“Hãy nhắm mắt ông lại và khép kín màn che;
Và tất cả chúng ta hãy cùng tĩnh tâm suy ngẫm.”
—2 Henry VI.
Đêm đó, sau mười hai giờ, Mary Garth thay phiên canh gác trong phòng ông Featherstone và ngồi đó một mình suốt những giờ khắc tĩnh lặng của đêm sâu. Cô thường chọn công việc này, tìm thấy ở đó một niềm tĩnh tại nhất định, bất chấp tính khí cáu kỉnh của cụ ông mỗi khi lão đòi hỏi cô phải chăm sóc. Có những khoảng thời gian cô có thể ngồi hoàn toàn yên lặng, tận hưởng sự tĩnh mịch bên ngoài và ánh đèn mờ ảo. Đống lửa đỏ với những chuyển động khe khẽ phát ra âm thanh tựa như một sự tồn tại trang nghiêm, bình thản tách biệt khỏi nhữngmối bận tâm tầm thường, những ham muốn ngớ ngẩn, và sự đeo bám theo những điều bấp bênh vô giá trị vốn hằng ngày khơi gợi sự khinh miệt trong cô. Mary vốn yêu thích những suy nghĩ của riêng mình, và có thể tự khuây khỏa rất tốt khi ngồi trong chốn chập choạng tối với đôi tay đặt trên đùi; bởi vì, từ sớm đã có những lý do vững chắc để tin rằng mọi thứ dường như sẽ không được sắp đặt theo ý muốn riêng tư của cô, nên cô chẳng tusổng chút thời gian nào cho sự kinh ngạc hay bực bội trước thực tế đó. Và cô vốn dĩ đã nhìn nhận cuộc đời như một vở hài kịch, trong đó cô mang một quyết tâm kiêu hãnh, phải nói là hào hiệp, là sẽ không đóng vai hèn hạ hay phản trắc. Mary có lẽ đã trở thành một kẻ yếm thế nếu cô không có những bậc sinh thành mà cô kính trọng, cùng một mạch nguồn lòng biết ơn đầy âu yếm trong lòng—càng trọn vẹn hơn bởi cô đã học được cách không đưa ra những yêu sách phi lý.
Đêm nay cô ngồi ngẫm nghĩ, như thói quen, về những cảnh tượng trong ngày, đôi môi thường mỉm cười thích thú trước những điều quái dị mà trí tưởng tượng của cô tô điểm thêm vẻ buồn cười kỳ quặc: con người ta thật nực cười làm sao với những ảo tưởng của chính mình, vô tình mang theo chiếc mũ chú hề trên đầu, cứ nghĩ những lời nói dối của bản thân là đục ngầu không ai thấy trong khi của người khác thì trong suốt như kính, tự biến mình thành ngoại lệ cho mọi thứ, cứ như thể khi cả thế giới ngả màu vàng dưới ánh đèn thì chỉ riêng họ là hồng hào. Thế nhưng, có những ảo tưởng ngay trước mắt Mary lại không hẳn mang màu sắc hài hước đối với cô. Cô mang một niềm tin thầm kín, dù chẳng có căn cứ nào khác ngoài sự quan sát tinh tường bản tính của cụ già Featherstone, rằng bất chấp việc lão thích vây quanh mình bởi gia nhà Vincy, họ cũng dễ có khả năng vỡ mộng hệt như bất kỳ họ hàng nào mà lão vẫn giữ khoảng cách. Cô có phần coi thường sự hoảng sợ rõ rệt của bà Vincy, kẻ luôn nơm nớp lo sợ rằng cô và Fred sẽ ở một mình với nhau, nhưng điều đó không ngăn cô suy nghĩ đầy lo âu về việc Fred sẽ bị ảnh hưởng ra sao nếu hóa ra người bác lại để lại cho cậu ta một gia tài nghèo túng như trước. Cô có thể trêu chọc Fred khi cậu có mặt, nhưng cô chẳng hề lấy làm vui thích trước những trò dại dột của cậu khi cậu vắng nhà.
Tuy vậy, cô vẫn thích những dòng suy nghĩ của mình: một tâm hồn trẻ trung, mạnh mẽ không bị cảm xúc lấn át, tìm thấy niềm vui trong việc làm quen với cuộc đời và quan sát chính năng lực của mình với đầy sự hứng khởi. Bản thân Mary chứa đựng biết bao niềm vui thích.
Tâm trí cô không hề vướng bận chút vẻ trang nghiêm hay xót xa nào dành cho cụ ông đang nằm trên giường: những tình cảm ấy dễ bề tỏ ra ngoài hơn là thực sự cảm nhận đối với một sinh linh già nua mà cuộc đời chẳng hiển hiện điều gì khác ngoài một tàn tích của những thói hư tật xấu. Cô vẫn luôn nhìn thấy mặt khó chịu nhất của ông Featherstone: lão chẳng tự hào gì về cô, và cô với lão chỉ có giá trị lợi dụng. Việc phải bận tâm lo lắng cho một linh hồn suốt ngày cấu xé mình chắc chỉ là chuyện dành cho những bậc thánh nhân trên cõi đời này; và Mary không phải là một trong số đó. Cô chưa từng thốt ra một lời cay nghiệt nào với lão, và đã chăm sóc lão tận tụy: đó là tất cả những gì cô có thể làm. Bản thân cụ già Featherstone chẳng mảy may lo lắng cho linh hồn mình, và từng từ chối gặp mục sư Tucker về vấn đề đó.
Đêm nay lão không hề cấu xé, và trong một hai giờ đầu lão nằm yên một cách kỳ lạ, cho đến tận lúc Mary nghe thấy tiếng lão khua lắt nhắt chùm chìa khóa vào chiếc hộp thiếc mà lão vẫn luôn để trên giường ngay cạnh mình. Khoảng ba giờ, lão cất tiếng với độ rõ ràng đáng ngạc nhiên: “Cô tiểu thư, lại đây nào!”
Mary tuân lệnh, và nhận ra lão đã tự mình kéo chiếc hộp thiếc ra từ dưới đống chăn mền, dù bình thường lão toàn nhờ người làm hộ việc ấy; và lão đã chọn sẵn chiếc chìa khóa. Lão bèn mở khóa chiếc hộp, rút ra từ đó một chiếc chìa khóa khác, nhìn thẳng vào cô bằng đôi ánh mắt dường như đã lấy lại toàn bộ sự sắc sảo vốn có và cất lời: “Có bao nhiêu kẻ trong số chúng đang ở trong cái nhà này?”
“Ý ông là họ hàng của mình phải không ạ, thưa cụ,” Mary đáp, vốn đã quá quen thuộc với cách nói năng của cụ già. Lão khẽ gật đầu và cô nói tiếp.
“Ông Jonah Featherstone và cậu Cranch trẻ tuổi đang ngủ ở đây.”
“Ồ hố, chúng vẫn bám trụ cơ à? Thế còn mấy kẻ còn lại—tao dám cá là chúng đến mỗi ngày—Solomon và Jane, cùng tất cả lũ ranh con ấy? Chúng đến ngó nghiêng, rồi tính toán và nhẩm tính chứ gì?”
“Không phải tất cả bọn họ đều đến mỗi ngày. Ông Solomon và bà Waule thì có mặt mỗi ngày, còn những người khác thường xuyên ghé qua.”
Cụ già lắng nghe với một vẻ mặt nhăn nhó khi cô nói, rồi đoạn dãn nét mặt ra, cất lời: “Càng ngu ngốc hơn. Lắng nghe đây, cô bé. Đã ba giờ sáng rồi, và tao vẫn minh mẫn tỉnh táo hệt như bất cứ giai đoạn nào trong đời. Tao nắm rõ toàn bộ tài sản của mình, tiền bạc được đầu tư ở đâu, và mọi thứ. Tao đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để đổi ý, và làm theo ý mình vào phút chót. Cô có nghe thấy không, cô bé? Tao vẫn hoàn toàn minh mẫn.”
“Vâng, thưa cụ?” Mary điềm tĩnh đáp.
Lão bấy giờ hạ thấp giọng xuống với vẻ ranh mãnh sâu cay hơn. “Tao đã lập hai bản di chúc, và tao chuẩn bị đốt một bản. Giờ cô làm theo lời tao bảo đi. Đây là chìa khóa két sắt của tao, ở trong cái tủ kia. Cô ấn mạnh vào cạnh của tấm biển đồng ở phía trên cho đến khi nó bật ra như chốt cài: rồi cô có thể cắm chìa khóa vào ổ khóa phía trước và vặn nó. Hãy nhìn và làm theo đúng thế; rồi lấy ra tờ giấy ở trên cùng—Bản Di Chúc và Di Nguyện Cuối Cùng—loại in chữ lớn ấy.”
“Không, thưa cụ,” Mary cất giọng kiên quyết, “Cháu không thể làm thế.”
“Không làm ư? Tao bảo cô phải làm chứ,” cụ già nói, giọng bắt đầu run rẩy vì sự phản kháng bất ngờ này.
“Cháu không thể chạm vào két sắt hay di chúc của cụ. Cháu buộc phải từ chối làm bất cứ điều gì có thể khiến mình vướng vào vòng nghi kỵ.”
“Tao bảo là đầu óc tao hoàn toàn tỉnh táo. Chẳng lẽ tao không được làm theo ý mình vào phút chót sao? Tao đã cố tình lập hai bản di chúc mà. Lấy chìa khóa đi, tao bảo thế.”
“Không, thưa cụ, cháu kiên quyết không làm,” Mary đáp, giọng càng thêm phần kiên định. Sự ghê tởm trong cô đang trỗi dậy mạnh mẽ hơn.
“Tao bảo là không còn thời gian nữa đâu.”
“Cháu không thể làm gì khác được, thưa cụ. Cháu sẽ không để quãng đời cuối cùng của cụ làm vấy bẩn khởi đầu cuộc đời cháu. Cháu sẽ không chạm vào két sắt hay di chúc của cụ đâu.” Cô lùi ra xa mép giường một chút.
Cụ già khựng lại với ánh mắt ngẩn ngơ trong chốc lát, tay vẫn cầm thẳng chiếc chìa khóa trên vòng khuyên; rồi với một cử động giật cục đầy kích động, bàn tay gầy gò bên trái của lão bắt đầu lục lọi để trút sạch chiếc hộp thiếc trước mặt.
“Cô bé,” lão hấp tấp cất lời, “Nhìn đây này! Lấy tiền đi—tiền giấy và vàng đây này—nhìn đây này—lấy nó đi—cô sẽ có tất cả—cứ làm theo lời tao bảo.”
Lão rướn người cố với chiếc chìa khóa về phía cô hết mức có thể, và Mary lại lùi bước.
“Cháu sẽ không chạm vào chìa khóa hay tiền bạc của cụ đâu, thưa cụ. Xin cụ đừng bắt cháu làm thế nữa. Nếu cụ còn làm vậy, cháu buộc phải đi gọi anh trai cụ đấy.”
Lão buông thõng tay xuống, và lần đầu tiên trong đời, Mary thấy cụ già Peter Featherstone bật khóc nức nở như một đứa trẻ. Cô cất lời với giọng dịu dàng nhất có thể: “Xin cụ hãy cất tiền đi ạ;” rồi bước đi về phía ghế ngồi cạnh lò sưởi, hy vọng điều này sẽ giúp thuyết phục lão rằng việc nói thêm nữa chỉ là vô ích. Chẳng mấy chốc, lão lấy lại tinh thần và hào húp cất lời—
“Thế thì nhìn đây này. Gọi cậu thanh niên kia đi. Gọi Fred Vincy đến.”
Trái tim Mary bắt đầu đập nhanh hơn. Muôn vàn suy nghĩ xẹt qua tâm trí cô về việc việc thiêu hủy bản di chúc thứ hai có thể ngụ ý điều gì. Cô buộc phải đưa ra một quyết định khó khăn trong chớp nhoáng.
“Cháu sẽ gọi cậu ấy, nếu cụ cho phép cháu gọi cả ông Jonah và những người khác cùng tới.”
“Không ai khác cả, tao đã bảo thế. Cậu thanh niên ấy thôi. Tao sẽ làm theo ý mình.”
“Hãy đợi đến khi trời sáng hẳn đi cụ nhé, lúc mọi người đều thức dậy. Hoặc để cháu gọi Simmons ngay bây giờ đi gọi luật sư nhé? Ông ấy có thể có mặt ở đây trong chưa đầy hai tiếng.”
“Luật sư ư? Tao cần gì luật sư chứ? Sẽ không ai hay biết cả—tao nói là sẽ không ai được biết. Tao sẽ làm theo ý mình.”
“Để cháu gọi người khác nhé, thưa cụ,” Mary thuyết phục. Cô không thích vị thế của mình lúc này—một mình với cụ già, kẻ dường như đang cho thấy một sự bùng nổ kỳ lạ về năng lượng thần kinh, giúp lão hết lần này đến lần khác cất lời mà không bị những cơn ho thâm niên cắt ngang; thế nhưng cô không muốn cố tình đẩy mạnh sự trái ý khiến lão thêm kích động. “Xin cụ hãy để cháu gọi người khác đi ạ.”
“Cô cứ mặc kệ tao đi. Nhìn đây này, cô bé. Lấy tiền đi. Cô sẽ không bao giờ có lại cơ hội này đâu. Số này ngót nghét gần hai trăm—vẫn còn nhiều hơn trong hộp nữa, và chẳng ai biết đích xác có bao nhiêu đâu. Lấy nó đi và làm theo lời tao bảo.”
Mary, đứng bên đống lửa, nhìn ánh lửa đỏ rực hắt lên người cụ già đang được kê ngồi ngả trên những chiếc gối và điểm tựa lưng, với bàn tay gầy gò giơ cao chiếc chìa khóa, còn tiền thì vương vãi trên tấm chăn đắp trước ngực. Cô chẳng bao giờ quên được hình ảnh ấy về một gã đàn ông quyết tâm làm theo ý mình cho đến tận phút chót. Nhưng cách lão đưa ra lời đề nghị tiền bạc lại càng thúc giục cô lên tiếng với quyết tâm cứng cỏi hơn bao giờ hết.
“Chẳng ích gì đâu, thưa cụ. Cháu sẽ không làm đâu. Cất tiền đi cụ. Cháu sẽ không chạm vào tiền của cụ đâu. Cháu sẵn lòng làm bất cứ điều gì khác để an ủi cụ; nhưng cháu sẽ chẳng đụng đến chìa khóa hay tiền bạc của cụ đâu.”
“Bất cứ điều gì khác—bất cứ điều gì khác!” cụ già gầm lên với nỗi hờn giận khàn đặc, thứ âm thanh như trong một cơn ác mộng, cố gắng gào to lên nhưng rốt cuộc chỉ vừa đủ nghe thấy. “Tao chẳng cần cái gì khác cả. Cô lại đây—cô lại đây mau.”
Mary thận trọng tiến lại gần lão, bởi cô quá hiểu rõ con người này. Cô thấy lão buông rơi chùm chìa khóa và cố quơ lấy cây gậy, trong khi mắt đăm đăm nhìn cô tựa như một con linh cẩu già nua, các cơ trên mặt giật giật biến dạng vì sự gắng sức của đôi tay. Cô khựng lại ở một khoảng cách an toàn.
“Để cháu lấy chút thuốc bổ cho cụ nhé,” cô điềm đạm nói, “và cố gắng bình tĩnh lại. Có lẽ cụ sẽ chợp mắt được thôi. Rồi ngày mai khi trời sáng, cụ muốn làm gì thì làm.”
Lão nhấc bổng cây gậy lên, bất chấp việc cô đang đứng ngoài tầm với, và ném nó đi bằng một nỗ lực hết sức gượng gạo chẳng khác nào sự bất lực. Cây gậy rơi xuống, trượt khỏi phần cuối giường. Mary mặc kệ nó nằm đó, và lùi về chiếc ghế bên lò sưởi. Chẳng mấy chốc nữa cô sẽ lại gần lão với ly thuốc bổ. Sự mệt mỏi sẽ khiến lão trở nên ngoan ngoãn. Trời đang ngả về khoảnh khắc lạnh giá nhất trong ngày, đống lửa đã lụi dần, và cô có thể nhìn qua khe hở giữa những tấm màn cửa sổ bằng vải thô để thấy thứ ánh sáng đã ngả trắng nhờ tấm rèm che. Sau khi bốc thêm chút củi vào lò và khoác chiếc khăn choàng lên người, cô ngồi xuống, thầm mong rằng ông Featherstone giờ đây có thể chợp mắt. Nếu cô cứ lảng vảng đến gần, sự cáu giận của lão có thể sẽ tiếp tục bùng lên. Lão chẳng thốt thêm lời nào sau khi ném cây gậy, nhưng cô thấy lão lại nhặt chùm chìa khóa lên và đặt bàn tay phải lên đống tiền. Tuy nhiên, lão không cất chúng đi, và cô nghĩ rằng lão đang chìm dần vào giấc ngủ.
Thế nhưng bản thân Mary lại bắt đầu thấy bấn loạn vì hồi tưởng lại những gì mình vừa trải qua, hơn cả lúc cô đối mặt với thực tế—cô tự vấn về những hành động mang tính chất mệnh lệnh, áp đảo mọi thắc mắc trong khoảnh khắc khủng hoảng ấy.
Chẳng mấy chốc, khúc củi khô bùng lên một ngọn lửa soi rọi mọi ngóc ngách, và Mary thấy cụ già đang nằm yên lặng với đầu hơi nghiêng sang một bên. Cô bước về phía lão với những bước chân không tiếng động, thói quen mách bảo rằng khuôn mặt lão trông có vẻ bất động một cách lạ lùng; nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, ánh lửa chập chờn hắt lên mọi vật xung quanh khiến cô hoang mang không chắc chắn. Nhịp đập dữ dội trong lồng ngực khiến giác quan của cô trở nên mơ hồ đến mức ngay cả khi chạm vào lão và lắng nghe tiếng thở, cô cũng chẳng thể tin nổi vào kết luận của chính mình. Cô bước đến cửa sổ, nhẹ nhàng vén rèm và màn cửa sang một bên để ánh sáng tĩnh lặng của bầu trời rọi thẳng xuống chiếc giường.
Ngay khoảnh khắc tiếp theo, cô lao tới chiếc chuông và giật mạnh đầy dứt khoát. Chẳng mấy chốc, không còn chút hoài nghi nào nữa khi nhận ra Peter Featherstone đã qua đời, với bàn tay phải vẫn đang siết chặt chùm chìa khóa, còn bàn tay trái thì đặt lặng thờ trên đống tiền giấy và vàng.