Middlemarch

Lượt đọc: 410 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 52

❊ ❊ ❊

“Trái tim chàng

Đã gánh vác những bổn phận khiêm nhường nhất.”

—WORDSWORTH.

Vào buổi tối tháng Sáu khi ông Farebrother biết chắc mình sẽ nhận được giáo xứ Lowick, phòng khách cổ kính tràn ngập niềm vui, và ngay cả chân dung của những vị luật sư lớn tuổi dường như cũng nhìn vào với vẻ hài lòng. Bà mẹ ông để nguyên chén trà và bánh mì nướng không chạm đến, nhưng vẫn ngồi với dáng vẻ trang nghiêm quen thuộc, chỉ bộc lộ cảm xúc qua gò má ửng hồng và đôi mắt bừng sáng—những điều mang lại cho một phụ nữ lớn tuổi nét thanh xuân xa xôi đầy xúc động thoáng qua—và dứt khoát nói:

“Niềm an ủi lớn nhất, Camden, là con đã xứng đáng với nó.”

“Khi một người có được chỗ làm tốt, thưa mẹ, một nửa sự xứng đáng phải đến sau đó chứ,” cậu con trai đáp, lòng tràn ngập niềm vui và không buồn giấu giếm điều đó. Niềm hân hoan trên khuôn mặt ông mang thứ năng lượng sống động, dường như đủ sức không chỉ bừng phát ra bên ngoài mà còn thắp sáng cả những viễn cảnh bận rộn trong tâm trí: người ta dường như thấy được cả những suy nghĩ lẫn niềm vui trong ánh mắt ông.

“Này, dì,” ông nói tiếp, xoa tay và nhìn cô Noble, người đang phát ra những âm thanh nhỏ nhẹ như con hải ly, “Sẽ luôn có kẹo đường trên bàn để dì lén lấy cho lũ trẻ, và dì sẽ có rất nhiều tất mới để đem biếu, và dì sẽ phải tự vá tất của mình nhiều hơn bao giờ hết đấy!”

Cô Noble gật đầu với đứa cháu trai bằng một nụ cười dè dặt nửa như sợ sệt, đầy áy náy vì đã trót thả thêm một viên đường vào giỏ của mình nhờ ơn bổ nhiệm mới.

“Còn phần em, Winny”—vị mục sư tiếp tục—“anh sẽ không gây khó dễ gì cho việc em kết hôn với bất kỳ chàng trai độc thân nào ở Lowick—ví dụ như ông Solomon Featherstone chẳng hạn, ngay khi anh thấy em đem lòng yêu hắn.”

Cô Winifred, người nãy giờ vẫn nhìn anh trai và khóc nức nở—đó vốn là cách mừng vui của cô—mỉm cười qua làn nước mắt và nói: “Anh phải làm gương cho em chứ, Cam: giờ thì anh phải lấy vợ đi thôi.”

“Với tất cả tấm lòng. Nhưng ai yêu tôi cơ chứ? Tôi là một lão già tàn tạ rồi,” vị mục sư nói, đứng dậy, đẩy ghế ra và nhìn ngắm lại bản thân. “Mẹ thấy sao ạ?”

“Con là một người đàn ông đẹp trai, Camden: dù vóc dáng không được phong độ bằng cha con,” cụ bà nói.

“Con ước gì anh cưới cô Garth, anh ạ,” cô Winifred nói. “Cô ấy sẽ mang lại sự sống động cho Lowick của chúng ta.”

“Hay thật nhỉ! Em cứ nói cứ như thể mấy cô gái trẻ bị đem ra trói lại để lựa chọn, hệt như gà ngoài chợ; cứ như thể anh chỉ việc ngỏ lời là ai cũng đồng ý lấy anh vậy,” vị mục sư nói, không muốn chỉ đích danh ai.

“Chúng em đâu cần tất cả mọi người,” cô Winifred nói. “Nhưng mẹ sẽ thích cô Garth chứ, thưa mẹ?”

“Sự lựa chọn của con trai ta sẽ là lựa chọn của ta,” bà Farebrother nói với vẻ thận trọng đầy uy quyền, “và một người vợ sẽ là điều vô cùng đáng mừng, Camden. Con sẽ cần chơi bài whist ở nhà khi chúng ta chuyển đến Lowick, và Henrietta Noble thì chưa bao giờ biết chơi whist cả.” (Bà Farebrother luôn gọi người em gái nhỏ bé của mình bằng cái tên trang trọng ấy.)

“Giờ thì con sẽ không chơi whist nữa đâu, thưa mẹ.”

“Sao lại thế, Camden? Thời của mẹ, whist được coi là một trò giải trí không thể chê vào đâu được đối với một tín đồ ngoan đạo,” bà Farebrother nói, hoàn toàn ngây thơ trước ngụ ý mà trò chơi đó mang lại cho con trai mình, và cất giọng có phần sắc sảo, như thể đang phản đối một thứ giáo lý mới nguy hiểm nào đó.

“Con sẽ quá bận rộn để chơi whist; con sẽ phải quản lý tận hai giáo xứ,” vị mục sư đáp, chọn cách không tranh luận về những phẩm chất của trò chơi ấy.

Ông từng nói với Dorothea rằng: “Tôi không cảm thấy mình buộc phải từ bỏ St. Botolph’s. Việc tôi nhường phần lớn số tiền cho người khác đã là sự phản đối đủ mạnh đối với chế độ kiêm nhiệm chức sắc mà họ muốn cải cách. Điều mạnh mẽ hơn không phải là từ bỏ quyền lực, mà là sử dụng nó thật tốt.”

“Tôi đã nghĩ đến điều đó,” Dorothea nói. “Xét về mặt cá nhân, tôi nghĩ việc từ bỏ quyền lực và tiền bạc sẽ dễ dàng hơn là giữ lấy chúng. Thật không phải lẽ khi tôi nắm giữ quyền ban ơn này, nhưng tôi cảm thấy mình không nên để người khác sử dụng nó thay cho tôi.”

“Chính tôi mới là người có trách nhiệm hành động sao cho cô không phải hối tiếc về quyền lực của mình,” ông Farebrother nói.

Ông là một trong những người mà lương tâm càng trở nên nhạy bén hơn khi ách nặng của cuộc đời không còn đè nặng hay làm họ tổn thương. Ông không hề tỏ ra khiêm nhường về vấn đề này, nhưng trong thâm tâm, ông lại cảm thấy hơi hổ thẹn vì hạnh kiểm của mình từng vướng phải những lỗi lầm mà những người không nhận được bổng lộc giáo hội chẳng hề mắc phải.

“Tôi từng thường xuyên ước mình làm một nghề gì khác ngoài tu sĩ,” ông nói với Lydgate, “nhưng có lẽ sẽ tốt hơn nếu cố gắng trau dồi để trở thành một mục sư tử tế nhất có thể theo khả năng của mình. Đó chính là góc nhìn của kẻ được hưởng bổng lộc hậu hĩnh, bạn thấy đấy, từ đó mọi rắc rối trở nên đơn giản hơn rất nhiều,” ông kết luận với một nụ cười.

Lúc đó, vị mục sư thực sự cảm thấy phần bổn phận của mình sẽ nhẹ nhàng thôi. Nhưng Bổn phận lại có thói quen hành xử theo những cách không ngờ tới—giống như một vị khách nặng nề mà chúng ta vì lòng hiếu khách nên đã mời đến chơi, để rồi anh ta lại bị gãy chân ngay tại cửa nhà chúng ta.

Chưa đầy một tuần sau, Bổn phận xuất hiện trong phòng làm việc của ông dưới thân phận của Fred Vincy, người vừa mới từ Đại học Omnibus trở về với tấm bằng cử nhân.

“Con rất xấu hổ khi phải làm phiền thầy, thưa ông Farebrother,” Fred nói, gương mặt sáng sủa cởi mở mang vẻ cầu thị, “nhưng thầy là người bạn duy nhất mà con có thể tham khảo ý kiến. Con từng kể hết mọi chuyện cho thầy nghe một lần trước kia, và thầy đã rất tốt với con nên con không tài nào kìm được việc lại đến tìm thầy.”

“Ngồi xuống đi, Fred, ta sẵn sàng lắng nghe và làm bất cứ điều gì trong khả năng của mình,” vị mục sư nói, tay vẫn đang bận rộn gói ghém một số món đồ nhỏ để chuẩn bị chuyển nhà và tiếp tục công việc.

“Con muốn thưa với thầy—” Fred ngập ngừng trong giây lát rồi lao thẳng vào vấn đề, “Con có thể gia nhập Giáo hội ngay bây giờ; và thực sự, dù nhìn ngó khắp nơi, con chẳng thấy mình còn việc gì khác để làm cả. Con không thích điều đó, nhưng con biết rằng việc nói ra điều này là vô cùng tàn nhẫn đối với cha con, sau khi ông đã tiêu tốn biết bao tiền bạc để cho con ăn học thành tài.” Fred lại khựng lại một thoáng, rồi lặp lại, “và con chẳng thấy còn con đường nào khác để đi.”

“Ta đã nói chuyện đó với cha cháu rồi, Fred, nhưng không thuyết phục được ông ấy. Ông ấy bảo đã quá muộn. Nhưng cháu đã vượt qua được một cây cầu rồi đấy: những khó khăn khác của cháu là gì?”

“Chỉ đơn giản là con không thích nó. Con không thích thần học, không thích giảng đạo, và không thích cảm giác buộc phải ra điều nghiêm nghị. Con thích cưỡi ngựa băng đồng, và sống như những người đàn ông khác. Con không có ý muốn trở thành một kẻ tồi tệ hay hư hỏng; nhưng con chẳng có chút hứng thú nào với kiểu người mà thiên hạ kỳ vọng ở một mục sư. Thế mà con còn biết làm gì khác đây? Cha con chẳng thể cắt ra chút vốn nào cho con, bằng không con đã đi làm nông rồi. Và cửa hiệu của ông ấy cũng chẳng còn chỗ cho con. Đương nhiên là con không thể bắt đầu học luật hay học y vào lúc này, khi mà cha con đang muốn con phải kiếm ra tiền. Mọi người cứ việc nói rằng con sai lầm khi bước chân vào Giáo hội; nhưng những kẻ nói thế thà cứ bảo con xách gối vào vùng rừng núi hoang vu còn hơn.”

Giọng Fred mang âm điệu cằn nhỗi, trách móc, và ông Farebrother hẳn đã có thể mỉm cười nếu tâm trí ông không quá bận rộn hình dung ra nhiều điều hơn những gì Fred kể.

“Cháu có vướng mắc gì về giáo lý—về các Điều khoản tín lý không?” ông hỏi, cố gắng hết sức suy xét câu hỏi thuần túy vì lợi ích của Fred.

“Không ạ; chắc là các Điều khoản ấy đúng rồi. Con chẳng có chút lập luận nào để bác bỏ chúng, và những người giỏi giang, thông minh hơn con rất nhiều còn hoàn toàn tin theo chúng cơ mà. Con nghĩ sẽ thật nực cười nếu con lại đi viện dẫn những điều bận tâm kiểu ấy, cứ làm như mình là quan tòa vậy,” Fred đáp vô cùng hồn nhiên.

“Vậy thì ta cho rằng, cháu đã từng nghĩ đến chuyện mình có thể trở thành một vị mục sư giáo xứ khá ổn mà không cần phải uyên bác về thần học chứ?”

“Tất nhiên, nếu buộc phải làm mục sư, con sẽ cố gắng làm tròn bổn phận, dù có thể con không thích nó. Thầy có nghĩ là bất kỳ ai nên trách con không?”

“Về việc gia nhập Giáo hội trong hoàn cảnh này ấy à? Điều đó tùy thuộc vào lương tâm của cháu, Fred—rằng cháu đã tính toán kỹ lưỡng đến mức nào, và thấy trước vị trí của mình sẽ đòi hỏi những gì. Ta chỉ có thể nói với cháu về bản thân ta rằng, ta vốn luôn quá lỏng lẻo trong kỷ luật, và vì thế mà luôn cảm thấy bất an.”

“Nhưng còn một trở ngại nữa,” Fred nói, mặt đỏ bừng lên. “Con đã không nói với thầy trước đó, dẫu có lẽ con từng nói vài câu khiến thầy đoán được. Có một người con vô cùng yêu mến: con đã yêu cô ấy từ khi chúng con còn là những đứa trẻ.”

“Cô Garth, ta đoán thế,” vị mục sư nói, chăm chú kiểm tra mấy nhãn dán.

“Vâng. Con chẳng màng điều gì trên đời nếu cô ấy chịu nhận lời con. Và con biết lúc đó mình có thể trở thành một người tốt.”

“Và cháu nghĩ cô ấy cũng đáp lại tình cảm ấy chứ?”

“Cô ấy chẳng bao giờ chịu thừa nhận; và cách đây khá lâu, cô ấy đã bắt con phải hứa không bao giờ nhắc lại chuyện đó với cô ấy nữa. Hơn nữa, cô ấy kiên quyết phản đối chuyện con làm mục sư; con biết điều đó. Nhưng con không thể từ bỏ cô ấy. Con thực sự nghĩ rằng cô ấy quan tâm đến mình. Tối qua con gặp bà Garth, và bà ấy bảo Mary đang ở Nhà xứ Lowick cùng cô Farebrother.”

“Đúng vậy, cô ấy đang rất tận tình giúp đỡ em gái ta. Cháu có muốn đến đó không?”

“Không, con muốn nhờ thầy một ân huệ lớn. Con thực sự xấu hổ khi cứ làm phiền thầy theo cách này; nhưng Mary có lẽ sẽ lắng nghe những gì thầy nói, nếu thầy đả động đến chủ đề ấy với cô ấy—ý con là chuyện con gia nhập Giáo hội.”

“Đó là một nhiệm vụ khá tế nhị đấy, Fred thân mến của ta ạ. Ta sẽ phải mặc định chuyện tình cảm của cháu dành cho cô ấy; và việc đi sâu vào vấn đề theo như ý muốn của cháu chẳng khác nào ép cô ấy phải thổ lộ với ta xem cô ấy có đáp lại tình cảm đó hay không.”

“Đó chính là điều con muốn cô ấy nói cho thầy biết,” Fred nói thẳng thừng. “Con chẳng biết phải làm sao nữa, nếu không dò la được tâm tư của cô ấy.”

“Ý cháu là cháu sẽ dựa vào câu trả lời đó để quyết định có bước chân vào Giáo hội hay không?”

“Nếu Mary nói cô ấy sẽ không bao giờ lấy con thì con thà cứ buông xuôi quách đi cho rồi.”

“Nói năng vớ vẩn, Fred. Đàn ông có thể vượt qua nỗi đau thất tình, chứ họ không thể vượt qua hậu quả của sự liều lĩnh đâu.”

“Không phải kiểu tình yêu của con: con chưa từng nguôi ngoai yêu Mary. Nếu phải từ bỏ cô ấy, cảm giác sẽ giống như bắt đầu cuộc sống bằng đôi chân giả bằng gỗ vậy.”

“Cô ấy sẽ không phiền lòng vì sự đường đột của ta chứ?”

“Không, con chắc chắn là không. Cô ấy kính trọng thầy hơn bất cứ ai, và cô ấy sẽ không đem chuyện đùa cợt ra để thoái thác với thầy như cách cô ấy làm với con đâu. Đương nhiên con chẳng thể kể với ai khác, hay nhờ bất cứ ai khác nói chuyện với cô ấy ngoài thầy được. Chẳng còn ai khác có thể làm một người bạn tuyệt vời như thế cho cả hai chúng con nữa.” Fred khựng lại một lát, rồi nói với giọng có phần oán trách, “Và cô ấy phải công nhận rằng con đã rất nỗ lực để thi đậu chứ. Cô ấy phải tin rằng con sẽ vì cô ấy mà cố gắng.” Có một khoảng lặng ngắn trước khi ông Farebrother đặt công việc xuống, đưa tay ra về phía Fred và nói:

“Thôi được, chàng trai của ta. Ta sẽ làm theo những gì cháu muốn.”

Ngay ngày hôm đó, ông Farebrother đã đến nhà xứ Lowick trên con ngựa mà ông vừa mới tậu. “Quả nhiên ta là một cành già,” ông thầm nghĩ, “những chồi non đang lấn lướt ta rồi.”

Ông tìm thấy Mary trong khu vườn đang hái hoa hồng và rải những cánh hoa lên một tấm vải trải. Mặt trời đã ngả về tây, và những hàng cây cao đổ bóng dài lên các lối đi rợp cỏ nơi Mary đang thướt tha bước đi mà không đội mũ cũng chẳng che ô. Cô không nhận ra sự tiếp cận của ông Farebrother trên thảm cỏ, và vừa cúi xuống quở trách một chú chó sục lông đen pha nâu nhỏ cứ khăng khăng bước lên tấm vải trải và hít hà những cánh hoa hồng khi Mary rải chúng. Cô cầm hai chân trước của chú chó bằng một tay, và giơ ngón trỏ tay kia lên, trong khi chú chó nhăn trán ra điều bối rối. “Fly, Fly, ta rất lấy làm hổ thẹn về cậu đấy,” Mary đang cất giọng trầm ấm nghiêm nghị nói. “Hành vi này không xứng mặt một chú chó khôn ngoan đâu; ai nhìn vào cũng tưởng cậu là một gã công tử bột ngốc nghếch ấy chứ.”

“Em thật bất công với các công tử bột đấy, cô Garth ạ,” vị mục sư lên tiếng khi chỉ còn cách cô chừng hai thước.

Mary giật mình ngẩng lên và đỏ bừng mặt. “Lẽ phải luôn có tác dụng với Fly mà,” cô cười nói.

“Nhưng không tác dụng với các công tử bột ư?”

“Ồ, với một vài người thì có chứ ạ, vì dẫu sao một số trong số họ cũng trở thành những người đàn ông xuất sắc cơ mà.”

“Ta rất vui vì sự thừa nhận đó, bởi vì ngay lúc này đây ta đang muốn hướng sự quan tâm của em vào một chàng trai trẻ.”

“Hy vọng đó không phải là một kẻ ngốc nghếch,” Mary nói, bắt đầu hái hoa hồng trở lại, cảm thấy tim mình đập loạn nhịp một cách khó chịu.

“Không; dẫu có lẽ sự khôn ngoan không phải là thế mạnh của cậu ta, mà thay vào đó là tình cảm và lòng chân thành. Tuy nhiên, sự khôn ngoan thường nằm ở hai phẩm chất đó nhiều hơn là người ta vẫn tưởng. Ta hy vọng qua những dấu hiệu ấy, em có thể nhận ra ta đang nói đến chàng trai nào.”

“Vâng, em nghĩ là mình biết,” Mary dũng cảm đáp, khuôn mặt trở nên nghiêm túc hơn và đôi bàn tay lạnh ngắt; “chắc chắn là Fred Vincy rồi.”

“Cậu ấy đã nhờ ta tham khảo ý kiến của em về việc gia nhập Giáo hội. Ta hy vọng em sẽ không nghĩ rằng ta đã quá cả gan khi hứa sẽ làm điều đó.”

“Trái lại là đằng khác, thưa ông Farebrother,” Mary nói, buông những bông hoa hồng xuống, khoanh tay trước ngực nhưng không dám ngẩng lên, “bất cứ khi nào thầy có chuyện muốn nói với em, em đều cảm thấy vinh hạnh.”

“Nhưng trước khi đi vào vấn đề đó, hãy để ta chạm nhẹ đến một điểm mà cha em đã từng tâm sự với ta; nhân tiện, đó chính là buổi tối hôm mà ta đã từng một lần thực hiện sứ mệnh thay cho Fred, ngay sau khi cậu ta vừa vào đại học. Ông Garth đã kể cho ta nghe chuyện xảy ra vào đêm ông Featherstone qua đời—cách em từ chối đốt bản di chúc; và ông ấy nói rằng em từng dằn vặt tâm can về chuyện đó, bởi vì em chính là nguyên nhân vô tình cản trở Fred nhận được mười nghìn bảng Anh. Ta vẫn ghi nhớ điều đó, và ta đã nghe được một chuyện có thể giải tỏa cho em khỏi gánh nặng ấy—có thể cho em thấy rằng chẳng có lễ vật chuộc tội nào được đòi hỏi từ em trong chuyện đó cả.”

Ông Farebrother dừng lại một lát và nhìn Mary. Ông muốn mang lại cho Fred lợi thế lớn nhất có thể, nhưng ông nghĩ sẽ tốt hơn nếu gột sạch khỏi tâm trí cô mọi thứ mê tín, chẳng hạn như điều mà phụ nữ đôi khi vẫn mắc phải khi họ phạm sai lầm là kết hôn với một người đàn ông như một hành động chuộc tội. Gò má Mary bắt đầu hơi ửng đỏ và cô lặng thím đi.

“Ý ta là, hành động của em chẳng hề tạo ra sự khác biệt thực sự nào đối với số phận của Fred. Ta nhận ra rằng bản di chúc đầu tiên sẽ không còn hiệu lực pháp lý sau khi bản di chúc cuối cùng bị đốt; nó sẽ không thể đứng vững nếu bị tranh chấp, và em có thể chắc chắn là nó sẽ bị tranh chấp. Thế nên, về điểm đó, em có thể thấy lòng mình nhẹ nhõm.”

“Cảm ơn thầy, thưa ông Farebrother,” Mary chân thành nói. “Em rất biết ơn vì thầy đã thấu hiểu cho cảm xúc của em.”

“Được rồi, bây giờ ta có thể tiếp tục. Fred, em biết đấy, đã tốt nghiệp đại học. Cậu ta đã tự xoay sở đến được bước này, và giờ vấn đề là cậu ta phải làm gì tiếp theo? Vấn đề đó khó khăn đến mức cậu ta có xu hướng chiều theo mong muốn của cha mình và bước chân vào Giáo hội, dẫu em còn rõ hơn cả ta rằng trước đây cậu ta từng kiên quyết phản đối điều đó nhường nào. Ta đã gặng hỏi cậu ta về vấn đề này, và ta thú nhận rằng ta không thấy có trở ngại không thể vượt qua nào đối với việc cậu ta trở thành một mục sư, xét theo hoàn cảnh hiện tại. Cậu ta nói rằng cậu ta có thể hướng tâm trí vào việc làm hết sức mình trong ơn gọi đó, với một điều kiện. Nếu điều kiện đó được thỏa mãn, ta sẽ hết lòng giúp đỡ Fred tiến bước. Sau một thời gian—đương nhiên không phải ngay từ đầu—cậu ta có thể làm phó tế cạnh ta, và cậu ta sẽ có nhiều việc phải làm đến mức bổng lộc nhận được sẽ gần bằng mức ta từng nhận khi làm mục sư. Nhưng ta nhắc lại rằng có một điều kiện mà nếu không có nó, tất cả những điều tốt đẹp này không thể thành hiện thực. Cậu ta đã giãi bày tâm sự với ta, cô Garth, và nhờ ta lên tiếng hộ. Điều kiện đó hoàn toàn nằm ở tình cảm của em.”

Mary trông xúc động đến mức sau một lát, ông nói: “Chúng ta đi dạo một chút nhé;” và khi họ đang bước đi, ông nói thêm: “Nói một cách hoàn toàn thẳng thắn, Fred sẽ không theo đuổi bất kỳ con đường nào làm giảm đi khả năng em đồng ý làm vợ cậu ta; nhưng với viễn cảnh đó, cậu ta sẽ cố gắng hết sức vì bất cứ điều gì em tán thành.”

“Em hoàn toàn không thể nói rằng mình sẽ làm vợ cậu ấy, thưa ông Farebrother: nhưng em chắc chắn sẽ không bao giờ làm vợ cậu ấy nếu cậu ấy trở thành một mục sư. Những gì thầy nói thật vô cùng hào hiệp và tử tế; em không có ý định chỉnh đốn phán đoán của thầy dù chỉ một phút. Chỉ là em có cái nhìn có phần trẻ con và hay chế giễu mọi thứ mà thôi,” Mary nói, với sự tinh nghịch thoáng hiện trở lại trong câu trả lời chỉ càng làm cho sự khiêm nhường của cô thêm phần duyên dáng.

“Cậu ấy muốn ta chuyển lại chính xác những gì em suy nghĩ,” ông Farebrother nói.

“Em không thể yêu một người nực cười,” Mary nói, không muốn đi sâu hơn. “Fred có đủ sự nhạy bén và hiểu biết để khiến bản thân trở nên đáng kính trọng, nếu cậu ấy muốn, trong một công việc đàng hoàng nào đó ngoài đời, nhưng em không bao giờ có thể tưởng tượng ra cảnh cậu ấy đứng giảng đạo, khuyên răn, ban những lời chúc phúc, và cầu nguyện bên người bệnh mà không có cảm giác như đang nhìn vào một bức tranh biếm họa. Việc cậu ấy làm mục sư chỉ vì danh hão sự sang trọng mà thôi, và em nghĩ chẳng có gì đáng khinh hơn cái vẻ sang trọng ngớ ngẩn đó. Em từng nghĩ điều ấy về ông Crowse, với khuôn mặt trống rỗng, chiếc ô gọn gàng và những lời nói điệu đà uốn éo. Những kẻ đó lấy quyền gì để đại diện cho đạo Xích-tô—cứ làm như đó là một cơ sở để đào tạo ra lũ ngốc một cách tao nhã vậy—cứ như là—” Mary tự kìm mình lại. Cô bị cuốn đi cứ như thể đang nói chuyện trực tiếp với Fred chứ không phải ông Farebrother.

“Phụ nữ trẻ thường nghiêm khắc: họ không cảm nhận được sức ép của hành động như đàn ông, dù có lẽ ta nên xem em là một ngoại lệ. Nhưng em không đánh giá Fred Vincy ở mức thấp như thế chứ?”

“Không đâu ạ, thực ra cậu ấy có rất nhiều hiểu biết, nhưng em nghĩ cậu ấy sẽ không thể hiện điều đó khi làm mục sư. Cậu ấy sẽ chỉ là một kẻ mang nặng vẻ ra vẻ chuyên nghiệp mà thôi.”

“Vậy câu trả lời đã hoàn toàn dứt khoát. Cậu ấy sẽ không còn chút hy vọng nào nếu làm mục sư sao?”

Mary lắc đầu.

“Nhưng nếu cậu ấy dũng cảm vượt qua mọi khó khăn để kiếm sống bằng con đường khác—em có trao cho cậu ấy sự ủng hộ của niềm hy vọng không? Cậu ấy có thể trông đợi vào việc chinh phục được em không?”

“Em nghĩ Fred không cần phải nghe lại những gì em đã nói với cậu ấy một lần nữa đâu,” Mary đáp, với một chút hờn dỗi trong thái độ. “Ý em là cậu ấy không nên đặt những câu hỏi như thế cho đến khi cậu ấy làm được điều gì đó đáng tự hào, thay vì cứ mãi tuyênu bố rằng mình có thể làm được.”

Ông Farebrother im lặng trong vòng một phút hoặc hơn thế, rồi khi họ quay đầu lại và dừng bước dưới bóng cây thích ở cuối lối đi rợp cỏ, ông nói: “Ta hiểu rằng em chống lại bất kỳ nỗ lực nào nhằm trói buộc mình, nhưng tình cảm của em dành cho Fred Vincy hoặc là loại trừ việc em vướng vào một mối tình khác, hoặc là không: hoặc là cậu ấy có thể trông đợi vào việc em sẽ ở giá cho đến khi cậu ấy giành được tay em, hoặc là cậu ấy sẽ phải thất vọng trong mọi trường hợp. Hãy thứ lỗi cho ta, Mary—em biết ta từng hay dò hỏi em dưới cái tên đó mà—nhưng khi trạng thái tình cảm của một người phụ nữ chạm đến hạnh phúc của một cuộc đời khác—của nhiều cuộc đời hơn một—ta nghĩ hành động cao thượng hơn đối với cô ấy là phải hoàn toàn trực diện và cởi mở.”

Đến lượt Mary im lặng, cô ngạc nhiên không phải vì thái độ của ông Farebrother mà vì giọng điệu của ông, chứa đựng một nỗi xúc động trầm buồn được kìm nén. Khi ý nghĩ kỳ lạ thoáng qua trong đầu cô rằng những lời nói ấy ám chỉ chính ông, cô tỏ ra hoài nghi và cảm thấy xấu hổ vì đã nuôi dưỡng ý nghĩ đó. Cô chưa từng nghĩ rằng bất kỳ người đàn ông nào có thể yêu mình ngoài Fred, kẻ từng đính ước với cô bằng chiếc nhẫn làm bằng cán ô khi cô còn đi tất ngắn và mang giày quai ngang; lại càng không thể ngờ mình có thể quan trọng đối với ông Farebrother, người thông minh nhất trong vòng tròn chật hẹp của cô. Cô chỉ có đủ thời gian để cảm thấy mọi thứ thật mờ hồ và có lẽ chỉ là ảo tưởng; nhưng có một điều rõ ràng và kiên quyết—đó là câu trả lời của cô.

“Vì thầy nghĩ đó là bổn phận của em, thưa ông Farebrother, em sẽ nói với thầy rằng em dành tình cảm cho Fred đủ lớn để không từ bỏ cậu ấy vì bất kỳ ai khác. Em sẽ không bao giờ hoàn toàn hạnh phúc nếu nghĩ rằng cậu ấy đau khổ vì mất đi em. Nó đã bám rễ sâu vào trong em—lòng biết ơn của em đối với việc cậu ấy luôn yêu thương em nhất, và vô cùng bận tâm nếu em tự làm mình bị thương, kể từ khi chúng ta còn rất nhỏ. Em không thể tưởng tượng nổi bất kỳ tình cảm mới mẻ nào có thể làm cho điều đó phai nhạt đi. Hơn hết thảy, em rất muốn nhìn thấy cậu ấy trở thành một người xứng đáng với sự tôn trọng của tất cả mọi người. Nhưng xin hãy bảo với cậu ấy rằng em sẽ không hứa kết hôn với cho đến lúc đó: em sẽ làm hổ thẹn và khiến cha mẹ em đau lòng mất. Cậu ấy hoàn toàn được tự do lựa chọn một người khác.”

“Vậy là ta đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình,” ông Farebrother nói, chìa tay ra về phía Mary, “và ta sẽ phi ngựa quay về Middlemarch ngay lập tức. Với viễn cảnh này trước mắt, chúng ta thế nào cũng đưa được Fred vào đúng chỗ của nó, và ta hy vọng mình sẽ sống đến ngày được chứng kiến hai người trao tay nhau. Chúa phù hộ cho em!”

“Ồ, xin thầy hãy ở lại, và để em mời thầy chút trà,” Mary nói. Đôi mắt cô ngấn lệ, bởi vì một điều gì đó mơ hồ, một thứ gì đó giống như sự kìm nén kiên quyết một nỗi đau trong phong thái của ông Farebrother, khiến cô bỗng cảm thấy đau khổ đột ngột, hệt như cảm giác cô từng trải qua khi nhìn thấy đôi bàn tay cha mình run rẩy trong một khoảnh khắc khốnốn.

“Không, em thân mến, không. Ta phải về đây.”

Chỉ trong vòng ba phút, vị mục sư đã lại ở trên yên ngựa, vừa hiên ngang vượt qua một nhiệm vụ còn khó khăn hơn cả việc từ bỏ chơi whist, hay thậm chí là việc viết những bài suy ngẫm sám hối.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.