà các người chẳng thể ngửi hay nhìn thấy nổi, kể cả trước hay sau khi nuốt chúng vào bụng. Thậm chí chính mắt tôi đã từng thấy những giọt thuốc do bác sĩ Gambit kê đơn, người vốn là bác sĩ câu lạc bộ của chúng ta với nhân thân tốt lành, và từng đỡ đẻ cho biết bao đứa trẻ sống sót nhiều hơn bất kỳ ai ở Middlemarch — ý tôi là chính mắt tôi đã thấy những giọt thuốc chẳng tạo ra chút khác biệt nào dù nằm trong ly hay ngoài không khí, thế mà lại khiến người ta quằn quại đau đớn vào ngày hôm sau đấy thôi. Thế nên tôi cứ để chính sự khôn ngoan của các người mà phán xét. Đừng có mà lòe tôi! Tất cả những gì tôi muốn nói là, thật là một ơn phước lớn lao khi họ đã không rước cái gã bác sĩ Lydgate này vào câu lạc bộ của chúng ta. Chẳng biết bao nhiêu đứa con của những người mẹ nghèo suýt chút nữa đã phải ngậm đắng nuốt cay vì hắn rồi.”
Những luận điểm chính từ cuộc thảo luận ở quán “Dollop” đã trở thành đề tài đàm tiếu chung của mọi tầng lớp trong thị trấn, đã lan truyền đến tận nhà xứ Lowick ở hướng này và dinh thự Tipton Grange ở hướng kia, đã lọt trọn vào tai gia đình Vincy, và đã được bàn tán với thái độ xót xa dành cho “tội nghiệp Harriet” bởi tất cả những người bạn của bà Bulstrode, từ trước khi Lydgate kịp hiểu rõ vì sao mọi người lại nhìn anh bằng ánh mắt kỳ lạ, và trước khi chính bản thân Bulstrode kịp nghi ngờ về việc những bí mật của lão đã bị phản bội. Lão vốn chẳng quen với mối quan hệ nồng ấm nào lắm với những người láng hiểu xung quanh, và do đó lão chẳng mảy mai bỏ lỡ những dấu hiệu lạnh nhạt; hơn nữa, lão đang bận rộn thực hiện các chuyến hành trình cho nhiều công việc khác nhau, khi mà giờ đây lão đã hạ quyết tâm rằng mình không cần phải rời khỏi Middlemarch, và do đó cảm thấy có đủ khả năng để quyết định những vấn đề mà trước đó lão hãy còn để lơ lửng.
“Chúng ta sẽ thực hiện một chuyến đi đến Cheltenham trong vòng một tháng hoặc hơn thế,” lão từng nói với vợ mình. “Có rất nhiều phúc lợi tâm linh to lớn ở thị trấn đó bên cạnh bầu không khí trong lành cùng nguồn nước khoáng, và sáu tuần lưu trú ở đó sẽ vô cùng sảng khoái đối với chúng ta.”
Lão thực sự tin tưởng vào những phúc lợi tâm linh ấy, và ngầm nhủ rằng cuộc đời mình từ nay về sau sẽ càng thêm phần cung kính sùng đạo để bù đắp cho những tội lỗi muộn màng mà lão tự ngụy biện trong đầu như những giả thuyết, thành khẩn cầu nguyện cho sự tha thứ theo kiểu giả thuyết ấy:—“giả như tôi có lầm đường lạc lối trong chuyện này.”
Còn về phần Bệnh viện, lão tránh né việc bàn bạc thêm bất kỳ điều gì với Lydgate, vì sợ rằng việc biểu lộ sự thay đổi kế hoạch quá đột ngột ngay sau cái chết của Raffles sẽ bị chú ý. Trong tận đáy tâm hồn, lão đinh ninh rằng Lydgate nghi ngờ các mệnh lệnh của lão đã bị cố tình phớt lờ, và một khi đã nghi ngờ điều đó thì chắc chắn anh ta cũng sẽ hoài nghi về động cơ. Thế nhưng chẳng có điều gì bị phơi bày cho anh ta biết về lịch sử của Raffles, và Bulstrode rất đỗi lo lắng không muốn làm bất kỳ điều gì có thể tô đậm thêm những nghi ngờ mơ hồ ấy của anh. Về phần sự chắc chắn rằng một phương pháp điều trị cụ thể nào đó sẽ cứu sống hay đoạt mạng, chính Lydgate cũng liên tục tranh luận phản bác lại thứ giáo điều cứng nhắc đó; anh chẳng có quyền cất lời, và lại có thừa mọi động cơ để ngậm tăm. Do đó Bulstrode cảm thấy bản thân mình đã được ơn trên che chở vững vàng. Biến cố duy nhất khiến lão cảm thấy nhột nhác sâu sắc chính là những lần tình cờ chạm trán Caleb Garth, người tuy thế vẫn ngả mũ chào với vẻ nghiêm nghị nhã nhặn.
Trong khi đó, ở phía các bậc chức sắc trong thị trấn, một quyết tâm mạnh mẽ đang dần hình thành nhằm chống lại lão.
Một cuộc họp chuẩn bị diễn ra tại Tòa thị chính nhằm giải quyết vấn đề vệ sinh vốn đã trở nên cấp bách do sự xuất hiện của một ca bệnh tả trong thị trấn. Kể từ khi Đạo luật của Nghị viện được thông qua vội vã, cho phép thực hiện việc đánh thuế cho các biện pháp vệ sinh, một Ban giám sát các biện pháp đó đã được thành lập tại Middlemarch, và rất nhiều công tác dọn dẹp, chuẩn bị đã nhận được sự đồng thuận từ cả hai phe Whig lẫn Tory. Vấn đề hiện tại là liệu một mảnh đất ngoài thị trấn có nên được mua lại để làm nghĩa trang thông qua việc gây quỹ đóng góp hay bằng tiền quyên góp tư nhân hay không. Cuộc họp sẽ được mở rộng công khai, và hầu như mọi nhân vật quan trọng trong thị trấn đều được kỳ vọng sẽ có mặt ở đó.
Ông Bulstrode là thành viên của Ban giám sát, và ngay trước mười hai giờ, ông đã xuất phát từ Ngân hàng với ý định thúc đẩy kế hoạch quyên góp tư nhân. Dưới sự chần chừ trong các dự án của mình, ông đã giữ mình ở hậu phương một thời gian, và ông cảm thấy rằng vào sáng nay mình nên khôi phục lại vị thế cũ như một con người hành động và có tầm ảnh hưởng trong các công việc công cộng của thị trấn nơi ông dự định sẽ khép lại quãng đời còn lại của mình. Giữa bao người cùng di chuyển về một hướng, ông nhìn thấy Lydgate; họ nhập bọn, bàn thảo về mục đích của buổi họp, và cùng nhau bước vào trong.
Có vẻ như mọi nhân vật máu mặt đều có mặt sớm hơn họ. Thế nhưng vẫn còn vài chỗ trống gần phía đầu chiếc bàn trung tâm lớn, và họ liền len lỏi tiến về phía đó. Ông Farebrother ngồi ở phía đối diện, không xa vị trí của ông Hawley; tất cả các y bác sĩ đều có mặt; mục sư Thesiger ngồi ghế chủ tọa, và ông Brooke xứ Tipton ngồi bên tay phải ngài.
Lydgate nhận thấy sự trao đổi ánh mắt kỳ lạ khi anh và Bulstrode tìm chỗ ngồi.
Sau khi cuộc họp được khai mạc hoàn toàn bởi vị chủ tọa, người đã chỉ ra những lợi ích của việc mua bằng tiền quyên góp một mảnh đất đủ rộng để cuối cùng có thể sử dụng làm nghĩa trang chung, ông Bulstrode, với chất giọng hơi cao vút nhưng trầm lắng và lưu loát mà thị trấn đã quá quen thuộc trong các buổi họp thế này, liền đứng dậy và xin phép được phát biểu ý kiến. Lydgate lại một lần nữa chứng kiến màn trao đổi ánh mắt kỳ lạ trước khi ông Hawley vùng đứng dậy, cất giọng chắc nịch đầy vang dội: “Thưa ông Chủ tọa, tôi xin phép trước khi bất kỳ ai bày tỏ quan điểm về vấn đề này, tôi được phép lên tiếng về một câu hỏi liên quan đến tình cảm công chúng, điều mà không chỉ cá nhân tôi, mà cả nhiều quý vị có mặt ở đây, đều nhìn nhận là vấn đề tiên quyết.”
Phong cách diễn thuyết của ông Hawley, ngay cả khi phép lịch sự công cộng kìm nén “những ngôn từ đanh thép” của sự phẫn nộ, vẫn luôn gây gờm bởi sự cộc cằn và tự tin đến cùng cực. Mục sư Thesiger chuẩn y lời thỉnh cầu, ông Bulstrode ngồi xuống, và ông Hawley tiếp lời.
“Trong những gì tôi sắp sửa phát biểu, thưa ông Chủ tọa, tôi không chỉ nói đại diện cho riêng cá nhân mình: tôi đang lên tiếng với sự đồng thuận và theo lời thỉnh cầu rõ ràng của không dưới tám người đồng hương đang tề tựu xung quanh chúng ta đây. Đó là tâm tư chung của chúng tôi rằng ông Bulstrode nên được yêu cầu — và giờ đây tôi chính thức yêu cầu ông ta — phải từ bỏ các chức vụ công quyền mà ông ta đang nắm giữ không chỉ với tư cách là một người nộp thuế, mà còn với tư cách là một quý ông giữa các quý ông. Có những hành vi và có những việc làm mà do hoàn cảnh xô đẩy, luật pháp không thể với tới được, dẫu cho chúng có tồi tệ hơn rất nhiều so với những hành vi có thể bị trừng phạt theo pháp luật. Những con người lương thiện và các quý ông, nếu không muốn chung đày bầu bạn với những kẻ phạm phải những hành vi như thế, buộc phải tự bảo vệ lấy chính mình bằng mọi khả năng có thể, và đó chính là điều mà tôi cùng những người bạn mà tôi có thể gọi là khách hàng của mình trong vụ việc này quyết tâm thực hiện. Tôi không nói rằng ông Bulstrode đã phạm phải những hành vi hổ thẹn, nhưng tôi kêu gọi ông ta hoặc là công khai phủ nhận và bác bỏ những tuyên bố đầy tai tiếng nhắm vào ông ta bởi một kẻ hiện đã qua đời, và lại chết ngay trong ngôi nhà của ông ta — tuyên bố rằng ông ta trong suốt nhiều năm trời đã dấn thân vào những mưu đồ bất chính, và ông ta phất lên bằng những thủ đoạn vô lương tâm — bằng không thì hãy rút lui khỏi những vị trí vốn chỉ có thể được dung túng cho ông ta với tư cách là một quý ông giữa các quý ông.”
Tất cả mọi ánh mắt trong phòng đều đổ dồn về phía ông Bulstrode, người kể từ khi cái tên của lão được nhắc đến lần đầu tiên, đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần suýt chút nữa vượt quá sức chịu đựng của khung thể mỏng manh. Lydgate, bản thân cũng đang gánh chịu một cú sốc tựa như sự diễn giải thực tế đầy kinh hoàng về một điềm báo mờ mịt nào đó, thế nhưng vẫn cảm thấy rằng xung động căm phẫn của chính mình đã bị kìm hãm bởi bản năng của một Người Chữa Lành, kẻ luôn nghĩ trước tiên đến việc mang lại sự cứu rỗi hoặc xoa dịu cho người đang quằn quại, khi anh ngắm nhìn sự tiều tụy đau khổ trên gương mặt xanh xao của Bulstrode.
Sự nhận thức nhanh chóng rằng cuộc đời lão rốt cuộc chỉ là một chuỗi thất bại, rằng lão là một kẻ mất hết danh dự và phải run rẩy trước ánh mắt của những kẻ mà trước kia lão vẫn hằng quen khoác lên mình thái độ của một kẻ phán xử đạo đức — rằng Thiên Chúa đã ruồng bỏ lão trước mặt muôn dân và phơi bày lão không che chở trước sự khinh miệt đắc thắng của những kẻ mừng rỡ vì sự căm thù của chúng được minh oan — cảm giác vô nghĩa tột cùng trong sự ngụy biện với lương tâm khi đối phó với sinh mạng của kẻ tòng phạm, một sự ngụy biện giờ đây đang quay ngược lại cắn xé lão bằng chiếc nanh sắc nhọn của một lời dối trá bị bại lộ:—tất cả những điều ấy ùa vào trong lão tựa như cơn đau đớn tột cùng của sự kinh hoàng không đủ sức đoạt mạng, để lại đôi tai vẫn ong ong trước ngọn sóng nguyền rủa đang dội ngược trở lại. Cảm giác bàng hoàng vì bị phơi bày sau cái cảm giác an toàn được vãn hồi chợt ập đến — không phải đối với bản chất chai sạn của một tên tội phạm, mà chạm đến tận sợi thần kinh mẫn cảm của một kẻ mà sinh mệnh mãnh liệt nhất được định hình trong sự thống trị và uy quyền mà hoàn cảnh sống đã nhào nặn nên cho lão.
Thế nhưng trong cái sinh mệnh mãnh liệt ấy lại ẩn chứa sức mạnh của sự phản kháng. Xuyên suốt mọi sự suy kiệt thể xác của lão vẫn âm ỉ một sợi dây thần kinh dai dẳng của ý chí tự bảo vệ đầy tham vọng, thứ vẫn liên tục bùng lên tựa ngọn lửa, thiêu rụi mọi nỗi sợ hãi giáo điều, và ngay cả khi lão đang ngồi đó như một đối tượng đáng thương hại cho lòng trắc ẩn, nó vẫn bắt đầu cựa quậy và bừng sáng dưới lớp da tái nhợt như tro tàn của lão. Trước khi những từ cuối cùng kịp thốt ra khỏi miệng ông Hawley, Bulstrode đã cảm thấy rằng mình phải đáp trả, và câu trả lời của lão sẽ là một đòn phản pháo. Lão không dám đứng lên và dõng dạc nói rằng, “Tôi không có tội, toàn bộ câu chuyện hoàn toàn bịa đặt” — dẫu cho lão có dám làm thế đi chăng nữa, thì dưới cảm giác bị phản bội sắc bén hiện tại, điều đó cũng sẽ vô nghĩa hệt như việc cố gắng kéo lấy một mảnh giẻ rách manh mún chực chờ rách toạc sau mỗi cái giật nhẹ để che đậy tấm thân trần trụi của mình.
Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, không gian chìm trong sự im lặng tuyệt đối khi mọi người trong phòng đều đăm đăm nhìn vào Bulstrode. Lão ngồi bất động, tựa sát lưng ghế; lão không dám đứng lên, và khi bắt đầu cất lời, lão bấm chặt hai bàn tay lên phần ghế ngồi ở hai bên thân mình. Thế nhưng giọng nói của lão hoàn toàn rõ mồn một, dẫu có khàn đợt hơn bình thường, và từng từ được phát âm rạch ròi, dẫu lão vẫn ngắt quãng giữa các câu cứ như thể đang hụt hơi. Lão cất lời, hướng ánh nhìn đầu tiên về phía mục sư Thesiger, rồi sau đó nhìn sang ông Hawley —
“Tôi phản kháng trước ngài, thưa ngài mục sư Thiên Chúa giáo, chống lại việc dung túng cho những hành vi nhắm vào tôi vốn được sai khiến bởi sự thù hận độc địa. Những kẻ thù hằn với tôi luôn sẵn lòng tin vào bất kỳ lời vu khống bỉ oỉ nào được thốt ra bởi một cái miệng lẳng lơ nhằm vào tôi. Và lương tâm của chúng bỗng trở nên khắt khe đến cực điểm đối với tôi. Cứ cho là những lời lăng mạ mà tôi phải gánh chịu làm nạn nhân ấy cáo buộc tôi những việc làm sai trái—” đến đây giọng Bulstrode cao vút lên và mang thêm âm sắc sắc bén hơn, cho đến khi tựa như một tiếng kêu nghẹn ngào — “thì ai sẽ là kẻ buộc tội tôi đây? Không phải những kẻ có đời sống phi Thiên Chúa giáo, hay thậm chí là đáng tai tiếng — không phải những kẻ bản thân chúng đang sử dụng những thủ đoạn bỉ ổi để đạt được mục đích — những kẻ có nghề nghiệp là một chuỗi những màn lừa đảo mánh mung — những kẻ đang vung vãi thu nhập của chúng vào những cuộc vui thú nhục dục ích kỷ, trong khi tôi đang hiến dâng toàn bộ tài sản của mình để thúc đẩy những mục đích cao cả nhất liên quan đến cuộc đời này và cả đời sau.”
Sau từ mánh mung, tiếng ồn bắt đầu dâng lên, một nửa là tiếng xì xào bàn tán và một nửa là tiếng rít khinh bỉ, trong lúc có tới bốn người cùng lúc vùng đứng dậy — ông Hawley, ông Toller, ông Chichely và ông Hackbutt; thế nhưng sự bùng nổ của ông Hawley diễn ra ngay tức khắc, bỏ lại những kẻ khác chìm ngập trong sự im lặng.
“Nếu ngài ám chỉ tôi, thưa ngài, tôi xin mời ngài và tất cả mọi người hãy soi xét lại cuộc đời hành nghề của tôi. Còn về việc có theo đạo hay không theo đạo Thiên Chúa, tôi xin khước từ thứ đạo Thiên Chúa giả nhân giả nghĩa nịnh hót của ngài; và về cách thức tôi tiêu xài thu nhập của mình, nguyên tắc của tôi không phải là nuôi dưỡng những kẻ trộm cắp và tước đoạt quyền thừa kế chính đáng của con cháu chỉ để nuôi dưỡng tôn giáo và tự tôn bản thân thành một kẻ phá phách thánh thiện đạo mạo. Tôi chẳng màng chuốt ve sự nhạy cảm của lương tâm — tôi chưa thấy bất kỳ tiêu chuẩn tinh tế nào là cần thiết để đo lường các hành vi của ngài cả, thưa ngài. Và tôi lại một lần nữa kêu gọi ngài đưa ra những lời giải thích thỏa đáng liên quan đến những vụ bê bối nhắm vào ngài, bằng không thì hãy rút lui khỏi những chức vụ mà tại đó chúng ta dứt khoát từ chối ngài như một đồng sự. Tôi xin nhắc lại, thưa ngài, chúng ta từ chối hợp tác với một kẻ có nhân vật chưa được gột rửa khỏi những vết nhơ tai tiếng hắt lên ngài ta, không chỉ từ những lời đồn thổi mà còn từ chính những hành động gần đây.”
“Xin ngài lượng thứ, ông Hawley,” vị chủ tọa lên tiếng; và ông Hawley, vẫn đang hậm hực tức tối, cúi đầu nửa phần thiếu kiên nhẫn rồi ngồi phịch xuống, hai bàn tay đút sâu vào trong túi quần.
“Ông Bulstrode, tôi nghĩ chúng ta không nên kéo dài cuộc thảo luận hiện tại thêm nữa,” mục sư Thesiger nói, quay sang nhìn người đàn ông đang run rẩy tái nhợt; “Tôi buộc phải đồng tình phần nào với những gì vừa thốt ra từ ông Hawley nhằm bày tỏ tâm tư chung, rằng ngài nên tự gột rửa bản thân, nếu có thể, khỏi những lời gièm pha bất hạnh để xứng đáng với danh xưng Thiên Chúa giáo của ngài. Về phần mình, tôi sẵn sàng trao cho ngài đầy đủ cơ hội và một buổi lắng nghe thỏa đáng. Thế nhưng tôi phải thẳng thắn rằng thái độ hiện tại của ngài đang mâu thuẫn một cách đau đớn với chính những nguyên tắc mà ngài từng cố gắng gắn kết bản thân vào, và vì danh dự của chúng tôi, tôi có trách nhiệm phải bảo vệ điều đó. Với tư cách là mục sư của ngài, và là một người vẫn hy vọng ngài lấy lại được sự tôn trọng, tôi khuyên ngài lúc này hãy rời khỏi phòng họp, và tránh gây ra những cản trở thêm cho công việc.”
Bulstrode, sau một thoáng chần chừ, với lấy chiếc mũ dưới sàn nhà và chậm rãi đứng dậy, nhưng lão bấu chặt lấy góc ghế run rẩy đến mức Lydgate cảm thấy chắc chắn rằng lão chẳng còn đủ chút sức lực nào để tự bước đi mà không có sự dìu đỡ. Anh phải làm sao đây? Anh không thể trơ mắt nhìn một con người gục ngã ngay sát bên mình vì thiếu vắng sự giúp đỡ. Anh đứng dậy trao cánh tay mình cho Bulstrode, và cứ thế dìu lão bước ra khỏi phòng; thế nhưng hành động ấy, dẫu có thể chỉ là một bổn phận dịu dàng và lòng trắc ẩn thuần khiết, lại mang một vị đắng không thể diễn tả nổi đối với anh vào khoảnh khắc này. Nó tựa như việc anh đang tự tay ký vào văn bản thừa nhận mối liên hệ giữa bản thân với Bulstrode, thứ mà giờ đây anh nhìn thấy rõ toàn bộ ý nghĩa của nó khi nó hẳn đã hiện lên trong tâm trí của những kẻ khác. Anh giờ đây mang nỗi hoài nghi chắc chắn rằng người đàn ông đang run rẩy tựa vào cánh tay mình đã trao cho anh một ngàn bảng Anh như một khoản hối lộ, và bằng cách nào đó phương pháp điều trị dành cho Raffles đã bị can thiệp với một động cơ đen tối. Những suy luận ấy liên kết với nhau quá chặt chẽ; thị trấn đã hay biết về khoản vay, đinh ninh đó là tiền hối lộ, và tin rằng anh đã nhận nó với tư cách là một khoản hối lộ.
Tội nghiệp Lydgate, tâm trí đang vật lộn dưới cái siết chặt khủng khiếp của sự thật phơi bày này, trong suốt thời gian ấy vẫn bị ép buộc về mặt đạo đức phải đưa ông Bulstrode đến Ngân hàng, phái người đi điều xe ngựa đến đón, và chờ đợi để đồng hành cùng lão về nhà.
Trong khi đó, công việc của buổi họp đã được giải quyết xong xuôi và tản mác thành những cuộc tranh luận hào hứng giữa các nhóm khác nhau xoay quanh vụ bê bối của Bulstrode — và Lydgate.
Ông Brooke, người trước đó chỉ nghe được những lời ám chỉ mơ hồ và đang vô cùng bất an vì nghĩ rằng mình đã “đi hơi quá đà” khi dung túng cho Bulstrode, giờ đây đã nắm bắt toàn bộ sự tình một cách rõ ngọn nguồn, và cảm thấy có đôi chút xót xa nhân ái khi trò chuyện với ông Farebrother về cái góc nhìn xấu xí mà Lydgate đang phải gánh chịu trong mắt thiên hạ. Ông Farebrother chuẩn bị đi bộ trở về Lowick.
“Hãy bước lên xe ngựa của tôi đi,” ông Brooke mời. “Tôi đang ghé qua thăm bà Casaubon. Con bé vừa trở về từ Yorkshire tối qua. Chắc chắn nó sẽ rất vui khi được gặp tôi đấy, anh biết đấy.”
Thế là họ cùng nhau lên xe phóng đi, ông Brooke huyên thuyên với hy vọng mang tính nhân hậu rằng chắc hẳn không có điều gì đen tối thực sự trong cách hành xử của Lydgate — một thanh niên trẻ tuổi mà ông từng nhìn nhận hoàn toàn vượt trội so với mức bình thường khi cậu ta mang theo bức thư giới thiệu từ người bác là ngài Nam tước Godwin. Ông Farebrother ít nói hơn: lòng ông trĩu nặng nỗi buồn sâu sắc; với sự thấu hiểu sắc bén về bản chất yếu đuối của con người, ông chẳng thể tự tin rằng dưới sức ép của những nhu cầu ngặt nghèo đầy nhục nhã, Lydgate đã không gục ngã trước chính mình.
Khi chiếc xe ngựa dừng bánh trước cổng trang viên Manor, Dorothea đang đứng ngoài bãi sỏi và bước tới chào đón họ.
“Này, cháu yêu,” ông Brooke cất tiếng, “chúng ta vừa từ một buổi họp trở về — một buổi họp vệ sinh, cháu biết đấy.”
“Có bác sĩ Lydgate ở đó không ạ?” Dorothea hỏi, người trông tràn đầy sức sống và sự tươi trẻ, đứng với mái tóc để trần dưới ánh sáng rực rỡ của tháng Tư. “Cháu đang rất muốn gặp anh ấy và mở một cuộc hội chawm lớn với anh ấy về Bệnh viện. Cháu đã nhận lời hợp tác với ông Bulstrode về chuyện đó rồi.”
“Ồ, cháu yêu,” ông Brooke đáp, “chúng ta vừa nghe được những tin tức tồi tệ — tin tức tồi tệ lắm đấy cháu ạ.”
Họ đi xuyên qua khu vườn hướng về phía cổng nghĩa trang, khi ông Farebrother muốn tiếp tục đi bộ về nhà xứ; và Dorothea đã nghe trọn vẹn câu chuyện buồn bã ấy.
Nàng lắng nghe với sự quan tâm sâu sắc, và khẩn nài được nghe lại đến hai lần toàn bộ các sự thật cùng ấn tượng liên quan đến Lydgate. Sau một khoảng lặng ngắn, khi dừng chân tại cánh cổng nghĩa trang và hướng lời về phía ông Farebrother, nàng năng nổ cất tiếng —
“Chẳng lẽ thầy không tin rằng bác sĩ Lydgate vô can trước bất kỳ điều gì đê hèn hay sao? Cháu nhất định không tin điều đó đâu. Chúng ta hãy cùng nhau tìm ra sự thật và giải oan cho anh ấy!”