“Một đứa trẻ bị bỏ rơi, bừng tỉnh giấc,
Với ánh mắt sợ hãi đảo nhìn muôn phía,
Chỉ thấy rằng mình chẳng thể tìm ra
Ánh mắt yêu thương đang hướng về nhau.”
Hai tiếng đồng hồ sau, Dorothea đang ngồi trong một căn phòng nhỏ hay còn gọi là phòng khách riêng bên trong một căn hộ sang trọng ở phố Via Sistina.
Tôi rất tiếc phải nói thêm rằng nàng đang nức nở nghẹn ngào, buông thả cho sự giải thoát của một cõi lòng trĩu nặng mà một người phụ nữ vốn quen kìm nén vì lòng kiêu hãnh của bản thân và sự chu đáo với người khác đôi khi cho phép mình làm khi cảm thấy thực sự cô độc. Và ông Casaubon chắc chắn sẽ còn vắng mặt ở Vatican thêm một khoảng thời gian nữa.
Thế nhưng Dorothea chẳng có một nỗi uất ức nào rõ hình hài để có thể giãi bày ngay cả với chính mình; và giữa mớ suy nghĩ lẫn cảm xúc hỗn độn ấy, điều duy nhất đang cựa quậy để dần trở nên sáng tỏ trong tâm trí nàng là một tiếng kêu tự trách rằng cảm giác hoang vắng này là lỗi do sự nghèo nàn về tinh thần của chính nàng. Nàng đã kết hôn với người đàn ông do chính mình lựa chọn, và có một lợi thế hơn hầu hết các cô gái khác là nàng từng xem cuộc hôn nhân của mình chủ yếu như sự khởi đầu của những bổn phận mới: ngay từ đầu, nàng đã nghĩ về ông Casaubon như một người có trí tuệ vượt trội hơn hẳn, nên ông ắt hẳn phải thường xuyên bận tâm cho những nghiên cứu mà nàng không thể hoàn toàn chia sẻ; hơn thế nữa, sau quãng đời thiếu nữ ngắn ngủi và chật hẹp, nàng đang tận mắt chiêm ngưỡng Rome, thành phố của lịch sử hữu hình, nơi quá khứ của cả một bán đảo dường như đang diễu hành trong một đám tang buồn bã với những hình nhân tổ tiên kỳ lạ và những chiến lợi phẩm thu nhặt từ chốn xa xôi.
Nhưng sự rời rạc vĩ đại ấy lại làm tăng thêm vẻ kỳ lạ tựa chiêm bao trong đời sống vợ chồng của nàng. Dorothea đã ở Rome được năm tuần, và vào những buổi sáng dịu dàng khi mùa thu và mùa đông dường như tay trong tay tựa một cặp vợ chồng già hạnh phúc mà một người rồi đây sẽ sống sót trong sự cô đơn lạnh lẽo hơn, ban đầu nàng hay đi dạo bằng xe ngựa cùng ông Casaubon, nhưng thời gian gần đây chủ yếu đi với Tantripp và người dẫn đường giàu kinh nghiệm của họ. Nàng đã được đưa đi thăm những phòng tranh đẹp nhất, được dẫn đến những thắng cảnh chính, được ngắm nhìn những tàn tích hùng vĩ nhất cùng những ngôi nhà thờ lộng lẫy nhất, và kết cục là nàng thường chọn đi xe ra vùng Campagna, nơi nàng có thể cảm thấy đơn độc với đất trời, tránh xa sự hóa trang ngột ngạt của muôn thuở—nơi mà cuộc đời chính nàng dường như cũng biến thành một chiếc mặt nạ với những y phục đầy ẩn ý.
Đối với những ai ngắm nhìn Rome với nguồn sức mạnh khơi gợi từ tri thức—thứ thổi một linh hồn đang lớn dần vào mọi hình hài lịch sử, và dò tìm những khúc chuyển tiếp ngầm nối kết mọi sự tương phản—Rome có thể vẫn là trung tâm tinh thần và là kẻ thông dịch cho thế giới. Nhưng hãy tưởng tượng thêm một sự tương phản lịch sử nữa: những mặc khải vỡ vụn khổng lồ của thành phố Đế chế và Giáo hoàng ấy bỗng nhiên giáng xuống tâm trí một cô gái lớn lên trong nền Thanh giáo Anh và Thụy Sĩ, được nuôi dưỡng bằng những cuốn sách lịch sử Tin Lành nghèo nàn và nghệ thuật kiểu bình phong cầm tay; một cô gái có bản tính nồng nhiệt, luôn biến chút kiến thức ít ỏi của mình thành các nguyên tắc, nhào nặn hành động của bản thân theo khuôn mẫu ấy, và có những cảm xúc nhạy bén biến mọi điều trừu tượng nhất thành một nguồn vui hay nỗi đau; một cô gái vừa mới trở thành vợ, từ chỗ nhiệt thành đón nhận một bổn phận chưa từng trải nghiệm, nay lại thấy mình chìm ngập trong những bận tâm hỗn độn với số phận cá nhân. Sức nặng của thành phố Rome khó hiểu ấy có lẽ chẳng hề hấn gì đối với những nàng tiên cá tươi vui, những kẻ xem nơi đây làm phông nền cho những buổi dã ngoại rực rỡ của giới thượng lưu Anglo-foreign; nhưng Dorothea lại chẳng có tấm lá chắn nào như thế trước những ấn tượng sâu sắc. Những phế tích và vương cung thánh đường, cung điện và tượng khổng lồ, đặt giữa một thực tại tồi tàn, nơi mọi thứ sống động và ấm áp dường như chìm đắm trong sự suy đồi sâu sắc của một thứ tín ngưỡng đã ly khai lòng tôn kính; thứ đời sống Titan mờ ảo nhưng đầy khao khát đang ngắm nhìn và giãy giụa trên những bức tường và trần nhà; những dãy hành lang dài với những hình khối trắng mà đôi mắt bằng đá dường như chứa đựng thứ ánh sáng đơn điệu của một thế giới xa lạ: tất cả đống đổ nát mênh mông ấy của những lý tưởng đầy tham vọng, vừa nhục cảm vừa tâm linh, trộn lẫn hỗn độn với những dấu hiệu của sự lãng quên đầy hơi thở sống và sự suy thoái, thoạt đầu va đập vào nàng như một cú sốc điện, rồi sau đó áp đảo nàng với nỗi đau đớn nhức nhối vốn thuộc về một sự quá tải những ý tưởng hỗn độn làm cản trở dòng chảy cảm xúc. Cả những hình hài nhợt nhạt lẫn rực rỡ đều chiếm lấy giác quan non trẻ của nàng, khắc sâu vào ký ức ngay cả khi nàng không nghĩ đến chúng, chuẩn bị sẵn những mối liên tưởng kỳ lạ theo suốt những năm tháng sau này của nàng. Tâm trạng của chúng ta thường mang theo những hình ảnh nối tiếp nhau như những slide đèn chiếu trong lúc thiu thiu ngủ; và trong những trạng thái cô dơng buồn tẻ nhất, Dorothea suốt cả cuộc đời vẫn tiếp tục nhìn thấy sự mênh mông của nhà thờ St. Peter, chiếc lán đồng khổng lồ, ý đồ đầy kích động trong tư thế và y phục của các nhà tiên tri và thánh sử trên những bức tranh khảm ở phía trên, cùng tấm vải rèm đỏ đang được giăng lên cho lễ Giáng sinh rải khắp mọi nơi giống như một căn bệnh của võng mạc.
Không phải là sự kinh ngạc nội tâm này của Dorothea là điều gì đó quá mức ngoại lệ: nhiều tâm hồn trong sự trần trụi tuổi trẻ bị ném giữa những điều bất tương hợp và bị bỏ mặc để “tự đứng vững trên đôi chân mình” giữa chúng, trong khi những người lớn tuổi bận rộn với công việc riêng. Tôi cũng không thể cho rằng khi người ta phát hiện ra bà Casaubon đang khóc nức nở sáu tuần sau lễ cưới, tình huống ấy sẽ bi coi là bi kịch. Chút nản lòng, chút chùng lòng trước tương lai thực tế mới thay thế cho cõi mộng tưởng vốn không phải là điều bất thường, và chúng ta không mong đợi mọi người phải xúc động sâu sắc trước những điều không có gì bất thường. Yếu tố bi kịch vốn nằm ngay trong chính bản chất tuần hoàn ấy vẫn chưa ngấm vào cảm xúc thô mộc của loài người; và có lẽ thể xác chúng ta khó lòng chịu đựng nổi điều đó. Nếu chúng ta có tầm nhìn và cảm nhận nhạy bén về mọi đời sống con người bình thường, điều đó sẽ giống như nghe tiếng cỏ mọc và tiếng tim sóc đập, và chúng ta sẽ chết vì cái âm thanh gầm rú nằm ở phía bên kia sự im lặng. Cứ cho là vậy, những kẻ lanh lợi nhất trong chúng ta vẫn đi lại với một lớp đệm sự ngu ngốc dày cộp.
Dù sao đi nữa, Dorothea vẫn đang khóc, và nếu buộc phải nêu rõ nguyên nhân, nàng chỉ có thể diễn tả bằng những từ ngữ chung chung mà tôi vừa sử dụng: việc bị ép phải kể chi tiết hơn chẳng khác nào cố gắng viết lại lịch sử của ánh sáng và bóng tối, bởi vì tương lai thực tế mới đang thay thế cõi mộng tưởng ấy được rút ra từ vô số chi tiết nhỏ nhặt, qua đó cách nhìn của nàng về ông Casaubon và mối quan hệ vợ chồng, giờ đây khi đã kết hôn với ông, đang dần thay đổi theo chuyển động thầm lặng của kim đồng hồ so với những gì từng có trong giấc mơ thời thiếu nữ của nàng. Vẫn còn quá sớm để nàng nhận thức trọn vẹn hoặc ít nhất là thừa nhận sự thay đổi ấy, lại càng quá sớm để nàng tái điều chỉnh lòng tận tụy vốn là một phần thiết yếu trong đời sống tinh thần đến mức sớm muộn gì nàng cũng chắc chắn tìm lại được nó. Sự nổi loạn vĩnh viễn, sự rối loạn của một đời sống thiếu vắng những quyết tâm yêu thương và kính trọng, là điều không thể đối với nàng; nhưng nàng đang ở trong một khoảng thời gian mà chính sức mạnh bản tính của nàng lại làm tăng thêm sự rối bời của nó. Cứ thế, những tháng đầu tiên của hôn nhân thường là những thời điểm biến động đầy khủng hoảng—dù là trong một vũng nước nhỏ hay vùng biển sâu hơn—để rồi sau đó lắng xuống thành sự bình yên vui vẻ.
Nhưng chẳng phải ông Casaubon vẫn uyên bác như xưa đó sao? Các hình thức diễn đạt của ông đã thay đổi, hay tình cảm của ông đã kém phần đáng ca ngợi đi sao? Ôi sự bướng bỉnh của cõi nữ nhi! Hệ thống niên đại của ông có sai sót gì chăng, hay khả năng trình bày không chỉ một học thuyết mà cả tên của những kẻ ủng hộ nó; hay sự chuẩn bị để đưa ra các ý chính của bất kỳ chủ đề nào theo yêu cầu? Và chẳng phải Rome là nơi trên toàn thế giới tạo không gian tự do cho những tài năng ấy phát huy đó sao? Thêm nữa, chẳng phải sự nhiệt tình của Dorothea từng đặc biệt đặt vào viễn cảnh làm giảm bớt sức nặng và có lẽ cả nỗi buồn mà những nhiệm vụ lớn lao đè nặng lên vai người phải hoàn thành chúng hay sao? — Và việc sức nặng ấy đang đè nặng lên ông Casaubon lại càng hiển hiện rõ hơn trước.
Tất cả những điều đó đều là những câu hỏi nghiền nát tâm can; nhưng dù mọi thứ khác có giữ nguyên, ánh sáng đã thay đổi, và bạn không thể tìm thấy ánh bình minh ngọc ngà vào giữa ban trưa. Sự thật không thể thay đổi rằng một con người bằng xương bằng thịt mà bản tính của bạn chỉ được biết đến qua những lần ghé đến và rời đi chớp nhoáng trong vài tuần lễ mộng mơ gọi là thời gian tán tỉnh, khi được nhìn nhận trong tính liên tục của sự gắn bó vợ chồng, có thể lộ ra là một kẻ tốt hơn hoặc tệ hơn những gì bạn từng tưởng tượng trước đó, nhưng chắc chắn sẽ không xuất hiện hoàn toàn giống hệt. Và sẽ thật đáng kinh ngạc nếu nhận ra sự thay đổi ấy diễn ra nhanh chóng nhường nào nếu chúng ta không có những sự thay đổi tương tự để so sánh. Việc chia sẻ phòng trọ với một bạn ăn tối xuất sắc, hay nhìn thấy chính trị gia yêu thích của bạn gia nhập Nội các, có thể mang lại những thay đổi nhanh chóng không kém: trong những trường hợp đó, chúng ta cũng bắt đầu bằng việc biết rất ít và tin tưởng rất nhiều, để rồi đôi khi kết thúc bằng cách đảo ngược các tỷ trọng ấy.
Tuy vậy, những sự so sánh như thế có thể gây lừa phỉnh, bởi chẳng có người đàn ông nào kém khả năng làm hàng mã lòe loẹt hơn ông Casaubon: ông là một nhân vật chân thật hệt như bất kỳ loài động vật nhai lại nào, và ông chưa từng chủ động góp phần tạo ra bất kỳ ảo tưởng nào về bản thân mình. Làm sao mà trong những tuần lễ kể từ khi kết hôn, Dorothea lại không nhận thấy một cách rõ ràng mà thay vào đó lại cảm nhận bằng một nỗi chán nản ngột ngạt rằng những khoảng không gian bao la và luồng không khí tươi mát rộng lớn mà nàng từng mơ ước tìm thấy trong tâm trí chồng mình nay đã được thay thế bằng những phòng đợi và hành lang ngoằn ngoèo dường như chẳng dẫn đến đâu cả? Tôi cho rằng trong thời gian tán tỉnh, mọi thứ đều được xem là tạm thời và dẫu chỉ là bước dạo đầu, và mẫu vật nhỏ nhất về đức hạnh hay tài năng đều được đón nhận như sự bảo chứng cho những kho tàng tuyệt vời mà sự thảnh thơi rộng mở của hôn nhân sẽ hé lộ. Nhưng một khi đã bước qua ngưỡng cửa hôn nhân, mọi kỳ vọng đều tập trung vào hiện tại. Một khi đã dấn thân vào cuộc hành trình hôn nhân, bạn không thể không nhận ra rằng mình chẳng tiến thêm được bước nào và biển cả thì chẳng thấy đâu—rằng trên thực tế, bạn đang thám hiểm một cái ao tù được rào kín.
Trong những cuộc trò chuyện trước khi kết hôn, ông Casaubon thường xoáy sâu vào một số lời giải thích hoặc chi tiết đáng ngờ nào mà Dorothea không hiểu rõ ý nghĩa; nhưng sự gắn kết lỏng lẻo ấy dường như là do sự gián đoạn trong việc giao tiếp của họ, và được nâng đỡ bởi niềm tin vào tương lai của cả hai, nàng từng lắng nghe với sự kiên nhẫn thiết tha khi ông ngâm dài những luận điểm khả dĩ sẽ được đưa ra để chống lại quan điểm hoàn toàn mới lạ của ông về vị thần Dagon của người Philistine và các vị thần cá khác, với suy nghĩ rằng sau này nàng sẽ nhìn nhận chủ đề vô cùng gần gũi với ông ấy từ cùng một đỉnh cao mà chắc chắn nó đã trở nên quan trọng đối với ông. Một lần nữa, cách nói năng đương nhiên cùng giọng điệu phớt lờ mà ông dùng để đối đãi với những tư tưởng sôi nổi nhất đối với nàng lại dễ dàng được giải thích là thuộc về cảm giác vội vã và bận rộn mà chính nàng cũng dự phần trong thời gian đính hôn. Nhưng giờ đây, kể từ khi họ đến Rome, với tất cả chiều sâu cảm xúc bị đánh thức thành hoạt động náo động, và với cuộc đời trở thành một bài toán mới với những yếu tố mới, nàng ngày càng nhận thức được với một nỗi sợ hãi mơ hồ rằng tâm trí mình liên tục trượt vào những cơn giận dữ và cự tuyệt ngầm, hoặc rơi vào sự mệt mỏi hoang vắng. Chàng hiệp sĩ uyên bác Hooker hay bất kỳ bậc anh hào học thức nào khác sẽ cư xử ra sao ở độ tuổi của ông Casaubon, nàng hoàn toàn không có cách nào biết được, thế nên ông không có được lợi thế từ sự so sánh ấy; nhưng cách chồng nàng bình luận về những hiện vật có sức lay động kỳ lạ xung quanh bắt đầu mang lại cho nàng một cảm giác rùng mình trong tâm trí: ông có lẽ có ý định tốt nhất là thể hiện bản thân thật xứng đáng, nhưng chỉ là để thể hiện bản thân mà thôi. Điều gì còn mới mẻ đối với tâm trí nàng thì đã trở nên mòn mỏi đối với ông; và năng lực suy nghĩ hay cảm xúc từng được kích thích nơi ông bởi đời sống chung của nhân loại từ lâu đã teo tóp lại thành một dạng chế phẩm khô khan, một sự ướp xác vô hồn của tri thức.
Khi ông nói: “Điều này có làm em hứng thú không, Dorothea? Chúng ta ở lại thêm một lát nhé? Anh sẵn sàng ở lại nếu em muốn,”—nàng cảm thấy việc đi hay ở đều ảm đạm như nhau. Hoặc: “Em có muốn đến Farnesina không, Dorothea? Nơi đó có những bức bích họa nổi tiếng do Raphael thiết kế hoặc vẽ, mà hầu hết mọi người đều nghĩ rất đáng để ghé thăm.”
“Nhưng anh có quan tâm đến chúng không?” luôn là câu hỏi của Dorothea.
“Anh tin là chúng rất được đánh giá cao. Một số bức vẽ lại câu chuyện ngụ ngôn về Cupid và Psyche, vốn có lẽ là phát minh lãng mạn của một thời kỳ văn học, và theo anh, không thể được tính là một sản phẩm thần thoại chính thống. Nhưng nếu em thích những bức tranh tường đó, chúng ta có thể dễ dàng đi xe đến đó; và khi ấy, anh nghĩ em đã được chiêm ngưỡng những tác phẩm chính của Raphael, mà sẽ thật tiếc nếu bỏ lỡ bất kỳ tác phẩm nào trong chuyến thăm Rome. Ông ấy là họa sĩ được cho là kết hợp hoàn hảo nhất giữa vẻ đẹp hình thể và sự siêu việt trong biểu cảm. Ít nhất đó là những gì anh thu nhận được từ ý kiến của giới am tường.”
Kiểu trả lời này được cất lên với một giọng điệu đều đặn, chính thức, tựa như một mục sư đang đọc kinh theo sách lễ, chẳng hề giúp tôn vinh vẻ rực rỡ của Thành phố Vĩnh cửu, hay mang lại cho nàng niềm hy vọng rằng nếu biết nhiều hơn về chúng, thế giới sẽ bừng sáng đầy hân hoan trước mắt nàng. Hầu như chẳng có cuộc tiếp xúc nào khiến một sinh linh trẻ trung nồng nhiệt cảm thấy chán nản hơn là việc đối diện với một tâm trí mà trong đó những năm tháng đong đầy tri thức dường như chỉ dẫn đến sự trống rỗng hoàn toàn của sự quan tâm hay đồng cảm.
Tuy nhiên, ở những chủ đề khác, ông Casaubon lại thể hiện một sự kiên trì theo đuổi và niềm hăng hái vốn thường được xem là biểu hiện của nhiệt huyết, và Dorothea rất muốn đi theo hướng tự phát này trong suy nghĩ của ông thay vì cảm thấy mình đang kéo ông ra khỏi đó. Nhưng nàng dần thôi không còn mong đợi với sự tự tin đầy thích thú như trước rằng mình sẽ nhìn thấy một khoảng trời rộng mở nào khi bước theo ông. Tệ thay, chính ông Casaubon cũng bị lạc lối giữa những căn phòng nhỏ và những bậc cầu thang ngoằn ngoèo, lạc lõng trong sự mập mờ đầy kích động về hội Cabeiri, hay trong việc vạch trần những sự so sánh thiếu suy nghĩ của các nhà nghiên cứu thần thoại khác, để rồi dễ dàng quên đi bất kỳ mục đích ban đầu nào đã thúc đẩy ông thực hiện những công trình này. Với ngọn nến cắm trước mặt, ông quên đi sự vắng bóng của những khung cửa sổ, và qua những lời chú thích đầy cay đắng về quan điểm của những người khác về các vị thần mặt trời, ông đã trở nên thờ ơ với ánh sáng ban ngày.
Những đặc điểm này, cố định và bất biến tựa xương cốt nơi ông Casaubon, có lẽ đã có thể kéo dài thêm thời gian không bị Dorothea cảm nhận ra nếu như nàng được khích lệ trút hết những tâm tư thiếu nữ và đàn bà của mình — nếu ông chịu cầm lấy đôi bàn tay nàng trong tay ông và lắng nghe bằng niềm vui của sự dịu dàng và thấu hiểu tất cả những câu chuyện nhỏ nhặt tạo nên trải nghiệm của nàng, rồi cũng trao lại cho nàng sự gần gũi tương tự, để quá khứ của mỗi người có thể hòa quyện vào tri thức và tình cảm chung của cả hai — hoặc nếu nàng có thể nuôi dưỡng tình cảm của mình bằng những âu yếm trẻ con vốn là xu hướng tự nhiên của bất kỳ người phụ nữ ngọt ngào nào, kẻ từng bắt đầu bằng việc phủ đầy những nụ hôn lên cái đầu cứng ngắc của con búp bê trọc đầu, thổi bùng một linh hồn hạnh phúc vào trong lớp gỗ khô khan ấy từ sự dồi dào trong tình yêu của chính mình. Đó chính là xu hướng của Dorothea. Với tất cả khát khao được thấu hiểu những điều xa vời và mang lại ơn huệ rộng lớn, nàng vẫn có đủ sự nồng nhiệt cho những điều gần gũi, sẵn sàng hôn lên tay áo của ông Casaubon, hay vuốt ve chiếc khóa giày của ông, nếu như ông chịu đưa ra bất kỳ dấu hiệu đón nhận nào thay vì tuyên bố với sự chuẩn mực không gì lay chuyển rằng nàng mang một bản tính vô cùng âu yếm và đích thực là nữ tính, đồng thời thể hiện qua hành động lịch sự kéo một chiếc ghế ra cho nàng rằng ông xem những biểu hiện ấy là có phần thô kệch và gây sửng sốt. Sau khi đã chăm chút cho bộ y phục giáo sỹ của mình một cách chu đáo vào buổi sáng, ông chỉ sẵn sàng đón nhận những sự nhã nhặn trong đời sống vốn phù hợp với chiếc cà vạt cứng được thắt ngay ngắn của thời đại ấy, và với một tâm trí đè nặng bởi những tài liệu chưa được xuất bản.
Và bởi một sự mâu thuẫn phũ phàng, những ý tưởng và quyết tâm của Dorothea dường như tan chảy tựa khối băng trôi và chìm nghỉm trong dòng nước ấm áp mà chúng từng chỉ là một dạng thể khác. Nàng vô cùng hổ thẹn khi thấy mình chỉ là một nạn nhân của cảm xúc, cứ như thể nàng chẳng thể thấu hiểu điều gì ngoài lăng kính ấy: toàn bộ sức mạnh của nàng bị phân tán trong những cơn dao động, giấu diếm sự đấu tranh, tuyệt vọng, rồi lại chìm vào những viễn cảnh từ bỏ triệt để hơn, biến mọi hoàn cảnh khắc nghiệt thành bổn phận. Tội nghiệp Dorothea! Quả thực nàng rất phiền phức—chủ yếu là đối với chính mình; nhưng vào buổi sáng hôm nay, lần đầu tiên nàng đã trở thành một nguồn phiền toái đối với ông Casaubon.
Nàng đã bắt đầu, khi họ đang dùng cà phê, với quyết tâm rũ bỏ thứ mà nàng thầm gọi là sự ích kỷ của mình, và quay sang nhìn chồng với một gương mặt đong đầy sự chú ý vui vẻ khi ông cất lời: “Dorothea yêu quý của anh, giờ đây chúng ta phải nghĩ đến tất cả những gì còn dang dở, như một bước đệm cho việc lên đường trở về. Anh rất muốn về nhà sớm hơn để chúng ta có thể ở Lowick kịp đón Giáng sinh; nhưng những câu hỏi của anh ở đây đã bị kéo dài hơn dự kiến. Tuy nhiên, anh hy vọng rằng khoảng thời gian ở đây đã trôi qua không mấy tẻ nhạt đối với em. Trong số các thắng cảnh của châu Âu, Rome vẫn luôn được xem là một trong những nơi nổi bật nhất và theo một số khía cạnh là mang tính giáo huấn nhất. Anh nhớ rất rõ rằng anh từng coi đó là một dấu mốc trong đời khi đến thăm nơi này lần đầu tiên; sau sự sụp đổ của Napoleon, một sự kiện đã mở cửa lục địa cho du khách. Thật vậy, anh nghĩ đây là một trong số vài thành phố mà người ta đã dùng một cách nói phóng đại cực độ—‘Hãy ngắm Rome rồi chết:’ nhưng trong trường hợp của em, anh xin đề xuất một sự sửa đổi và nói rằng, Hãy ngắm Rome như một cô dâu, và từ nay về sau sống như một người vợ hạnh phúc.”
Ông Casaubon thốt lên bài diễn văn nhỏ này với dụng ý tận tâm nhất, chớp chớp mắt vài lần và gật gù cái đầu lên xuống, kết thúc bằng một nụ cười. Ông không thấy hôn nhân là một trạng thái ngất ngây say đắm, nhưng ông chẳng có ý định nào khác ngoài việc trở thành một người chồng không chê vào đâu được, người sẽ mang lại cho một cô gái trẻ duyên dáng niềm hạnh phúc xứng đáng với nàng.
“Em hy vọng anh hoàn toàn hài lòng với kỳ nghỉ này—ý em là, với kết quả đạt được trong các nghiên cứu của anh,” Dorothea nói, cố gắng giữ tâm trí tập trung vào những điều ảnh hưởng sâu sắc nhất đến chồng mình.
“Ừm,” ông Casaubon đáp, với cao độ giọng nói đặc biệt khiến từ ấy mang một nửa sắc thái phủ định. “Anh đã bị cuốn đi xa hơn dự kiến, và nhiều chủ đề chú thích khác nhau đã xuất hiện mà dù không trực tiếp cần đến, anh vẫn không thể bỏ qua. Công việc này, dẫu có sự trợ giúp của thư ký, cũng là một việc khá nhọc nhằn, nhưng sự hiện diện của em đã may mắn ngăn cản anh sa vào việc theo đuổi suy nghĩ quá liên tục vượt quá giờ nghiên cứu—cạm bẫy trong đời sống đơn độc trước đây của anh.”
“Em rất vui vì sự hiện diện của em đã mang lại chút thay đổi cho anh,” Dorothea nói, nàng vẫn còn hằn in ký ức sống động về những buổi tối mà nàng từng cho rằng tâm trí ông Casaubon đã chìm quá sâu trong ngày để có thể trồi lên mặt nước được nữa. E rằng đã có chút hờn gỗi trong câu trả lời của nàng. “Em hy vọng khi chúng ta về đến Lowick, em sẽ hữu ích hơn với anh, và có thể thấu hiểu sâu sắc hơn những điều anh quan tâm.”
“Chắc chắn rồi, mình ạ,” ông Casaubon nói, khẽ cúi đầu. “Những ghi chú anh làm ở đây sẽ cần phải được sàng lọc, và nếu muốn, em có thể trích xuất chúng theo chỉ dẫn của anh.”
“Và tất cả các bản ghi chú của anh,” Dorothea nói, trái tim nàng đã sục sôi về chủ đề này từ trước nên giờ đây không tài nào kìm giữ được đôi môi. “Toàn bộ những dãy tập sách ấy—anh sẽ không làm điều mà anh từng hay nói đến sao? Anh sẽ không quyết định xem phần nào trong số đó sẽ được dùng đến, và bắt đầu viết cuốn sách biến tri thức bao la của anh thành hữu ích cho thế giới hay sao? Em sẽ viết theo lời đọc của anh, hoặc em sẽ chép lại và trích xuất những gì anh bảo: em chẳng thể làm được việc gì khác.” Dorothea, theo một cách thức kỳ lạ không tài nào hiểu nổi, đậm chất nữ tính đầy u uất, kết thúc câu nói bằng một tiếng nức nở nhẹ và đôi mắt đong đầy lệ.
Cảm xúc dâng trào quá mức ấy tự thân nó đã đủ gây phiền toái lớn cho ông Casaubon, nhưng còn có những lý do khác khiến lời nói của Dorothea nằm trong số những điều cay đắng và kích động nhất mà nàng có thể bị thúc giục phải thốt ra. Nàng cũng mù quáng trước những rắc rối nội tâm của ông hệt như ông đối với nàng: nàng vẫn chưa thấu hiểu những cuộc chiến ngầm nơi người chồng đòi hỏi sự thương cảm từ chúng ta. Nàng vẫn chưa kiên lắng nghe nhịp đập trái tim ông, mà chỉ cảm thấy lồng ngực mình đang đập dữ dội. Trong tai ông Casaubon, giọng nói của Dorothea như xoáy sâu và nhấn mạnh đầy lớn tiếng vào những gợi ý thầm kín của ý thức vốn có thể được giải thích chỉ là ảo tưởng đơn thuần, là sự hoang tưởng do quá nhạy cảm: khi những gợi ý ấy lặp đi lặp lại một cách không thể chối cãi từ bên ngoài, người ta luôn chống lại chúng như một sự tàn nhẫn và bất công. Chúng ta nổi giận ngay cả trước sự thừa nhận hoàn toàn những lời thú tội đầy hổ thẹn của mình—huống chi là khi phải nghe bằng những âm tiết cứng nhắc, rành mạch thốt ra từ môi của một kẻ quan sát gần gũi những tiếng lầm bầm hỗn độn mà chúng ta vẫn cố gọi là bệnh hoạn, và chốc chiến đấu chống lại như thể chúng là sự tê liệt đang lan tới. Và kẻ cáo buộc tàn nhẫn từ bên ngoài ấy lại hiện diện dưới hình hài của một người vợ—chưa hết, là một nàng dâu trẻ, kẻ thay vì ngắm nhìn những nét chữ nguệch ngoạc và những trang giấy ngập tràn của ông với sự kinh ngạc phi phê phán của một chú chim hoàng yến mang tâm hồn tao nhã, lại phơi bày như một thám tử theo dõi mọi thứ với khả năng suy diễn đầy ác ý. Tại đây, hướng về điểm la bàn đặc biệt này, ông Casaubon có một sự nhạy cảm tương xứng với Dorothea, và một phản xạ nhanh nhạy không kém trong việc tưởng tượng vượt quá sự thật. Trước đây, ông từng quan sát với sự tán thành năng lực tôn sùng đúng đối tượng của nàng; giờ đây, ông dự đoán với sự kinh hoàng đột ngột rằng năng lực ấy có thể bị thay thế bởi sự kiêu ngạo, sự tôn sùng ấy bởi thứ chỉ trích gây bực bội nhất—thứ chỉ trích nhìn thấy mơ hồ vô số mục đích tốt đẹp nhưng lại chẳng có nổi mảy may ý niệm về cái giá phải trả để vươn tới chúng.
Lần đầu tiên kể từ khi Dorothea quen biết ông, gương mặt ông Casaubon bừng lên một sắc đỏ giận dữ thoáng qua.
“Em yêu,” ông nói, với sự cáu kỉnh được kiềm chế bởi phép tắc lịch sự, “em có thể tin tưởng ở anh trong việc nắm bắt thời điểm và thời vận, những điều phù hợp với từng giai đoạn của một công trình không thể bị đo lường bằng những phỏng đoán dễ dãi của những kẻ đứng xem dốt nát. Thật dễ dàng để anh đạt được một hiệu ứng tạm thời bằng một ảo ảnh về những quan điểm vô căn cứ; nhưng thử thách muôn thuở của nhà thám hiểm cẩn trọng là việc bị chào đón bằng sự khinh miệt thiếu kiên nhẫn của những kẻ ba hoa, những kẻ chỉ mưu cầu những thành tựu nhỏ nhặt nhất, vốn chẳng được trang bị để làm gì khác. Và sẽ thật hay ho nếu tất cả những kẻ như thế được nhắc nhở để phân biệt những phán đoán mà đối tượng đích thực hoàn toàn vượt quá tầm với của họ, với những phán đoán mà các yếu tố có thể được thấu triệt qua một cái nhìn nông cạn và hẹp hòi.”
Bài phát biểu này được thốt ra với một năng lượng và sự trôi chảy hoàn toàn bất thường ở ông Casaubon. Quả thực nó không hoàn toàn là sự ứng khẩu ngẫu hứng, mà đã hình thành trong những cuộc độc thoại nội tâm, và tuôn trào như những hạt tròn bên trong một loại quả khi sức nóng đột ngột làm nó nứt toác. Dorothea không chỉ là vợ ông: nàng là hiện thân của thế giới nông cạn ấy bao quanh một tác giả được trân trọng hoặc đang chìm trong chán nản.
Đến lượt mình, Dorothea vô cùng phẫn nộ. Chẳng phải nàng đã kìm nén mọi thứ trong lòng ngoại trừ mong muốn được bước vào sự đồng điệu với những lợi ích cốt lõi của chồng mình đó sao?
“Phán đoán của em rất nông cạn—đúng với mức độ mà em có khả năng hình thành,” nàng đáp lại với một sự bất bình bộc trực, chẳng cần đến màn dạo đầu nào. “Anh đã cho em xem những dãy sổ tay—anh vẫn thường nhắc đến chúng—anh thường bảo rằng chúng cần được tổng hợp. Nhưng em chưa từng nghe anh nói về bản thảo sẽ được xuất bản. Đó đều là những sự thật rất đơn giản, và phán đoán của em chẳng đi xa hơn thế. Em chỉ cầu xin anh để em được làm điều gì đó hữu ích cho anh.”
Dorothea đứng dậy rời khỏi bàn và ông Casaubon không đáp lại, ông cầm lấy một lá thư đặt bên cạnh như thể để đọc lại. Cả hai đều bàng hoàng trước tình huống của chính họ—rằng mỗi người lại có thể bộc lộ sự giận dữ đối với người kia. Nếu họ ở nhà, ổn định cuộc sống tại Lowick giữa những người hàng xóm láng giềng, sự va chạm ấy sẽ bớt phần lúng túng hơn; nhưng trong một chuyến trăng mật, nơi mục đích rõ rành là cô lập hai con người với lý do họ là cả thế giới của nhau, cảm giác bất hòa thực sự, nói một cách nhẹ nhàng nhất, là điều gây bối rối và đần độn tột cùng. Việc thay đổi kinh độ một cách đáng kể và tự đẩy mình vào một sự cô độc về mặt đạo đức chỉ để gây ra những vụ nổ nhỏ, để thấy việc trò chuyện trở nên khó khăn và chuyền một ly nước mà chẳng thèm nhìn nhau, khó có thể được xem là sự hoàn mãn thỏa đáng ngay cả đối với những tâm trí cứng cỏi nhất. Đối với sự nhạy cảm non nớt của Dorothea, nó giống như một thảm họa, làm đảo lộn mọi viễn cảnh; và đối với ông Casaubon, đó là một nỗi đau mới, bởi ông chưa từng đi trăng mật bao giờ, hay tự đặt mình vào sự gắn kết cận kề ấy—thứ mang tính chất trói buộc nhiều hơn những gì ông có thể tưởng tượng, vì cô dâu trẻ duyên dáng này không chỉ buộc ông phải quan tâm chăm sóc rất nhiều (điều mà ông đã tận tụy thực hiện), mà còn hóa ra lại có khả năng làm ông tổn thương sâu sắc ngay tại nơi ông cần được xoa dịu nhất. Thay vì tìm được một lớp rào chắn mềm mại chống lại đám đông lạnh lùng, mờ ảo, không vỗ tay tán thưởng trong đời mình, phải chăng ông chỉ đang rước về một sự hiện diện còn hiện thực và nặng nề hơn?
Cả hai đều cảm thấy không thể cất lời thêm lần nào nữa vào lúc này. Việc đảo ngược một sắp xếp trước đó và từ chối đi ra ngoài sẽ là một biểu hiện của sự giậnδ dữ kéo dài mà lương tâm Dorothea ngần ngại không dám làm, khi nhận ra rằng bản thân mình đã bắt đầu cảm thấy có lỗi. Dù sự phẫn nộ của nàng có chính đáng đến đâu đi nữa, lý tưởng của nàng không phải là đòi hỏi công lý, mà là trao đi sự dịu dàng. Thế nên khi chiếc xe ngựa đỗ trước cửa, nàng vẫn đi cùng ông Casaubon đến Vatican, bước đi cùng ông qua dãy hành lang bằng đá chứa đầy những văn bia, và khi chia tay ông ở lối vào Thư viện, nàng cứ thế đi tiếp qua Bảo tàng chỉ vì sự thờ thẫn hoàn toàn trước mọi thứ xung quanh. Nàng chẳng còn chút tinh thần nào để quay người lại và nói rằng mình muốn đi xe đến bất cứ đâu. Chính lúc ông Casaubon đang rời xa nàng là khoảnh khắc Naumann nhìn thấy nàng lần đầu tiên, và ông ta bước vào phòng triển lãm điêu khắc dài cùng thời điểm với nàng; nhưng tại đây Naumann phải đợi Ladislaw, người mà ông ta có cuộc cá cược một chai champagne về một bức tượng có hình dáng trung cổ đầy bí ẩn ở đó. Sau khi họ xem xét bức tượng, và bước đi tiếp tục cuộc tranh cãi, họ đã chia tay, Ladislaw nán lại phía sau trong khi Naumann đi vào Đại sảnh Tượng nơi ông ta lại nhìn thấy Dorothea, và nhìn thấy nàng trong trạng thái chìm đắm trong sự suy tư khiến tư thế của nàng trở nên vô cùng nổi bật. Nàng thực sự chẳng nhìn thấy vệt nắng trên sàn nhà cũng như chẳng nhìn thấy những bức tượng: tâm trí nàng đang hướng về ánh sáng của những năm tháng sắp tới trong ngôi nhà của chính mình, trên những cánh đồng nước Anh, những hàng cây du và những con đường lớn rợp bóng cây; và cảm thấy rằng con đường để lấp đầy những chốn ấy bằng lòng tận tụy hân hoan không còn rõ ràng với nàng như trước nữa. Nhưng trong tâm trí Dorothea vẫn luôn tồn tại một dòng chảy mà mọi suy nghĩ và cảm xúc sớm muộn gì cũng hướng về đó—sự vươn tới của toàn bộ ý thức đối với chân lý trọn vẹn nhất, với những điều thiện ít mang tính phiến diện nhất. Rõ ràng vẫn có những điều tốt đẹp hơn sự giận dữ và nỗi tuyệt vọng.