Middlemarch

Lượt đọc: 410 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

❊ ❊ ❊

“Mắt ngọc đen em để lại sau,

Mắt xanh chẳng dắt dìu em nữa;

Nay lòng say đắm biết bao, khác nào

Những buổi xưa cùng ngắm nghía.

“Ồ, ta lần bước theo người đẹp nhất

Qua những chốn vui chơi mới lạ đường;

Dấu chân đây, tiếng vọng kia dắt dìu ta tới

Kho báu lòng ta mong mỏi:

“Kìa! Nàng quay lại—tuổi trẻ bất tử

Hóa thân trong vóc ngà người phàm,

Tươi tắn như chân lý ngàn năm của ánh sao trời—

Tự nhiên mang muôn ngàn danh hiệu!”

Một nhà sử học lớn, theo cách tự xưng của ông, người có diễm phúc tạ thế từ một trăm hai mươi năm trước, và do đó được đứng vào hàng ngũ những bậc vĩ nhân mà tầm vóc khổng lồ của họ khiến sự tầm thường của chúng ta ngày nay chỉ biết len lỏi bên dưới, từng ca ngợi những lời bình luận và tràng giang đại hải của mình là phần ít có thể bắt chước nhất trong tác phẩm của ông, đặc biệt là ở những chương mở đầu cho từng cuốn trong bộ sử của ông — nơi ông dường như dời chiếc ghế bành ra sát mép sân khấu để chuyện trò cùng chúng ta với toàn bộ sự thoải mái, cường tráng đậm chất Anh quốc hào hoa. Nhưng Fielding đã sống vào thời gian dằng dặc hơn (vì thời gian, cũng như tiền bạc, được đo bằng nhu cầu của chúng ta), khi những buổi chiều mùa hè thênh thang và nhịp đồng hồ tích tắc thật chậm trong các buổi tối mùa đông. Những nhà sử học đến muộn như chúng ta chớ nên lê la theo gương ông; và giả sử chúng ta có làm thế, thì e rằng câu chuyện của chúng ta cũng trở nên nhạt nhẽo và sốt sắng, tựa như cất lên từ chiếc ghế xếp trong một khu chuồng nuôi vẹt. Ít ra thì tôi cũng có quá nhiều việc phải làm trong công cuộc gỡ rối những mảnh đời nhân thế, và ngắm nhìn chúng được dệt nên hay quyện xoắn vào nhau ra sao, đến mức mọi thứ ánh sáng tôi có thể huy động đều phải tập trung vào tấm lưới riêng biệt này, chứ không thể phân tán ra cái cõi vạn vật đầy sức cám dỗ mang tên vũ trụ ấy.

Lúc này đây, tôi cần phải giới thiệu về vị tân cư dân Lydgate một cách cặn kẽ hơn đối với bất kỳ ai quan tâm đến anh, vượt xa mức độ hiểu biết của chính những kẻ đã tiếp xúc với anh nhiều nhất kể từ khi anh đặt chân đến Middlemarch. Bởi lẽ, suy cho cùng, ai nấy đều phải thừa nhận rằng một người hoàn toàn có thể được tung hô ca tụng, bị ghen tị, bị chế nhạo, bị tính toán như một thứ công cụ rồi rơi vào lưới tình, hoặc ít nhất được chọn làm một đức lang quân tương lai, thế nhưng kỳ thực vẫn hoàn toàn xa lạ — chỉ được biết đến như một tập hợp những dấu hiệu phù phiếm trong tâm tưởng lầm lạc của láng giềng. Dù vậy, vẫn có một ấn tượng chung rằng Lydgate không hẳn là một ông bác sĩ nông thôn tầm thường; và ở cái thời điểm đó tại Middlemarch, một ấn tượng như thế đồng nghĩa với việc người ta đang kỳ vọng rất nhiều ở anh. Bởi vì bác sĩ gia đình của bất kỳ nhà nào cũng nổi tiếng tài giỏi, và ai nấy đều đinh ninh rằng họ có tay nghề vô biên trong việc điều trị và thuần hóa những căn bệnh ương ngạnh hoặc hiểm nghèo nhất. Bằng chứng về tài năng của họ thuộc về trực giác cấp cao, ẩn giấu trong niềm tin sắt đá của các nữ bệnh nhân, và hoàn toàn bất khả xâm phạm trước mọi lời phản bác — ngoại trừ một điều là trực giác của quý bà này lại đối lập hoàn toàn với trực giác mạnh mẽ không kém của quý bà khác; vị nào thấy chân lý y học nằm ở chỗ Wrench cùng “phương pháp bồi bổ” thì sẽ coi Toller cùng “phương pháp hạ nhiệt” là chốn đọa đày y học. Bởi vì thời đại hào hùng của những màn trích máu và chườm phồng rộp vẫn chưa lùi vào dĩ vãng, huống chi là thời đại của những học thuyết triệt để, khi mà bệnh tật nói chung thường được gán cho một cái tên tệ hại nào đó và cứ thế trị thẳng tay không chút do dự — chẳng hạn như khi nó được gọi là một cuộc nổi loạn, thứ không thể dùng đạn xịt mà phải được tháo máu ngay tức khắc. Phe bồi bổ và phe hạ nhiệt đều là những kẻ “tài giỏi” trong mắt một ai đó, mà thực ra thì tài năng nào ở đời cũng chỉ được đánh giá chừng đó là cùng. Trí tưởng tượng của chẳng một ai lại đi xa đến mức đoán rằng ông Lydgate có thể hiểu biết nhiều bằng Tiến sĩ Sprague và Tiến sĩ Minchin — hai vị y sĩ duy nhất có thể thắp lên chút hy vọng khi cơn nguy kịch chạm tới đỉnh điểm, và khi dù chỉ một tia hy vọng mỏng manh nhất cũng đáng giá một đồng gine. Tuy nhiên, tôi xin nhắc lại, vẫn có một ấn tượng chung rằng Lydgate là một nhân vật có phần phi phàm hơn bất kỳ vị bác sĩ đa khoa thông thường nào ở Middlemarch. Và điều đó hoàn toàn chính xác. Anh mới chỉ hai mươi bảy tuổi, độ tuổi mà nhiều người đàn ông chưa hẳn đã tầm thường — độ tuổi mà họ đầy ắp hoài bão lập công danh, kiên quyết né tránh mọi lối mòn, đinh ninh rằng thần Tài Mammon sẽ không bao giờ có thể xỏ mũi tròng cương hay trèo lên lưng họ, mà trái lại, chính Mammon, nếu họ có dính líu gì đến hắn, sẽ phải kéo cỗ xe cho họ bước.

Anh mồ côi từ khi vừa rời ghế nhà trường phổ thông. Cha anh, một sĩ quan quân đội, để lại rất ít tài sản cho ba đứa con, và khi cậu thiếu niên Tertius ngỏ ý muốn theo đuổi ngành y, những người giám hộ thấy việc chiều lòng cậu bằng cách cho làm học việc với một y sĩ nông thôn còn dễ dàng hơn là dấy lên những lời phản đối dựa trên danh dự gia đình. Anh là một trong số ít những thiếu niên sớm bộc lộ chí hướng kiên quyết và tự nhủ rằng có một điều gì đó đặc biệt ở đời mà họ muốn thực hiện vì chính bản thân nó, chứ không phải vì cha họ từng làm thế. Hầu hết chúng ta khi say mê một lĩnh vực nào đó đều nhớ đến một buổi sáng hay buổi chiều nào đó khi mình kiễng chân trên chiếc ghế cao để với lấy một cuốn sách chưa từng đọc, hoặc ngồi hé môi lắng nghe một diễn giả mới lạ, hay chỉ vì quá thiếu sách mà bắt đầu lắng nghe những thanh âm từ sâu thẳm tâm hồn, như là khởi đầu đầu tiên có thể lần ra của mối tình đầu. Điều tương tự cũng đã đến với Lydgate. Anh là một chàng trai lanh lợi, và khi vừa chơi đùa mướt mải mồ hôi, anh sẽ thả mình vào một góc, để rồi chỉ năm phút sau đã chìm đắm vào bất kỳ loại sách nào vớ được: nếu đó là Rasselas hay Gulliver thì càng hay, còn không thì cuốn Từ điển của Bailey cũng được, hay thậm chí là Kinh thánh có kèm phần Ngụy thư. Anh bắt buộc phải đọc gì đó, những lúc không cưỡi ngựa pony, không chạy nhảy săn bắn hay lắng nghe chuyện trò của người lớn. Tất cả những điều đó đã đúng với anh từ năm lên mười tuổi; hồi ấy anh đã ngấu nghiến xong cuốn Chrysal, or the Adventures of a Guinea — một tác phẩm chẳng phải sữa dành cho trẻ thơ, cũng chẳng phải thứ nước bột phấn nào giả danh sữa, và khi ấy anh đã chợt nhận ra rằng sách vở toàn là thứ nhảm nhí, còn cuộc đời thì thật ngốc nghếch. Những năm tháng học trò không làm thay đổi mấy quan điểm ấy, bởi dù anh vẫn “hoàn thành” các môn kinh điển và toán học, anh chẳng hề nổi trội trong số đó. Người ta thường bảo Lydgate thích làm gì cũng được, nhưng quả thật anh vẫn chưa từng thích làm điều gì xuất chúng cả. Anh là một chàng trai tráng kiện với trí tuệ nhạy bén, thế nhưng ngọn lửa đam mê trí tuệ vẫn chưa hề bùng lên trong anh; kiến thức đối với anh chỉ là một thứ vô cùng hời hợt, dễ dàng nắm bắt: nếu đánh giá qua các cuộc trò chuyện của những người bề trên, dường như anh đã sớm thâu tóm nhiều hơn mức cần thiết cho cuộc sống trưởng thành. Có lẽ đây không phải là kết quả ngoại lệ của nền giáo dục tốn kém vào thời kỳ của những chiếc áo khoác ngắn eo và các mốt thời trang nay đã lùi vào dĩ vãng. Thế nhưng, trong một kỳ nghỉ hè, một ngày mưa tầm tã đã đẩy anh vào thư viện nhỏ ở nhà để lùng sục một lần nữa tìm một cuốn sách nào đó mang lại chút tươi mới: thật công cốc! Trừ phi, quả thực anh với lấy một dãy sách đóng gáy giấy xám bám đầy bụi cùng những nhãn dán sờn màu — đó là các tập của một bộ Bách khoa toàn thư cũ kỹ mà anh chưa từng đụng đến. Đụng đến chúng ít ra cũng mang lại chút đổi mới. Chúng nằm trên tầng kệ cao nhất, và anh phải trèo lên ghế để với xuống. Nhưng anh đã mở tập sách đầu tiên nhặt được từ trên kệ: chẳng hiểu sao, người ta thường hay đọc sách trong một tư thế tạm bợ, ngay tại nơi có vẻ bất tiện nhất. Trang sách anh mở ra nằm ở mục Giải phẫu học, và đoạn văn đầu tiên đập vào mắt anh viết về các van tim. Anh vốn chẳng rành rẽ gì về các loại van cho lắm, nhưng anh biết từ valvae có nghĩa là những cánh cửa gấp, và qua khe hở ấy, một luồng ánh sáng bất chợt rọi chiếu khiến anh giật mình với khái niệm sống động đầu tiên về một cỗ máy được tinh chỉnh vô cùng tinh vi trong cấu trúc cơ thể con người. Một nền giáo dục phóng khoáng tất nhiên đã để anh tự do đọc những đoạn tục tĩu trong các tác phẩm kinh điển ở trường, nhưng ngoài cảm giác chung chung về sự mờ ám và dâm ô liên quan đến nội tạng bên trong, nó đã để mặc trí tưởng tượng của anh hoàn toàn trong trắng, đến mức theo những gì anh biết, bộ não của anh nằm trong những chiếc túi nhỏ ở hai bên thái dương, và anh chẳng hề nghĩ đến việc mường tượng máu trong người mình lưu thông ra sao, cũng giống như cách tờ giấy thay thế cho vàng vậy. Thế nhưng khoảnh khắc thức tỉnh đã đến, và trước khi kịp bước xuống ghế, thế giới đã đổi thay đối với anh bởi linh cảm về những quá trình vô tận lấp đầy những khoảng không gian mênh mông bị che khuất khỏi tầm mắt bởi thứ dốt nát ngập tràn ngôn từ mà anh từng lầm tưởng là tri thức. Kể từ giờ phút ấy, Lydgate cảm nhận được sự nảy nở của một niềm đam mê trí tuệ.

Chúng ta chẳng hề ngần ngại khi cứ kể đi kể lại câu chuyện một người đàn ông phải lòng một người phụ nữ rồi nên duyên vợ chồng với nàng, hoặc trái lại, bị chia cắt bi thảm khỏi nàng. Phải chăng vì quá dư dỗi chất thơ hay sự ngốc nghếch mà chúng ta chẳng bao giờ thấy chán ngấy việc miêu tả cái mà Vua James gọi là “vóc dáng và nét kiều diễm” của phụ nữ, chẳng bao giờ chán nghe tiếng gảy réo rắt của những khúc ca Troubadour thuở xưa, trong khi lại tỏ ra dửng dưng một cách tương đối trước một thứ “vóc dáng và nét kiều diễm” khác — thứ đòi hỏi phải được tán tỉnh bằng tư duy miệt mài cùng sự nhẫn nại từ bỏ những ham muốn nhỏ nhoi? Trong câu chuyện về niềm đam mê này, sự phát triển cũng thiên hình vạn trạng: có khi là một cuộc hôn nhân huy hoàng, có khi là sự vỡ mộng và chia ly chung cục. Và không ít lần, thảm kịch lại gắn liền với một nỗi niềm đam mê khác từng được các thi sĩ Troubadour ca hát. Bởi vì giữa muôn vàn những người đàn ông trung niên đang lầm lũi mưu sinh theo một lịch trình hằng ngày được định đoạt sẵn chẳng khác nào nút thắt chiếc cà vạt của họ, lúc nào cũng có một lượng lớn những kẻ từng ấp ủ ý nguyện tự tay định hình hành động của chính mình và xoay chuyển thế giới dẫu chỉ một chút. Câu chuyện về việc họ dần bị nhào nặn theo khuôn mẫu tầm thường và sẵn sàng để bị đóng gói thành lố hầu như chưa từng được kể lại, ngay cả trong ý thức của chính họ; bởi vì có lẽ nhiệt huyết cống hiến cho những lao động cao cả không tiền công ấy đã lụi tàn một cách vô hình chẳng kém gì nhiệt huyết của những mối tình tuổi trẻ, cho đến một ngày nọ, cái tôi thuở trước của họ lang thang như một bóng ma trong ngôi nhà cũ kỹ và biến những món đồ nội thất mới thành ra ghê rợn. Không gì trên đời này tinh vi hơn tiến trình thay đổi dần dà ấy! Thuở ban đầu, họ hít thở nó một cách vô thức: anh và tôi có lẽ từng phả chút hơi thở của mình vào công cuộc đầu độc họ, khi chúng ta thốt lên những lời dối trá hùa theo số đông hay đưa ra những kết luận ngớ ngẩn; hoặc có lẽ nó theo những rung cảm từ ánh mắt của một người phụ nữ.

Lydgate không có ý định trở thành một trong những kẻ thất bại ấy, và người ta có thêm niềm hy vọng nơi anh bởi vì hứng thú khoa học của anh nhanh chóng mang hình hài của một niềm đam mê nghề nghiệp: anh mang theo niềm tin tuổi trẻ vào công việc kiếm sống của mình, không hề bị bóp nghẹt bởi giai đoạn nhập môn tạm bợ mang tên thời kỳ học việc; và anh mang đến những năm tháng đèn sách ở Luân Đôn, Edinburgh và Paris niềm xác tín rằng ngành y — nếu vươn tới đúng tiềm năng của nó — chính là nghề nghiệp tuyệt vời nhất trên đời; là lĩnh vực thể hiện sự giao thoa hoàn hảo nhất giữa khoa học và nghệ thuật; là mối liên minh trực tiếp nhất giữa chinh phục trí tuệ và phúc lợi xã hội. Bản chất của Lydgate đòi hỏi sự kết hợp này: anh là một sinh linh giàu cảm xúc, với một tình cảm đồng loại bằng xương bằng thịt đủ sức chống lại mọi thứ trừu tượng của chuyên môn nghiên cứu. Anh không chỉ quan tâm đến các “ca bệnh,” mà còn quan tâm đến John và Elizabeth, đặc biệt là Elizabeth.

Nghề nghiệp của anh còn có một sức hút khác: nó đang cần được cải cách, và trao cho một người cơ hội dấy lên sự phẫn nộ quyết liệt nhằm khước từ những thứ trang hoàng vụ lợi cùng bao trò bịp bợm khác, để trở thành kẻ sở hữu những phẩm chất chân chính dẫu chẳng ai đòi hỏi. Anh sang Paris du học với quyết tâm rằng khi trở về quê nhà, anh sẽ định cư tại một thị trấn tỉnh lẻ để hành nghề y đa khoa, đồng thời chống lại sự chia rẽ phi lý giữa kiến thức y khoa và ngoại khoa vì lợi ích của chính các nghiên cứu khoa học của mình cũng như vì sự tiến bộ chung; anh sẽ tránh xa vũng lầy của những mưu đồ, ganh đua và xu nịnh xã hội ở Luân Đôn, để rồi giành lấy danh tiếng, dẫu có chậm chạp đi chăng nữa, hệt như Jenner từng làm, bằng chính giá trị độc lập từ công trình của mình. Bởi vì phải nhớ rằng đây là một thời kỳ tăm tối; và bất chấp những trường đại học cổ kính đã tốn biết bao công sức để bảo đảm sự trong sáng của tri thức bằng cách thắt chặt nó, và loại trừ sai lầm thông qua sự độc quyền nghiêm ngặt về học phí cùng các chức vụ, thế nhưng sự thật là những thanh niên non tay và cực kỳ dốt nát vẫn được lăng-xê ở thành phố, và rất nhiều kẻ khác thì vớ được quyền hành nghề hợp pháp trên những vùng nông thôn rộng lớn. Hơn nữa, tiêu chuẩn cao cả được Hiệp hội Bác sĩ giương cao trước công chúng — vốn ban hành sự chuẩn y đặc biệt cho nền giáo dục y khoa tốn kém và cực kỳ uyên bác của các cử nhân Oxford và Cambridge — cũng chẳng thể ngăn cản đám lang băm phất lên trông thấy; bởi vì suy cho cùng, công tác hành nghề chủ yếu là cho bệnh nhân uống thật nhiều thuốc, nên công chúng suy luận rằng họ có lẽ sẽ còn khá hơn nữa nếu được uống nhiều thuốc hơn thế, miễn là mua được giá rẻ, và do đó họ đã tống vào bụng những cỗ tích thước thuốc men khổng lồ do sự dốt nát vô lương tâm — những kẻ chẳng có bằng cấp gì — kê đơn. Xét thấy thống kê vẫn chưa ôm đồm nổi việc tính toán số lượng những ông bác sĩ dốt nát hay đạo đức giả chắc chắn phải tồn tại bất chấp mọi đổi thay, Lydgate cho rằng việc thay đổi từng cá nhân chính là con đường trực diện nhất để thay đổi những con số thống kê. Anh tự định hướng sẽ trở thành một cá nhân tạo ra sự khác biệt nhất định đối với làn sóng thay đổi lan rộng ấy — thứ mà một ngày nào đó sẽ tác động đáng kể lên các chỉ số chung, và trong lúc chờ đợi thì sẽ có được niềm vui tạo ra sự khác biệt có lợi cho bộ máy tiêu hóa của chính các bệnh nhân mình. Thế nhưng anh không chỉ nhắm đến một lối hành nghề chân chính hơn thông thường. Anh còn ôm ấp hoài bão về một ảnh hưởng rộng lớn hơn: anh bừng cháy với khả năng mình có thể chứng minh được một ý niệm giải phẫu học và tạo nên một mắt xích trong chuỗi dây chuyền khám phá.

Có vẻ kỳ quặc không khi một bác sĩ phẫu thuật ở Middlemarch lại mơ mộng mình là một nhà phátกhát? Thật vậy, hầu hết chúng ta đều biết rất ít về những bộ óc vĩ đại khai phá thế giới cho đến khi họ được tôn lên chốn tinh tú và ngự trị trên vận mệnh chúng ta. Nhưng vị Herschel ấy chẳng hạn — kẻ từng “phá vỡ những rào cõi thiên đường” — há chẳng từng có lúc đàn ống suối trong một nhà thờ tỉnh lẻ, và dạy đàn cho những nghệ sĩ dương cầm lóng ngóng đó sao? Mỗi một vì tinh tú ấy đều từng phải lê bước trên mặt đất giữa những người láng giềng — những kẻ có lẽ quan tâm đến dáng đi hay bộ quần áo của họ hơn là bất cứ thứ gì có thể mang lại cho họ danh hiệu muôn đời: mỗi người trong số họ đều mang một tiểu sử cá nhân vụn vặt ở địa phương, điểm xuyết bởi những cám dỗ nhỏ nhoi và nỗi bận tâm đê tiện, thứ tạo nên sức ì cản trở bước chân họ tiến đến chốn vĩnh hằng cùng các bậc bất tử. Lydgate không hề mù quáng trước những hiểm nguy của sức ì ấy, nhưng anh tràn trề tự tin vào quyết tâm né tránh nó hết mức có thể: ở tuổi hai mươi bảy, anh cảm thấy mình đã từng trải. Và anh sẽ không để cho sự kiêu ngạo của mình bị khiêu khích bởi những thành công hào nhoáng chốn phồn hoa đô hội, mà sẽ sống giữa những kẻ không thể cạnh tranh nổi với mục tiêu theo đuổi một tư tưởng lớn — thứ sẽ song hành cùng công việc hành nghề y miệt mài của anh. Có một sức hút kỳ lạ trong hy vọng rằng hai mục đích ấy sẽ soi rọi lẫn nhau: sự quan sát và suy luận cẩn trọng vốn là công việc hằng ngày của anh, việc sử dụng thấu kính để củng cố phán đoán trong từng ca bệnh cụ thể, sẽ đồng thời bồi đắp cho tư duy của anh như một công cụ cho những cuộc khảo sát tầm vóc lớn lao hơn. Há đó chẳng phải là ưu thế tiêu biểu của nghề nghiệp anh sao? Anh sẽ trở thành một bác sĩ Middlemarch giỏi giang, và chính nhờ điều đó mà giữ vững bước chân trên con đường nghiên cứu vươn xa. Về một điểm, anh hoàn toàn có quyền đòi hỏi sự công nhận ở giai đoạn này của sự nghiệp: anh không có ý định bắt chước những mẫu mực bác sĩ nhân đạo từng kiếm lời từ những hũ dưa góp độc hại để nuôi thân trong lúc vạch trần nạn làm giả, hay nắm giữ cổ phần trong một sòng bạc để có thời gian đại diện cho chính nghĩa đạo đức công cộng. Anh dự định sẽ khởi xướng ngay trong phạm vi của mình một số cải cách cụ thể nằm hoàn toàn trong tầm tay, và ít nan giải hơn nhiều so với việc chứng minh một ý niệm giải phẫu học. Một trong những cải cách đó là dứt khoát hành động dựa trên nền tảng phán quyết pháp lý gần đây, và chỉ đơn thuần kê đơn thuốc chứ không tự phát thuốc hay nhận hoa hồng từ các hiệu thuốc. Đây là một sự đổi mới đối với kẻ đã chọn phong cách bác sĩ đa khoa ở một thị trấn nhỏ, và sẽ bị coi là một lời chỉ trích chướng tai đối với những người đồng nghiệp. Nhưng Lydgate cũng dự định đổi mới cả trong phương pháp điều trị của mình, và anh đủ khôn ngoan để nhận ra rằng bảo đảm tốt nhất cho việc hành nghề chân chính theo đúng niềm tin của bản thân chính là dứt bỏ những cám dỗ hệ thống vốn dẫn đến điều ngược lại.

Có lẽ đó là một thời kỳ tươi vui hơn cho các nhà quan sát và lý luận so với hiện tại; chúng ta thường có xu hướng nghĩ đó là kỷ nguyên tuyệt vời nhất của thế giới khi châu Mỹ bắt đầu được khám phá, khi một tên thủy thủ gan lì, dù có bị đắm tàu, vẫn có thể đặt chân lên một vương quốc mới; và vào khoảng năm 1829, những vùng lãnh thổ tăm tối của Bộ môn Bệnh lý học chính là miền đất châu Mỹ tuyệt diệu dành cho một nhà thám hiểm trẻ đầy nhiệt huyết. Hơn hết, Lydgate khát khao được đóng góp vào việc mở rộng nền tảng khoa học và lý trí cho nghề nghiệp của mình. Càng say mê các vấn đề chuyên sâu về bệnh tật, chẳng hạn như bản chất của chứng sốt hay các cơn sốt, anh càng cảm thấy nhức nhối nhu cầu về thứ kiến thức nền tảng về cấu trúc — thứ vừa được soi sáng ngay đầu thế kỷ bởi sự nghiệp ngắn ngủi nhưng huy hoàng của Bichat, người qua đời khi mới tròn ba mươi mốt tuổi, nhưng hệt như một vị Alexandros khác, đã để lại một đế chế đủ rộng lớn cho nhiều kẻ kế thừa. Vị danh nhân người Pháp ấy là người đầu tiên hiện thực hóa quan niệm cho rằng các cơ thể sống, xét về mặt bản chất, không phải là tập hợp của các cơ quan có thể hiểu được bằng cách nghiên cứu chúng riêng rẽ trước, rồi sau đó mới ghép lại theo kiểu liên bang; mà phải được xem là bao gồm những lớp màng hoặc mô nguyên thủy nào đó, từ đó các cơ quan khác nhau — não, tim, phổi, vân vân — được cấu thành, giống như những tiện nghi khác nhau của một ngôi nhà được dựng lên từ các tỷ lệ gỗ, sắt, đá, gạch, kẽm và những thứ tương tự, mỗi vật liệu đều có thành phần và tỷ lệ riêng biệt. Ta có thể thấy rõ, không ai có thể hiểu và đánh giá đúng toàn bộ cấu trúc hay các bộ phận của nó — đâu là điểm yếu và đâu là chỗ cần tu sửa — nếu không thấu hiểu bản chất của vật liệu. Và quan niệm do Bichat dày công xây dựng, với nghiên cứu tỉ mỉ về các mô khác nhau, tất yếu đã tác động đến các vấn đề y học hệt như việc vặn ngọn đèn hơi gas lên giữa một con đường mờ ảo ánh dầu, phơi bày những mối liên hệ mới cùng những sự thật chưa từng được biết đến về cấu trúc — những thứ bắt buộc phải được tính đến khi cân nhắc các triệu chứng bệnh lý và cơ chế tác dụng của dược phẩm. Thế nhưng những thành quả phụ thuộc vào lương tâm và trí tuệ con người thường tiến triển rất chậm, và giờ đây vào cuối năm 1829, phần lớn việc hành nghề y vẫn đang lê la hoặc đi khập khiễng trên những lối mòn cũ, và vẫn còn đó những công trình khoa học chờ được thực hiện — những thứ thoạt nhìn có thể được xem là hệ quả trực tiếp từ công trình của Bichat. Vị tiên tri vĩ đại ấy không vượt qua giới hạn xem xét các mô như những thực thể tối hậu trong cơ thể sống, đánh dấu ranh giới của phân tích giải phẫu học; nhưng một bộ óc khác hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi: há những cấu trúc này không có một nền tảng chung nào đó mà từ đó tất cả đã sinh thành, giống như lụa sồi, voan, lưới, xa-tanh và nhung được kéo ra từ chiếc kén thô sơ hay sao? Ở đây sẽ lại có thêm một thứ ánh sáng mới, tựa như ngọn đèn ô-xy-hydro, soi rọi tận thớ thịt của sự vật và lật lại mọi lời giải thích trước đó. Lydgate say đắm trước hệ quả tiếp nối công trình của Bichat ấy — thứ đang râm ran rung động dọc theo nhiều luồng tư tưởng của châu Âu; anh khao khát được chứng minh những mối quan hệ thấu đáo hơn của cấu trúc sự sống, và góp phần định hình tư duy con người một cách chuẩn xác hơn theo trật tự đích thực. Công việc ấy vẫn chưa được thực hiện, mà mới chỉ dừng lại ở bước dọn đường cho những ai biết cách tận dụng sự chuẩn bị đó. Mô nguyên thủy là gì? Lydgate đặt câu hỏi theo cách ấy — không hẳn theo cách mà câu trả lời đang mong đợi đòi hỏi; nhưng việc hụt mất từ ngữ chính xác ấy vẫn thường xảy ra với nhiều kẻ dấn thân tìm kiếm. Và anh đặt kỳ vọng vào những khoảng lặng được nắm bắt đầy cảnh giác, để tiếp tục xâu chuỗi những mối dây nghiên cứu — vào vô số gợi ý có thể thu nhặt được từ việc áp dụng miệt mài không chỉ con dao mổ, mà còn cả chiếc kính hiển vi, thứ công cụ mà giới nghiên cứu vừa bắt đầu sử dụng trở lại với niềm tin đầy nhiệt huyết mới mẻ. Kế hoạch tương lai của Lydgate là vậy đó: làm những việc nhỏ bé hữu ích cho Middlemarch, và làm những điều vĩ đại cho thế giới.

Quả thực anh là một chàng trai may mắn vào thời điểm này: ở tuổi hai mươi bảy, không vướng vào bất kỳ thói hư tật xấu cố hữu nào, với quyết tâm cao cả rằng hành động của mình phải mang lại điều thiện lành, cùng những tư tưởng trong đầu đủ sức làm cho cuộc đời trở nên thú vị — hoàn toàn tách biệt khỏi sự sùng bái ngựa nghèo cùng những nghi lễ thần bí đòi hỏi sự tốn kém, thứ mà số tám trăm bảng anh còn lại sau khi mua phòng khám chắc chắn chẳng thể chi trả nổi đi xa. Anh đang đứng tại một vạch xuất phát biến sự nghiệp của nhiều người thành một đề tài cá cược tuyệt vời, giả sử có những quý ông nào đó đam mê trò giải trí ấy mà lại đủ sức thấu hiểu những xác suất phức tạp của một hoài bão gian khổ, cùng tất cả những cản trở hay thúc đẩy tiềm tàng của hoàn cảnh, mọi sự tinh tế trong thăng bằng nội tâm giúp một người lướt đi và đạt được mục đích, hoặc ngược lại, lao đầu xuống vực thẳm. Rủi ro vẫn còn đó ngay cả khi ta hiểu rõ tường tận tính cách của Lydgate; bởi vì tính cách cũng là một quá trình và sự bộc lộ dần dà. Con người ấy vẫn đang trong quá trình hình thành, hệt như vị bác sĩ Middlemarch kiêm nhà phát minh bất tử kia, và vẫn tồn tại cả những đức tính lẫn thói hư tật xấu có nguy cơ teo tóp lại hoặc phình nở ra. Tôi hy vọng những thói hư ấy sẽ không trở thành lý do khiến bạn rút lại sự quan tâm dành cho anh. Trong số những người bạn quý giá của chúng ta, há chẳng có ai đó hơi tự phụ và ngạo mạn một chút hay sao; người có tâm hồn xuất chúng nhưng lại lốm đốm chút phàm tục; người bị bóp méo chỗ này, lồi lõm chỗ kia bởi những thành kiến nguyên thủy; hoặc kẻ mà những năng lượng tốt đẹp hơn dễ dàng trượt ngã sai đường dưới ảnh hưởng của những cám dỗ nhất thời? Tất cả những điều đó đều có thể được gán cho Lydgate, nhưng suy cho cùng, chúng chỉ là những lời uyển ngữ của một vị giảng sư lịch thiệp — kẻ hay thuyết giảng về Adam và chẳng đời nào muốn nhắc đến bất cứ điều gì gây nhức nhối cho những người thuê ghế trong nhà thờ. Những thói xấu cụ thể được chắt lọc từ những khái niệm chung chung tinh tế ấy đều mang diện mạo, từ vựng, ngữ điệu và điệu bộ riêng biệt; lấp đầy những vai diễn trong vô vàn vở kịch khác nhau. Sự kiêu ngạo của chúng ta khác nhau hệt như chiếc mũi vậy: không phải mọi sự kiêu ngạo đều y hệt nhau, mà biến thiên tương ứng với từng tiểu tiết trong cấu trúc tinh thần mà qua đó mỗi chúng ta khác biệt với người khác. Sự kiêu ngạo của Lydgate thuộc loại ngạo mạn, chưa từng làm ra vẻ bẽn lẽn, chưa từng xấc láo, nhưng vô cùng nặng nề trong những đòi hỏi của nó và mang sự khinh miệt đầy bao dung. Anh sẵn sàng làm rất nhiều việc cho đám ngốc nghếch, vì cảm thấy thương hại họ và hoàn toàn đinh ninh rằng họ chẳng thể có chút uy quyền nào đối với mình: anh từng nghĩ đến việc gia nhập phái Saint-Simon khi ở Paris, chỉ để lật đổ một vài giáo lý của chính họ. Mọi thói xấu của anh đều mang những nét tương đồng, và đó là đặc trưng của một người sở hữu giọng nam trung tuyệt đẹp, quần áo mặc lên người vừa vặn, và ngay cả trong những cử chỉ thông thường cũng phảng phất nét quý phái bẩm sinh. Thế thì những vết nhơ phàm tục nằm ở đâu? Một cô thiếu nữ đang say đắm vẻ lịch lãm phất phơ ấy thốt lên như vậy. Làm sao có thể tồn tại sự phàm tục ở một người đàn ông có học thức cao sang, khát khao danh vọng xã hội, lại có cái nhìn cao thượng và phi thường về bổn phận xã hội đến thế? Dễ dàng hệt như cách sự ngu ngốc có thể ngự trị trong một thiên tài nếu bạn bắt gặp anh ta không phòng bị ở một chủ đề sai lầm, hoặc hệt như cách nhiều kẻ dẫu có thiện chí tột bậc trong việc thúc đẩy thiên niên kỷ xã hội nhưng lại thiếu cảm hứng khi mường tượng về những niềm vui tao nhã của nó; bất lực trong việc vượt qua âm nhạc của Offenbach, hay những trò chơi chữ rực rỡ trong vở kịch trào phúng mới nhất. Những vết nhơ phàm tục của Lydgate nằm trong màu sắc của những thành kiến — dẫu mang ý định và sự đồng cảm cao cả, nhưng một nửa trong số đó lại là những định kiến thường thấy ở những kẻ từng trải bình thường trên đời: sự uyên bác trong tâm hồn thuộc về niềm đam mê trí tuệ của anh, lại chẳng hề thấm đượm vào cảm xúc và phán đoán của anh về đồ đạc trong nhà, về phụ nữ, hay về sự ao ước được thiên hạ biết đến (mà không cần anh mở miệng) rằng anh xuất thân dòng dõi hơn các vị bác sĩ nông thôn khác. Anh hiện chưa có ý định nghĩ ngợi về đồ đạc trong nhà; nhưng bất cứ khi nào anh làm thế, người ta chỉ e rằng cả sinh học lẫn các kế hoạch cải cách đều chẳng thể nâng anh vượt lên khỏi sự tầm thường của cảm giác cho rằng sẽ là một sự bất dung hợp nếu đồ đạc của mình không phải loại thượng hạng.

Còn về phụ nữ, anh từng có một lần lao đầu vào sự ngu ngốc bồng bột — điều mà anh tự nhủ sẽ là lần cuối cùng, bởi vì hôn nhân ở một tương lai xa xôi nào đó tất nhiên sẽ không bồng bột. Đối với những ai muốn tìm hiểu về Lydgate, thật tốt khi biết về vụ việc bồng bột ấy, bởi nó có thể đứng làm ví dụ cho sự chệch hướng thất thường của đam mê mà anh dễ mắc phải, đi kèm với lòng tốt hiệp nghĩa từng góp phần biến anh thành một con người đáng mến về mặt đạo đức. Câu chuyện có thể được kể gọn trong vài lời. Nó xảy ra khi anh đang theo học ở Paris, ngay đúng thời điểm mà ngoài công việc khác, anh đang bận rộn với một số thí nghiệm điện thế galvanic. Một buổi tối nọ, kiệt sức vì những thí nghiệm, và không thể moi ra được những dữ kiện mình cần, anh bèn để mặc đám ếch nhái và thỏ nhắm mắt xuôi tay dưới số phận đầy thử thách và bí ẩn của những cú giật điện không lời giải thích, để đi tận hưởng phần còn lại của buổi tối tại nhà hát Porte Saint Martin, nơi đang công chiếu một vở kịch gia dường mà anh đã xem đi xem lại mấy lần; bị thu hút, không phải bởi ngòi bút khéo léo của các tác giả cộng tác, mà bởi một nữ diễn viên có vai diễn là đâm chết người tình vì lầm tưởng anh ta là vị công tước tà ác trong vở kịch. Lydgate đem lòng yêu nữ diễn viên này, theo cái cách một người đàn ông yêu một người phụ nữ mà anh ta chẳng bao giờ mong có ngày được nói chuyện cùng. Nàng là người xứ Provençale, sở hữu đôi mắt đen thẳm, chiếc mũi dọc dừa, cùng vóc dáng tròn trịa uy nghi, mang loại nhan sắc toát lên nét đằm thắm dịu dàng ngay cả khi tuổi đời còn trẻ, và giọng nói thì ngọt ngào tựa tiếng chim gù. Nàng chỉ mới đến Paris gần đây, mang tiếng là một người phụ nữ đoan chính, có chồng diễn chung trong vai người tình bất hạnh. Chỉ có diễn xuất của nàng là “chẳng được đoan chính cho lắm,” nhưng công chúng thì vẫn vô cùng thỏa mãn. Niềm khuây khỏa duy nhất của Lydgate lúc bấy giờ là đến ngắm nhìn người phụ nữ này, hệt như cách anh thả mình dưới hơi thở nồng nàn của cơn gió nam trên thảm hoa violet trong chốc lát, chẳng hề làm ảnh hưởng đến các thí nghiệm galvanic mà anh sẽ quay lại ngay sau đó. Thế nhưng vào buổi tối hôm nay, vở kịch cũ lại mang một thảm kịch mới. Vào khoảnh khắc nữ chính chuẩn bị diễn màn đâm người tình, và anh ta sắp ngã xuống thật duyên dáng, người vợ lại thực sự đâm chết chồng mình, khiến anh ta ngã gục theo ý muốn của tử thần. Một tiếng thét kinh hoàng xé toạc rạp hát, và nàng thiếu nữ xứ Provençale ngã quỵ bất tỉnh: một tiếng thét và một cú ngất xỉu là những thứ vở kịch đòi hỏi, nhưng lần này cú ngất xỉu ấy lại là thật. Lydgate lao lên và trèo qua, anh chẳng nhớ rõ mình làm thế nào, lên tới sân khấu, và tích cực tham gia cứu giúp, làm quen với nữ chính bằng cách phát hiện ra một vết bầm trên đầu nàng và nhẹ nhàng ôm nàng vào lòng. Paris rúng động vì câu chuyện về cái chết này: — đó có phải một vụ mưu sát hay không? Một vài kẻ hâm mộ nhiệt thành nhất của nữ diễn viên có xu hướng tin vào tội lỗi của nàng, và lại càng yêu mến nàng hơn vì điều đó (gu thẩm mỹ thời bấy giờ là vậy); nhưng Lydgate không nằm trong số đó. Anh kịch liệt tranh cãi để minh oan cho nàng, và thứ tình cảm xa xôi vô thực dành cho nhan sắc của nàng thuở trước giờ đây đã chuyển hóa thành lòng tận tụy cá nhân, cùng nỗi niềm xót xa cho số phận nàng. Ý niệm về một vụ mưu sát là hoàn toàn nhảm nhí: chẳng tìm ra nổi một động cơ nào, vì ai nấy đều đinh ninh cặp vợ chồng trẻ này yêu nhau thắm thiết; và việc một cú trượt chân vô tình dẫn đến những hậu quả trầm trọng như thế không phải là chưa từng có tiền lệ. Cuộc điều tra của pháp luật khép lại với việc Madame Laure được phóng thích. Đến lúc này, Lydgate đã có rất nhiều buổi trò chuyện riêng với nàng, và nhận ra nàng ngày càng trở nên đáng yêu bội phần. Nàng ít nói; nhưng đó lại là một nét quyến rũ bổ sung. Nàng u sầu và tỏ ra biết ơn; sự hiện diện của nàng là quá đủ, tựa như ánh hoàng hôn dịu ngọt. Lydgate điên cuồng lo lắng về tình cảm của nàng, và ghen tuông không muốn bất kỳ gã đàn ông nào khác ngoài mình chiếm được trái tim nàng và ngỏ lời cầu hôn. Thế nhưng thay vì nhận lời diễn lại ở nhà hát Porte Saint Martin — nơi nàng sẽ càng trở nên nổi tiếng hơn nhờ sự cố định mệnh ấy — nàng lặng lẽ rời khỏi Paris mà không báo trước, bỏ lại sau lưng cả triều đình những kẻ hâm mộ. Có lẽ chẳng ai theo đuổi việc dò la ngoài Lydgate, kẻ cảm thấy mọi ngành khoa học đều ngưng trệ trong lúc anh tưởng tượng về bất hạnh của Laure, bị dằn vặt bởi nỗi đau miên man, tự mình lang thang và chẳng tìm nổi một bờ vai an ủi trung thực. Dù vậy, những nữ diễn viên ẩn mình không phải là quá khó tìm so với những sự thật khuất lấp khác, và chẳng bao lâu sau, Lydgate đã thu thập được những dấu hiệu cho thấy Laure đã chọn con đường đến Lyons. Cuối cùng anh cũng tìm thấy nàng đang diễn xuất vô cùng ăn khách tại Avignon dưới chính cái tên cũ, trông còn uy nghi hơn trước trong hình ảnh một người vợ bị ruồng bỏ bồng con trên tay. Anh trò chuyện với nàng sau buổi diễn, được đón tiếp bằng sự tĩnh lặng quen thuộc mà anh thấy đẹp đẽ như làn nước trong vắt đến tận đáy, và xin phép được đến thăm vào ngày hôm sau; khi ấy anh quyết tâm thổ lộ rằng mình vô cùng tôn sùng nàng, và ngỏ lời cầu hôn. Anh thừa nhận việc này giống như sự bốc đồng bất thình lình của một kẻ điên — hoàn toàn mâu thuẫn ngay cả với những thói hư tật xấu thường ngày của mình. Mặc thây nó! Đó là điều duy nhất anh quả quyết sẽ thực hiện. Dường như bên trong anh tồn tại hai con người, và họ buộc phải học cách dung hòa lẫn nhau cũng như gánh vác những sự kìm hãm qua lại. Thật kỳ lạ làm sao khi có những kẻ trong chúng ta, với tầm nhìn luân phiên chớp nhoáng, lại nhìn thấu những nỗi si mê cuồng dại của mình, và ngay cả trong lúc đang gào thét trên đỉnh cao, vẫn thấy được vùng bình nguyên rộng lớn nơi cái tôi kiên định của chúng ta đang dừng chân và chờ đợi.

Tiếp cận Laure bằng bất kỳ lời cầu hôn nào thiếu đi sự dịu dàng đầy cung kính thì quả là đi ngược lại hoàn toàn với mọi cảm xúc của anh dành cho nàng.

“Anh đã lặn lội từ tận Paris đến đây để tìm em ư?” nàng cất lời hỏi anh vào hôm sau, ngồi trước mặt anh với hai tay khoanh lại, và nhìn anh bằng đôi mắt mang vẻ ngơ ngác của một loài thú hoang dã đang nhai lại. “Đàn ông Anh quốc ai cũng thế cả sao?”

“Anh đến vì không thể sống nổi nếu cứ mãi không được nhìn thấy em. Em cô độc; anh yêu em; anh muốn em đồng ý làm vợ anh; anh sẽ chờ đợi, nhưng anh muốn em hứa là sẽ cưới anh — không cưới một ai khác.”

Laure lặng lẽ nhìn anh với ánh hào quang u sầu tỏa ra từ bên dưới hàng mi cao quý, cho đến khi anh ngập tràn sự chắc chắn đầy ngất ngây, liền quỳ sụp xuống ngay sát đầu gối nàng.

“Em sẽ nói cho anh nghe điều này,” nàng cất giọng ngọt ngào thủ thỉ, đôi tay vẫn khoanh nguyên vị trí. “Chân em thực sự đã trượt.”

“Anh biết, anh biết mà,” Lydgate phân trần, giọng đầy vẻ van nài. “Đó là một tai nạn chết người — một đòn giáng kinh hoàng của định mệnh càng buộc chặt anh vào em hơn.”

Laure lại chần chừ giây lát rồi chầm chậm cất lời: “Em cố ý làm thế đấy.”

Lydgate, dẫu là một người đàn ông cường tráng, bỗng tái mặt và run lẩy bẩy: dường như phải mất cả một quãng thời gian dài anh mới đứng dậy và lùi ra đứng cách xa nàng.

“Hóa ra có một bí mật,” cuối cùng anh thốt lên, giọng đầy phẫn uất. “Hắn ta đã đối xử tàn bạo với em: em căm ghét hắn.”

“Không! Hắn làm em phát chán; hắn quá ư quấn quýt: hắn muốn sống ở Paris, chứ không chịu ở quê nhà của em; điều đó làm em không tài nào chịu nổi.”

“Lạy Chúa vĩ đại!” Lydgate rên rỉ đầy kinh hoàng. “Và em đã lên kế hoạch sát hại hắn ư?”

“Em chẳng lên kế hoạch gì cả: nó đến với em ngay trong vở kịch — em cố ý làm thế.”

Lydgate đứng chết lặng, vô thức ấn chặt chiếc vành mũ trong lúc đăm đăm nhìn nàng. Anh đang ngắm nhìn người phụ nữ này — bóng hồng đầu tiên được anh dâng hiến niềm sùng bái tuổi trẻ — giữa chốn dung thân của lũ tội phạm ngu ngốc.

“Anh là một thanh niên tốt,” nàng bảo. “Nhưng em không thích chồng. Em sẽ chẳng bao giờ lấy chồng nữa đâu.”

Ba ngày sau, Lydgate đã trở lại với những thí nghiệm điện galvanic trong căn phòng trọ ở Paris, đinh ninh rằng mọi ảo mộng đối với anh đã chấm dứt. Anh được cứu rỗi khỏi sự chai sạn tâm hồn nhờ tấm lòng nhân hậu bao la và niềm tin rằng cuộc đời con người hoàn toàn có thể trở nên tốt đẹp hơn. Thế nhưng anh càng có thêm lý do để tin tưởng vào phán đoán của mình, giờ đây khi nó đã trở nên từng trải; và từ nay về sau anh sẽ áp dụng một cái nhìn hoàn toàn khoa học đối với phụ nữ, không ôm ấp bất kỳ kỳ vọng nào ngoài những điều đã được chứng minh trước.

Chẳng một ai ở Middlemarch có được hình dung về quá khứ của Lydgate như những dòng phác thảo mờ nhạt ở đây, và quả thực những cư dân đáng kính ở đó cũng chẳng mặn mà hơn người phàm nói chung trong việc nhiệt thành mưu cầu sự chính xác khi tự vẽ ra trong đầu những thứ không lọt vào tầm mắt của chính họ. Không chỉ những thiếu nữ trong thị trấn ấy, mà cả những gã đàn ông râu tóc điểm bạc cũng thường vội vã phỏng đoán xem một vị quen mới có thể được nhào nặn ra sao cho phù hợp với mục đích của họ, thỏa mãn với một thứ kiến thức vô cùng mơ hồ về cách mà cuộc đời đã nhào nặn anh ta cho vai trò công cụ ấy. Trên thực tế, Middlemarch đinh ninh rằng họ sẽ nuốt trọn Lydgate và tiêu hóa anh một cách vô cùng êm ái.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.