Middlemarch

Lượt đọc: 410 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 45

❊ ❊ ❊

Nhiều người có thói quen tán dương thời đại của cha ông và lớn tiếng chỉ trích sự suy đồi của thời nay. Dù vậy, họ chẳng thể làm điều đó một cách tao nhã nếu thiếu đi sự trợ giúp và những lời châm biếm mượn từ quá khứ; họ lên án thói hư tật xấu của thời đại mình bằng chính ngôn từ dùng để châm biếm thói hư tật xấu ở thời đại mà họ ca ngợi, qua đó ngầm thừa nhận rằng thói đời ở cả hai thời kỳ đều như nhau. Do đó, Horace, Juvenal và Persius vốn chẳng phải là nhà tiên tri nào cả, dù cho những vần thơ của họ dường như đã nhắm trúng và vạch mặt thời đại chúng ta. — SIR THOMAS BROWNE: Pseudodoxia Epidemica.

Sự phản đối đối với Bệnh viện Sốt Mới mà Lydgate từng phác thảo cho Dorothea, cũng giống như bao sự phản đối khác, có thể nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Anh coi đó là sự kết hợp giữa lòng ghen tị và những thành kiến ngu ngốc. Ông Bulstrode thì nhìn thấy ở đó không chỉ sự đố kỵ về mặt y thuật mà còn là một âm mưu nhằm cản trở chính mình, xuất phát chủ yếu từ lòng căm thù đối với tôn giáo thuần khiết mà ông vẫn hằng nỗ lực làm một giáo dân đại diện tận tụy — một mối thù hằn vốn dĩ luôn tìm cách che đậy bằng những cái cớ ngoài tôn giáo, vốn chẳng khó gì để bấu víu giữa những rắc rối của hành vi con người. Đây có thể được coi là quan điểm của phe cầm quyền. Thế nhưng, phe chống đối lại nắm trong tay một kho tàng phản đối vô tận, chẳng bao giờ chịu dừng bước trước ranh giới của sự hiểu biết, mà luôn có thể rút ra từ cội nguồn dốt nát mênh mông. Những gì phe đối lập ở Middlemarch bàn tán về Bệnh viện Mới và cách quản lý nơi đây quả thực mang theo rất nhiều âm hưởng đồng điệu, bởi tạo hóa vốn dĩ đã an bài để không phải ai sinh ra cũng làm kẻ tiên phong; dẫu vậy, vẫn có những sắc thái khác biệt đại diện cho từng tầng lớp xã hội, từ sự ôn hòa nhã nhặn của Tiến sĩ Minchin cho quán tính đanh thép của bà Dollop, chủ quán rượu Tankard ở ngõ Slaughter.

Bà Dollop ngày càng bị thuyết phục bởi chính những lời quả quyết của mình rằng Tiến sĩ Lydgate định để cho người ta chết trong bệnh viện, nếu không muốn nói là đầu độc họ, nhằm mục đích mổ xẻ xác chết mà chẳng cần xin phép ai; bởi vì ai cũng rõ một “sự thật rành rành” là hắn từng muốn mổ xẻ cả bà Goby, một người phụ nữ đáng kính chẳng thua kém bất kỳ ai ở phố Parley, người từng có tiền riêng trước khi kết hôn — quả là một câu chuyện nực cười cho một vị bác sĩ, kẻ lẽ ra nếu có tài cán gì thì phải biết bệnh nhân mắc bệnh gì trước khi họ chết, chứ không phải lăm le xoi mói nội tạng của người ta sau khi đã nhắm mắt xuôi tay. Nếu đó không phải là lẽ phải thì bà Dollop muốn biết thế nào mới là lẽ phải; tuy nhiên, trong lòng thính giả của bà lại tồn tại một tâm lý chung rằng ý kiến của bà chính là một thứ thành lũy vững chắc, và nếu nó sụp đổ thì sẽ chẳng còn biên giới nào ngăn cản được nạn mổ xẻ xác chết, như từng thấy ở vụ Burke và Hare với những miếng cao dán tẩm thuốc ngạt — một kiểu treo cổ rành rành như thế là thứ Middlemarch này không hề muốn có!

Và chớ nên cho rằng ý kiến tại quán Tankard ở ngõ Slaughter lại không có trọng lượng đối với giới y khoa: cái quán rượu cổ kính đích thực ấy — quán Tankard nguyên bản, nổi tiếng với cái tên quán của bà Dollop — là chốn lui tới của một Hội Tương tế lớn, vài tháng trước từng bỏ phiếu xem có nên sa thải vị bác sĩ lâu năm của họ là “Bác sĩ Gambit” để nhường chỗ cho “cái ông Tiến sĩ Lydgate này” hay không, người mà thiên hạ đồn đại có thể chữa khỏi những căn bệnh kinh hoàng nhất và cứu sống cả những người đã bị các thầy thuốc khác bó tay hoàn toàn. Thế nhưng, cán cân đã nghiêng đi chống lại Lydgate chỉ vì hai thành viên, những người vì một vài lý do cá nhân cho rằng khả năng cải tử hoàn sinh cho những kẻ gần như đã chết này là một điều mập mờ đáng ngờ, và có thể can thiệp vào ơn huệ của Chúa. Tuy nhiên, trong suốt năm qua, tâm lý công chúng đã có sự thay đổi, mà sự đồng lòng tại quán của bà Dollop chính là một chỉ dấu.

Hơn một năm về trước, khi chưa ai biết gì về tay nghề của Lydgate, các đánh giá về anh tự nhiên bị chia rẽ, dựa trên một trực giác nào đó nằm đâu đó ở vùng thượng vị hoặc tuyến tùng, mang những phán quyết khác nhau nhưng vẫn có giá trị nhất định như một kim chỉ nam giữa lúc hoàn toàn thiếu vắng bằng chứng. Những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính hoặc có sinh mạng đã tàn lụi từ lâu, như lão Featherstone, lập tức có ý định thử nghiệm tay nghề của anh; ngoài ra, nhiều kẻ vốn chẳng thích trả tiền khám bệnh thì cảm thấy vô cùng thoải mái khi mở một tài khoản với vị bác sĩ mới và cứ thế gọi ông ta đến liên tục nếu bọn trẻ có cơn quấy khóc cần uống thuốc — những dịp mà các thầy thuốc cũ thường tỏ ra cáu kỉnh; và tất cả những ai có xu hướng thuê mủng Lydgate đều cho rằng anh có vẻ là một người tài giỏi. Một số người cho rằng anh có thể làm được nhiều hơn những người khác “trong các ca bệnh về gan;” — ít nhất thì việc lấy vài chai “thuốc” từ chỗ anh cũng chẳng hại gì, bởi nếu chúng vô tích sự thì người ta vẫn có thể quay lại dùng Viên thuốc Thanh lọc, thứ giúp duy trì sự sống dẫu chẳng làm da dẻ bớt vàng vạt. Nhưng đó chỉ là những kẻ có tầm vóc nhỏ nhoi. Các gia đình danh giá ở Middlemarch dĩ nhiên không đời nào chịu đổi bác sĩ nếu không có lý do chính đáng; và những ai từng thuê ông Peacock đều không cảm thấy có nghĩa vụ phải chấp nhận một người mới chỉ với tư cách là kẻ kế nhiệm ông ấy, với lời phản đối rằng anh ta “trông chẳng có vẻ gì là bì được với Peacock.”

Nhưng Lydgate chưa đến thị trấn bao lâu thì đã có đủ thứ chi tiết được thêu dệt về anh, đủ sức khơi dậy những kỳ vọng cụ thể hơn và đẩy sự khác biệt lên thành phe phái; một vài chi tiết trong số đó mang cái vẻ ấn tượng kỳ lạ mà ý nghĩa thì hoàn toàn tối nghĩa, giống như một con số thống kê chẳng có tiêu chuẩn so sánh nào, nhưng lại kèm theo một dấu chấm than ở cuối câu. Số khối oxy mà một người trưởng thành hít vào mỗi năm — chúng có thể gây ra biết bao cơn kinh hoàng trong một vài vòng tròn xã hội ở Middlemarch! “Oxy! Chẳng ai biết cái thứ đó là gì — bảo sao mà dịch tả đã lan đến Dantzic? Thế mà vẫn có những kẻ dám nói kiểm dịch là vô tích sự!”

Một trong những sự thật nhanh chóng lan truyền là Lydgate không tự phát thuốc. Điều này khiến cả hai nhóm phật ý: những vị bác sĩ coi đó là đặc quyền bị xâm phạm, lẫn những thầy thuốc kiêm dược sĩ mà anh vốn đứng chung hàng ngũ; và chỉ ít lâu trước đó, họ hoàn toàn có thể cậy nhờ luật pháp để chống lại một kẻ không tự nhận mình là Tiến sĩ y khoa tốt nghiệp ở London mà dám đòi tiền công dưới danh nghĩa nào khác ngoài tiền bán thuốc. Nhưng Lydgate lại thiếu kinh nghiệm để lường trước rằng đường lối mới của anh thậm chí còn gây phật lòng dân thường hơn thế; và với ông Mawmsey, một chủ tiệm tạp hóa lớn ở Chợ Trên, người dù không phải bệnh nhân của anh nhưng vẫn niềm nở hỏi han về vấn đề này, anh lại tỏ ra kém khôn ngoan khi đưa ra một lời giải thích đại chúng đầy vội vã về lý do của mình, chỉ cho ông Mawmsey thấy rằng phẩm giá của người hành nghề y sẽ bị hạ thấp, và công chúng sẽ phải chịu thiệt hại liên tục, nếu cách duy nhất họ được trả công cho lao động của mình là qua việc kê những hóa đơn dài dằng dặc gồm thuốc nước, thuốc viên và các loại hỗn hợp.

“Chính bằng cách đó mà những người thầy thuốc tận tụy có thể trở nên tai hại chẳng kém gì lang băm,” Lydgate nói, có phần thiếu suy nghĩ. “Để kiếm sống, họ buộc phải cho thần dân của nhà vua uống quá liều thuốc; và đó là một dạng phản quốc tồi tệ, thưa ông Mawmsey — nó làm suy kiệt thể chất con người một cách chết người.”

Ông Mawmsey không chỉ là một giám thị giáo xứ (đó là nhân một vấn đề về trợ cấp cứu trợ ngoại vi mà ông đang có buổi trao đổi với Lydgate), ông còn mắc bệnh hen suyễn và có một gia đình ngày càng đông con: do đó, dưới góc độ y học cũng như góc độ cá nhân, ông là một nhân vật quan trọng; quả thực, ông là một chủ tiệm tạp hóa đặc biệt, với mái tóc được chải vuốt thành một chóp nhọn như ngọn lửa, và sự khép nép khi buôn bán của ông mang thứ hơi hướng thân tình, khích lệ — pha chút tán tỉnh đùa cợt, cùng một sự kiềm chế đầy cân nhắc để không bộc lộ toàn bộ chiều sâu trí tuệ của mình. Chính sự đùa cợt thân thiện khi hỏi han của ông Mawmsey đã thiết lập giọng điệu cho câu trả lời của Lydgate. Nhưng những kẻ khôn ngoan hãy tự cảnh giác chớ nên quá hăng hái giải thích: điều đó chỉ nhân lên những nguồn cơn gây hiểu lầm, làm dài thêm những khoản tính toán cho những kẻ chực chờ đếm sai.

Lydgate mỉm cười khi dứt lời, đặt chân lên bàn đạp ngựa, và ông Mawmsey cười lớn hơn nhiều so với mức lẽ ra ông phải làm nếu biết rõ thần dân của nhà vua là những ai, miệng thốt ra câu “Chào buổi sáng ngài, chào buổi sáng ngài” với cái điệu bộ của một kẻ nhìn thấu mọi chuyện tường tận. Nhưng thực chất tâm trí ông đang vô cùng rối bời. Suốt bao năm qua, ông vẫn luôn thanh toán những hóa đơn với từng khoản mục được kê rành mạch, để rồi cứ với mỗi nửa vương-chơn hay mười tám xu chi ra, ông chắc chắn mình nhận lại được một thứ gì đó có thể đo đếm được. Ông đã làm điều đó với sự mãn nguyện, coi đó là một phần trách nhiệm của một người chồng, người cha, và xem một tờ hóa đơn dài hơn bình thường như một thứ danh dự đáng để khoe khoang. Hơn thế nữa, bên cạnh lợi ích to lớn từ số thuốc dành cho “bản thân và gia đình,” ông còn tận hưởng niềm vui khi đưa ra những phán quyết sắc sảo về tác dụng tức thời của chúng, từ đó cung cấp những lời nhận định thông thái để dẫn đường cho ông Gambit — một thầy thuốc có địa vị thấp hơn một chút so với Wrench hay Toller, và đặc biệt được kính trọng như một hộ sinh, người mà về mọi mặt khác đều bị ông Mawmsey đánh giá năng lực ở mức kém nhất, nhưng riêng về khoản chữa bệnh, ông thường thì thầm nói rằng mình đặt Gambit lên trên tất cả mọi người.

Đó mới chính là những lý do sâu xa hơn vượt lên trên những lời bàn tán hời hợt của một kẻ tân binh, vốn càng trở nên phù phiếm hơn khi được nhắc lại trong phòng khách phía trên cửa hàng trước mặt bà Mawmsey, một người phụ nữ quen được cưng chiều như một bà mẹ mắn đẻ — thường xuyên chịu sự chăm sóc ở mức độ này hay mức độ khác từ ông Gambit, và thỉnh thoảng mắc những cơn bệnh đòi hỏi phải nhờ đến Tiến sĩ Minchin.

“Cái ông Lydgate này có ý bảo uống thuốc chẳng có ích gì sao?” bà Mawmsey cất lời, với một chút thói quen kéo dài giọng. “Tôi muốn ông ấy giải thích cho tôi nghe làm thế nào tôi có thể trụ vững qua mùa hội chợ, nếu trước đó một tháng tôi không uống thuốc bổ. Hãy nghĩ xem tôi phải chuẩn bị những gì để tiếp khách khứa chứ, mình ơi!” — đoạn bà Mawmsey quay sang một người bạn gái thân thiết ngồi bên cạnh — “nào là một chiếc bánh nhân thịt bê lớn — một khúc thịt thăn nhồi — một khoanh thịt bò — giăm bông, lưỡi lợn, vân vân và vân vân! Nhưng thứ giúp tôi khỏe mạnh nhất chính là thứ thuốc nước màu hồng chứ không phải màu nâu. Em lấy làm lạ, anh Mawmsey, với kinh nghiệm của anh mà lại có đủ kiên nhẫn để ngồi nghe. Chứ em là em sẽ phả thẳng vào mặt hắn rằng em hiểu biết hơn thứ đó nhiều.”

“Không, không, không,” ông Mawmsey đáp; “anh đâu có định nói cho hắn biết ý kiến của mình. Nghe hết mọi chuyện rồi tự mình phán xét mới là phương châm của anh. Nhưng hắn nào biết mình đang nói chuyện với ai. Đừng hòng mà xỏ mũi được ta. Thiên hạ thường hay ra điều dạy khôn ta, trong khi họ cũng chẳng khác nào nói rằng, ‘Mawmsey, anh là đồ ngốc.’ Nhưng anh chỉ cười trừ: anh chiều chuộng mọi điểm yếu của thiên hạ. Nếu thuốc men mà hại gì cho bản thân và gia đình, thì anh đã sớm nhận ra từ lâu rồi.”

Hôm sau, ông Gambit được người ta thuật lại chuyện Lydgate đi khắp nơi loan truyền rằng thuốc thang chẳng có tích sự gì.

“Thế ư!” ông ta thốt lên, nhướn mày với vẻ ngạc nhiên đầy thận trọng. (Ông ta là một người đàn ông lực lưỡng, thở phì phò, đeo một chiếc nhẫn lớn ở ngón áp út.) “Thế thì hắn chữa bệnh cho bệnh nhân bằng cách nào nhỉ?”

“Đó là điều tôi muốn nói,” bà Mawmsey đáp lời, người mà theo thói quen luôn gia tăng sức nặng cho lời nói của mình bằng cách nhồi nhét thật nhiều đại từ nhân xưng. “Hắn tưởng người ta chịu trả tiền chỉ để hắn đến ngồi chơi rồi lại đi về đấy phỏng?”

Bà Mawmsey từng được ông Gambit đến ngồi chơi cùng không biết bao nhiêu lần, bao gồm cả những bản tường trình rất chi tiết về tình trạng thể chất cũng như các chuyện khác của chính ông ta; nhưng dĩ nhiên ông ta thừa hiểu chẳng có ý mỉa mai nào trong câu nói của bà, bởi thời gian rảnh rỗi và những câu chuyện cá nhân của ông ta chưa bao giờ bị tính phí. Thế là ông ta đáp lại một cách dí dỏm —

“Chà, dẫu sao thì Lydgate cũng là một gã trai trẻ ưa nhìn mà.”

“Hắn không phải là kẻ mà tôi thèm thuê mướn,” bà Mawmsey nói. “Ai muốn thuê thế nào thì tùy.”

Do đó, ông Gambit có thể rời khỏi nhà vị chủ tiệm tạp hóa lớn mà không phải sợ hãi bất kỳ sự cạnh tranh nào, nhưng trong lòng vẫn mang theo cảm giác rằng Lydgate là một trong những kẻ đạo đức giả luôn tìm cách hạ uy tín người khác bằng cách quảng cáo cho sự trung thực của chính mình, và rằng việc vạch trần bộ mặt của hắn có khi lại là một việc đáng công làm. Tuy nhiên, ông Gambit vẫn có một cơ sở hành nghề đáng hài lòng, đượm nồng mùi vị của việc buôn bán lẻ tẻ, thứ gợi nhắc đến việc thu gọn các khoản tiền mặt thành một khoản số dư vừa vặn. Và ông ta thấy chưa đáng để phải vạch mặt Lydgate cho đến khi biết rõ cách làm. Quả thực, ông ta không có một nền tảng học vấn lớn, và đã phải tự mình nỗ lực vượt qua biết bao sự khinh miệt của giới chuyên môn; nhưng điều đó chẳng hề khiến ông ta kém phần mát tay trong vai trò một tay đỡ đẻ dẫu gọi bộ máy hô hấp là “phổi dài.”

Những thầy thuốc khác thì cảm thấy bản thân có năng lực hơn nhiều. Ông Toller chia sẻ những ca khám nghiệm cao cấp nhất trong thị trấn và thuộc về một gia đình lâu đời ở Middlemarch: nhà Toller có người làm luật sư và đủ mọi nghề nghiệp vượt trên ranh giới buôn bán nhỏ lẻ. Không giống như người bạn hay nổi cáu Wrench của chúng ta, ông có cách tiếp cận những chuyện vốn có thể làm mình bực mình một cách thảnh thơi nhất trên đời, bởi ông là một người lịch thiệp, tính tình hài hước điềm đạm, biết tận hưởng một cuộc sống gia đình sung túc, rất thích thú vui săn bắn mỗi khi có cơ hội, vô cùng thân thiết với ông Hawley và đối địch với ông Bulstrode. Có vẻ kỳ lạ khi một kẻ có những thói quen dễ chịu nhường ấy lại hay dùng phương pháp điều trị mạnh tay — chích máu, đắp thuốc phồng và bắt bệnh nhân chịu đói, với một thái độ dửng dưng lạnh lùng trước chính tấm gương của bản thân; nhưng sự bất hợp lý đó lại củng cố thêm niềm tin vào tài nghệ của ông nơi các bệnh nhân, những người thường nhận xét rằng ông Toller có tác phong lười nhác, nhưng phương pháp điều trị thì lại năng nổ hết chỗ chê: chẳng ai, theo lời họ kể, lại mang một thái độ nghiêm cẩn vào nghề nghiệp nhiều đến thế: ông đến hơi chậm, nhưng một khi đã đến là có ra tay hành động. Ông là một nhân vật rất được cưng chiều trong vòng tròn quan hệ của mình, và bất cứ điều gì ông ngầm ám chỉ nhằm hạ nhục ai đó đều có sức nặng gấp đôi nhờ cái giọng điệu bất cần đầy mỉa mai.

Đương nhiên là ông bắt đầu cảm thấy mệt mỏi khi phải cười trừ và thốt lên “À!” mỗi khi nghe người ta kể rằng người kế nhiệm của ông Peacock không có ý định phát thuốc; và khi ông Hackbutt nhắc đến chuyện đó trong một bữa tiệc tối bên ly rượu vang, ông Toller liền cười lớn và nói, “Thế thì Dibbitts sẽ tống khứ được đống thuốc ế ẩm của lão rồi. Tôi rất mến cậu Dibbitts nhỏ — tôi mừng vì cậu ta gặp may.”

“Tôi hiểu ý anh đấy, Toller,” ông Hackbutt nói, “và tôi hoàn toàn đồng quan điểm với anh. Tôi sẽ tranh thủ cơ hội để bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề này. Một thầy thuốc phải chịu trách nhiệm về chất lượng thuốc mà bệnh nhân của mình uống vào. Đó chính là lý do hợp lý của hệ thống tính phí từ trước đến nay; và chẳng có gì đáng ghét hơn cái thói làm bộ làm tịch cải cách này, khi mà chẳng có sự cải thiện thực chất nào diễn ra cả.”

“Làm bộ làm tịch ư, Hackbutt?” ông Toller mỉm cười mỉa mai. “Tôi không thấy thế. Chẳng ai lại đi làm bộ làm tịch về một thứ mà chẳng ai tin sái cổ cả. Chẳng có cuộc cải cách nào ở đây sất: vấn đề là khoản lợi nhuận từ tiền thuốc sẽ do dược sĩ hay bệnh nhân trả cho thầy thuốc, và liệu có nên có thêm khoản tiền công dưới danh nghĩa phí thăm khám hay không.”

“À, đúng thế; lại thêm một trong những thứ trò hề cũ rích được ngụy trang dưới diện mạo mới mẻ chết tiệt nào đó của các anh,” ông Hawley nói, tay chuyền bình đựng rượu sang cho ông Wrench.

Ông Wrench vốn là người ôn hòa, nhưng trong các bữa tiệc lại thường uống rượu khá thoải mái, hậu quả là trở nên dễ cáu kỉnh hơn.

“Còn về trò hề, Hawley,” ông ta lên tiếng, “đó là một từ quá dễ để vứt bừa ra đấy. Nhưng điều tôi đang đấu tranh chống lại là cái cách mà giới y khoa đang tự bôi tro trát trấu lên mặt mình, và lớn tiếng hô hào khắp xứ cứ như thể một vị bác sĩ đa khoa tự phát thuốc thì không thể là một quý ông. Tôi khinh bỉ ném trả lại sự quy chụp đó. Tôi xin tuyên bố, trò hèn hạ nhất mà một người có thể phạm phải chính là bước chân vào hàng ngũ đồng nghiệp của mình bằng những sự đổi mới vốn là một sự phỉ báng đối với quy trình lâu đời của họ. Đó là quan điểm của tôi, và tôi sẵn sàng bảo vệ nó trước bất cứ kẻ nào dám phản đối tôi.” Giọng của ông Wrench đã trở nên vô cùng sắc lẹm.

“Tôi không thể chiều ý anh khoản đó được đâu, Wrench,” ông Hawley nói, tay đút sâu vào túi quần.

“Anh bạn thân mến,” ông Toller chen vào với vẻ hòa giải, mắt nhìn ông Wrench, “các vị bác sĩ bị dẫm vào chân nhiều hơn chúng ta đấy chứ. Nếu anh cứ bấu víu lấy cái gọi là phẩm giá thì đó phải là câu chuyện của Minchin và Sprague.”

“Bộ luật y học chẳng có điều khoản nào đối với những hành vi xâm phạm này sao?” ông Hackbutt lên tiếng, với một niềm khao khát vô tư muốn đóng góp ánh sáng tri thức của mình. “Luật pháp quy định thế nào nhỉ, hả Hawley?”

“Chẳng làm gì được đâu,” ông Hawley đáp. “Tôi đã tìm hiểu hộ lão Sprague rồi. Anh chỉ có chuốc lấy cái đầu mẻ trán khi chống lại phán quyết chết tiệt của một vị thẩm phán nào đó mà thôi.”

“Xí! Cần gì luật với lệ,” ông Toller nói. “Xét trên phương diện hành nghề thì nỗ lực đó đúng là một sự ngớ ngẩn. Chẳng có bệnh nhân nào thích thế đâu — chắc chắn là không đời nào đám bệnh nhân của Peacock chịu thế, những kẻ đã quen với việc bị rút máu ròng ròng. Truyền chai rượu xuống đi.”

Lời tiên đoán của ông Toller đã phần nào ứng nghiệm. Nếu ông bà Mawmsey, những người vốn chẳng có ý định thuê mủng Lydgate, còn cảm thấy bất an trước tuyên bố bịa đặt của anh về chuyện tẩy chay thuốc men, thì tất yếu những ai mời anh đến khám cũng sẽ phải dò xét với đôi chút lo âu để xem liệu anh có thực sự “dùng mọi phương tiện có thể dùng” trong ca bệnh hay không. Ngay cả ông Powderell hiền lành, người với lòng bao dung quen thuộc trong cách lý giải luôn nghiêng về phía đánh giá cao Lydgate vì điều dường như là sự theo đuổi tận tâm một phương pháp tốt hơn, cũng không khỏi hoang mang trắc ẩn khi vợ mình mắc chứng giời leo, và không kìm nổi việc hé lộ với Lydgate rằng ông Peacock trong một trường hợp tương tự từng cho uống một loạt những viên thuốc chẳng thể định nghĩa bằng gì ngoài hiệu quả kỳ diệu giúp bà Powderell hồi phục trước ngày Lễ Thánh Mika từ một căn bệnh khởi phát vào một tháng Tám nóng nực lạ thường. Cuối cùng, quả thực, giữa một bên là mong muốn không làm tổn thương Lydgate và một bên là nỗi lo sợ rằng biết đâu thiếu mất “phương tiện” nào đó, ông đã ngầm thuyết phục vợ lén lút uống Viên thuốc Thanh lọc của Widgeon, một loại thuốc rất được trúng thầu tại Middlemarch, chuyên chặn đứng mọi thứ bệnh tật ngay từ gốc rễ bằng cách lập tức tác động vào dòng máu. Biện pháp kết hợp này tuyệt đối không được để lộ cho Lydgate biết, và bản thân ông Powderell cũng chẳng dám đặt trọn niềm tin vào nó, chỉ thầm cầu mong nó mang lại chút phước lành.

Thế nhưng, giữa giai đoạn đầy hoài nghi khi mới chân ướt chân ráo bước vào thị trấn ấy, Lydgate lại được cứu giúp bởi thứ mà chúng ta, những kẻ phàm trần, vẫn thường gọi bằng cái tên liều lĩnh là vận may. Tôi cho rằng chẳng có vị bác sĩ nào đặt chân đến một vùng đất mới mà lại không lập được những kỳ tích chữa bệnh khiến ai nấy ngỡ ngàng — những ca chữa bệnh có thể được coi là giấy chứng nhận của thần may mắn, và xứng đáng nhận được sự tín nhiệm chẳng kém gì loại giấy tờ được viết tay hay in ấn đàng hoàng. Nhiều bệnh nhân đã bình phục trong khi được Lydgate chăm sóc, thậm chí có cả những ca bệnh hiểm nghèo; và người ta nhận ra rằng vị bác sĩ mới với những phương thức mới mẻ ít ra cũng có công đưa con người ta trở về từ cửa tử. Những lời đàm tiếu nhảm nhí thốt ra trong những dịp như thế càng khiến Lydgate thêm phần bực bội, bởi chúng mang lại chính cái thứ danh tiếng hão huyền mà một kẻ bất tài và vô lương tâm hằng khao khát, và chắc chắn sẽ bị đám đồng nghiệp đang hậm hực căm ghét quy chụp cho anh là đang tự mình cổ vũ cho trò bịp bợm dốt nát. Thế nhưng, ngay cả sự thẳng thắn kiêu hãnh của anh cũng phải chùn bước trước nhận thức rằng việc chống lại những lời diễn giải của sự dốt nát thì cũng vô ích chẳng khác nào quất roi vào màn sương mù; và “vận may” cứ khăng khăng muốn lợi dụng chính những lời diễn giải ấy.

Bà Larcher bỗng dưng cảm thấy động lòng trắc ẩn trước những triệu chứng đáng báo động ở người lao công của mình, đúng lúc Tiến sĩ Minchin ghé qua liền nhờ ông khám ngay tại chỗ và cấp cho bà ấy một giấy chuyển viện vào Bệnh viện Xá; thế là sau khi thăm khám, ông liền viết một bản bệnh án xác định đây là một ca bướu cổ, đồng thời giới thiệu người mang giấy là Nancy Nash làm bệnh nhân ngoại trú. Nancy, trên đường ghé qua nhà trước khi đến Bệnh viện Xá, đã hào phóng để cho người thợ đóng giày và vợ hắn, chủ ngôi gác mái nơi cô thuê trọ, đọc tờ giấy của Tiến sĩ Minchin, và nhờ thế mà cô trở thành chủ đề cho những câu chuyện đầy thương cảm tại các cửa hàng lân cận ở ngõ Churchyard Lane, rằng cô đang mắc một khối u thoạt đầu được tuyên bố là to và cứng như trứng vịt, nhưng đến cuối ngày thì được miêu tả là to bằng “nắm đấm của anh.” Hầu hết người nghe đều đồng thuận rằng thế nào khối u ấy cũng phải mổ bỏ, nhưng có kẻ lại mách nước dùng dầu, kẻ khác lại khuyên dùng “bột cánh kiến” là những thứ đủ sức làm mềm và thu nhỏ mọi khối u trong cơ thể nếu uống đủ liều vào bên trong — dầu thì giúp làm “mềm” dần dần, còn bột cánh kiến thì giúp ăn mòn dần.

Trong khi đó, khi Nancy đến Bệnh viện Xá, tình cờ lại là một trong những ngày trực của Lydgate ở đó. Sau khi gặng hỏi và thăm khám cho cô, Lydgate thì thầm với bác sĩ nội trú rằng: “Đây không phải khối u: đây là chứng chuột rút.” Anh kê cho cô một miếng dán phồng rộp và một ít hỗn hợp thuốc sắt, dặn cô về nhà nghỉ ngơi, đồng thời đưa cho cô một bức thư gửi bà Larcher — người mà cô nói là chủ thuê mướn tốt nhất của cô — nhằm chứng thực rằng cô đang rất cần được tẩm bổ đầy đủ.

Thế rồi chẳng mấy chốc, Nancy, trên căn gác mái của mình, lại trở nên tồi tệ một cách đáng sợ, khối u vốn được cho là đã chịu khuất phục trước miếng dán phồng rộp hóa ra chỉ di dời sang vùng cơ thể khác kèm theo những cơn đau dữ dội hơn. Vợ người thợ đóng giày phải đi gọi Lydgate, và anh đã tiếp tục đến khám cho Nancy tại nhà suốt hai tuần liền, cho đến khi dưới sự điều trị của anh, cô hoàn toàn bình phục và lại có thể đi làm trở lại. Thế nhưng câu chuyện vẫn tiếp tục được thêu dệt ở ngõ Churchyard Lane và các con phố khác như một ca bướu cổ — thậm chí, ngay cả bà Larcher cũng đinh ninh như vậy; bởi khi ca chữa bệnh kỳ diệu của Lydgate được nhắc đến trước mặt Tiến sĩ Minchin, ông ta dĩ nhiên chẳng đời nào chịu thốt lên rằng, “Ca đó vốn không phải khối u, và tôi đã nhầm khi chẩn đoán nó là như vậy,” mà lại đáp rằng: “Thế ư! Chà! Tôi nhìn ra đó là một ca phẫu thuật, nhưng không phải loại nguy hiểm đến tính mạng.” Tuy nhiên, trong lòng ông ta vô cùng bực bội khi hỏi thăm ở bệnh viện về người phụ nữ mà mình từng giới thiệu hai ngày trước, để rồi nghe chính vị bác sĩ nội trú — một tên ranh con chẳng ngần ngại gì việc chọc tức Minchin mà không sợ bị trừng phạt — thuật lại nguyên văn sự việc xảy ra: sau đó, ông ta kín đáo tuyên bố rằng thật là vô phép khi một bác sĩ đa khoa lại đi công khai bác bỏ chẩn đoán của một vị tiến sĩ y khoa theo cái kiểu trơ trẽn đó, và sau đó hùa với Wrench để kết luận rằng Lydgate là kẻ thiếu ý thức về phép lịch sự một cách khó chịu. Lydgate chẳng lấy sự việc đó làm cái cớ để tự cao tự đại hay (nhất là) coi thường Minchin, bởi việc đính chính những phán quyết sai lầm vốn là chuyện thường tình xảy ra giữa những kẻ có năng lực ngang ngửa nhau. Thế nhưng lời đồn đại vẫn cứ thêu dệt nên câu chuyện bướu cổ kỳ lạ này, vốn chẳng được phân biệt rạch ròi với ung thư, và càng trở nên đáng sợ hơn vì thuộc loại bướu di chuyển; cho đến khi phần lớn thành kiến chống lại phương pháp dùng thuốc của Lydgate bị đánh bay bởi minh chứng về tay nghề siêu việt của anh trong việc nhanh chóng phục hồi sức khỏe cho Nancy Nash, sau khi cô đã oằn mình quằn quại trong những cơn đau đớn dữ dội xuất phát từ một khối u vừa cứng vừa ngoan cố, vậy mà cuối cùng vẫn phải khuất phục.

Lydgate biết làm thế nào đây? Thật là khiếm nhã khi bảo một người phụ nữ đang bày tỏ sự kinh ngạc trước tay nghề của bạn rằng cô ấy hoàn toàn nhầm lẫn và có phần ngốc nghếch khi tỏ ra kinh ngạc như thế. Và nếu dấn thân giải thích bản chất của các bệnh lý thì chỉ càng làm tăng thêm những hành vi vi phạm phép tắc y khoa của anh mà thôi. Thế là anh đành phải cắn răng chịu đựng những lời khen ngợi dốt nát vốn bỏ lỡ mọi phẩm chất đích thực nhưng lại hứa hẹn mang đến sự nổi tiếng.

Trong trường hợp của một bệnh nhân nổi bật hơn, ông Borthrop Trumbull, Lydgate nhận thức rõ mình đã thể hiện được bản lĩnh vượt trội hơn hẳn những vị bác sĩ tầm thường, dẫu rằng ở đây anh cũng thu về một thứ lợi ích mập mờ tương tự. Tay đấu giá hùng biện bỗng dưng mắc bệnh viêm phổi, và vì từng là bệnh nhân của ông Peacock, hắn liền gọi cho Lydgate, người mà hắn từng bày tỏ ý định sẽ bảo trợ. Ông Trumbull là một kẻ tráng kiện, một đối tượng tuyệt vời để thử nghiệm lý thuyết điều trị chờ đợi — theo dõi diễn tiến của một căn bệnh thú vị khi để nó tự nhiên diễn ra nhiều nhất có thể, để các giai đoạn bệnh có thể được ghi chép lại làm tài liệu hướng dẫn cho tương lai; và qua cái điệu bộ khi hắn mô tả những cảm giác của mình, Lydgate đoán rằng hắn rất muốn được lọt vào danh sách những người được vị thầy thuốc của mình tin tưởng, và được coi như một đối tác trong chính quá trình chữa bệnh cho bản thân. Tay đấu giá nghe tin mà chẳng lấy làm ngạc nhiên mấy khi biết rằng cơ địa của hắn (miễn là được theo dõi cẩn thận) hoàn toàn có thể được để mặc tự nhiên, nhằm tạo ra một hình mẫu tuyệt đẹp về một căn bệnh với toàn bộ các giai đoạn được thể hiện rõ mồn một, và rằng hắn có lẽ sở hữu một sức mạnh tinh thần hiếm có khi tình nguyện trở thành vật thí nghiệm cho một quy trình hợp lý, từ đó biến chứng rối loạn chức năng phổi của mình thành một đóng góp chung cho xã hội.

Ông Trumbull liền lập tức đồng ý, và hào hứng tiếp thu quan điểm cho rằng căn bệnh của ông không phải là một dịp tầm thường đối với y học.

“Cứ yên tâm, thưa ngài; ngài đang không nói chuyện với một kẻ hoàn toàn mù tịt về sức mạnh tự chữa lành của cơ thể đâu,” hắn ta cất lời, với cái vẻ cao ngạo quen thuộc, nay trở nên có phần não nề hơn vì khó thở. Và hắn đã kiên quyết trải qua quá trình kiêng khem thuốc men, được củng cố tinh thần rất nhiều nhờ việc kẹp nhiệt kế ngụ ý tầm quan trọng của thân nhiệt hắn, nhờ cảm giác rằng mình đang cung cấp mẫu vật cho kính hiển vi, cùng việc học thêm vô số từ mới có vẻ rất xứng tầm với sự trang trọng của các chất bài tiết trong cơ thể. Bởi Lydgate đủ sắc sảo để chiều chuộng hắn bằng dăm ba thuật ngữ chuyên môn.

Có thể tưởng tượng được rằng ông Trumbull đã bước xuống giường bệnh với tâm thế muốn bàn tán về một căn bệnh mà qua đó ông đã thể hiện được cả sức mạnh tinh thần lẫn thể chất của mình; và hắn chẳng ngần ngại dành những lời tán dương cho vị thầy thuốc đã nhận diện được tầm cỡ của một bệnh nhân mà ông phải đối mặt. Tay đấu giá không phải là kẻ keo kiệt, và rất thích ban phát sự công nhận cho người khác, cảm thấy mình đủ khả năng làm điều đó. Hắn đã chộp lấy được cụm từ “phương pháp điều trị chờ đợi,” và cứ thế lặp đi lặp lại không ngớt cụm từ này cùng những thuật ngữ uyên bác khác để đính kèm theo lời cam đoan rằng Lydgate “biết nhiều điều hơn hẳn những gã bác sĩ còn lại — am hiểu sâu sắc hơn rất nhiều về những bí mật nghề nghiệp so với phần lớn đồng nghiệp của hắn.”

Chuyện này xảy ra trước khi vụ bệnh tình của Fred Vincy đẩy mối thù hằn của ông Wrench đối với Lydgate lên một mức độ mang tính cá nhân rõ rệt hơn. Kẻ mới đến này đã bắt đầu đe dọa trở thành một mối phiền toái dưới hình thức cạnh tranh, và chắc chắn là một mối phiền toái dưới hình thức chỉ trích thực tế hay những lời châm chọc nhắm vào các bậc lão niên đang phải làm việc vất vả, những kẻ vốn còn bận trăm công nghìn việc khác chứ chẳng có thì giờ bận tâm đến những ý tưởng chưa được kiểm chứng. Phòng khám của anh đã mở rộng sang một vài khu vực, và ngay từ đầu, tiếng tăm về dòng dõi danh giá của anh đã khiến anh được mời mọc khá phổ biến khắp nơi, khiến các vị bác sĩ khác buộc phải gặp mặt anh trong các bữa tối tại những gia đình giàu có nhất; và việc phải chạm mặt một kẻ mà mình căm ghét xưa nay vốn chẳng mấy khi kết thúc bằng một sự gắn kết lẫn nhau. Hiếm khi nào có sự đồng lòng lớn lao đến thế giữa bọn họ như trong quan điểm cho rằng Lydgate là một gã trai trẻ kiêu ngạo, vậy mà vì mục đích độc chiếm quyền lực cuối cùng lại sẵn sàng thể hiện một thái độ luồn cúi hèn mọn trước Bulstrode. Việc ông Farebrother — người có cái tên tượng trưng cho ngọn cờ đầu của phe chống Bulstrode — luôn bênh vực Lydgate và kết bạn với anh, đã được quy cho cái thói quen kỳ quặc là thích đánh đu cả hai tay của Farebrother.

Tất cả những điều đó đã tạo nên một sự chuẩn bị dư dả cho sự bùng nổ của nỗi căm phẫn trong giới y khoa khi hay tin về những đạo luật mà ông Bulstrode đang áp đặt nhằm định hướng cho Bệnh viện Mới, những quy định càng làm người ta thêm phần tức giận bởi ở thời điểm hiện tại chẳng có chút hy vọng nào để can thiệp vào ý chí và sở thích của ông ta, khi mà ngoại trừ Lord Medlicote ra, tất cả mọi người đều từ chối quyên góp tiền xây dựng với lý do họ thích đóng góp cho Bệnh viện Xá cũ hơn. Ông Bulstrode tự mình gánh vác mọi chi phí, và đã nguôi ngoai nỗi tiếc nuối khi phải mua lấy quyền thực hiện những ý tưởng cải cách của mình mà không bị quấy rầy bởi những cộng sự đầy thành kiến; thế nhưng ông đã phải vung ra những khoản tiền khổng lồ, và tiến độ thi công thì cứ kéo dài lê thê. Caleb Garth từng nhận thầu công trình này, đã phá sản trong quá trình thi công, và trước khi phần nội thất bên trong kịp khởi động thì đã rút lui khỏi việc quản lý dự án; và mỗi khi nhắc đến Bệnh viện, ông thường nói rằng dù Bulstrode có phát ra âm thanh gì khi thử nghiệm đi chăng nữa, thì ông vẫn thích những công trình mộc và nề thật sự vững chãi, và có hiểu biết hẳn hoi về cả hệ thống cống rãnh lẫn ống khói. Trên thực tế, Bệnh viện đã trở thành một mối quan tâm sâu sắc của Bulstrode, và ông sẵn sàng tiếp tục cắt ra một khoản tiền lớn hằng năm để có thể một tay che trời cai quản nó như một nhà độc tài mà chẳng cần đến bất kỳ hội đồng nào; thế nhưng ông lại còn một mục tiêu ưa thích khác cũng đòi hỏi tiền bạc để hoàn thành: ông muốn mua một mảnh đất ở vùng lân cận Middlemarch, và do đó ông muốn huy động những khoản đóng góp đáng kể để duy trì Bệnh viện. Trong khi đó, ông đã phác thảo ra kế hoạch quản lý của mình. Bệnh viện sẽ chỉ dành riêng cho các loại bệnh sốt; Lydgate sẽ giữ chức giám đốc y tế trưởng, để anh có toàn quyền theo dõi mọi cuộc nghiên cứu đối chiếu mà các công trình nghiên cứu của anh, đặc biệt là ở Paris, đã cho thấy tầm quan trọng của chúng, trong khi các y bác sĩ thăm khám khác chỉ đóng vai trò tư vấn chứ không có quyền lật ngược các quyết định cuối cùng của Lydgate; và quyền quản lý chung sẽ được giao phó hoàn toàn cho năm giám đốc liên kết với ông Bulstrode, những người sẽ có quyền biểu quyết tương ứng với tỷ lệ đóng góp của họ, tự hội đồng sẽ khuyết chỗ nào thì tự bổ sung người vào chỗ trống ấy, tuyệt đối không cho phép bất kỳ đám đông tiểu thương đóng góp nhỏ lẻ nào bén mảng vào quyền cai trị.

Lập tức xuất hiện sự từ chối thẳng thừng từ phía mọi thầy thuốc trong thị trấn về việc đảm nhận vai trò cố vấn tại Bệnh viện Sốt.

“Được thôi,” Lydgate nói với ông Bulstrode, “chúng ta có một bác sĩ nội trú kiêm dược sĩ tuyệt vời, một kẻ đầu óc minh mẫn, tay chân tháo vát; chúng ta sẽ mời Webbe từ Crabsley, một thầy thuốc nông thôn cừ khôi chẳng kém gì ai trong số bọn họ, đến đây hai lần một tuần, và trong trường hợp có ca phẫu thuật đặc biệt nào đó, Protheroe sẽ từ Brassing tới. Tôi chỉ việc làm việc chăm thế hơn, thế thôi, và tôi cũng đã từ chức ở Bệnh viện Xá rồi. Kế hoạch này sẽ phất lên bất chấp sự phá đám của bọn họ, và rồi họ sẽ phải ngậm ngùi xin gia nhập thôi. Mọi chuyện không thể cứ mãi thế này được; sớm muộn gì cũng sẽ có đủ loại cải cách diễn ra, và khi đó đám thanh niên trẻ tuổi sẽ lại tranh nhau đến đây học hỏi cho mà xem.” Lydgate đang ở trong tâm trạng vô cùng phấn chấn.

“Tôi sẽ không chùn bước đâu, anh cứ yên tâm, thưa Lydgate,” ông Bulstrode nói. “Chừng nào tôi còn thấy anh kiên định thực hiện những hoài bão cao đẹp với đầy nhiệt huyết, anh sẽ luôn nhận được sự ủng hộ vững chắc từ tôi. Và tôi hoàn toàn tin tưởng một cách khiêm nhường rằng phước lành từng đi theo những nỗ lực của tôi chống lại thế lực tà ác tại thị trấn này sẽ không bao giờ rời bỏ chúng ta. Tôi chắc chắn sẽ tìm được những vị giám đốc phù hợp để phò tá mình. Ngài Brooke xứ Tipton đã đồng thuận với tôi và cam kết sẽ đóng góp hằng năm: ngài ấy chưa nêu cụ thể con số — có lẽ không lớn lắm. Nhưng ngài ấy sẽ là một thành viên hữu ích trong hội đồng.”

Một thành viên hữu ích có lẽ được định nghĩa là kẻ chẳng bao giờ sáng kiến ra điều gì, và luôn bỏ phiếu thuận theo ông Bulstrode.

Sự ghê tởm của giới y khoa đối với Lydgate giờ đây hầu như chẳng thèm che giấu nữa. Cả Tiến sĩ Sprague lẫn Tiến sĩ Minchin đều không nói rằng họ ghét kiến thức của Lydgate, hay xu hướng cải thiện phương pháp điều trị của anh: thứ họ ghét chính là sự kiêu ngạo của anh, một điều mà chẳng ai có thể phủ nhận hoàn toàn. Họ ngầm ám chỉ rằng anh là kẻ xấc láo, phô trương, và mang cái thói đổi mới liều lĩnh cốt để gây chú ý và làm màu, vốn là bản chất của phường lang băm.

Cái từ lang băm một khi đã được thốt lên không gian thì chẳng thể nào thu hồi lại được. Vào những ngày đó, thiên hạ đang xôn xao trước những kỳ tích của ông St. John Long, khi “các vị quý tộc và tao nhân mặc khách” làm chứng cho việc ông ta rút ra một thứ chất lỏng như thủy ngân từ thái dương của bệnh nhân.

Ông Toller một hôm mỉm cười nói với bà Taft rằng: “Bulstrode đã tìm được một kẻ vừa vặn với mình rồi đấy, đó là Lydgate; một kẻ đạo đức giả trong tôn giáo thì chắc chắn sẽ khoái những thể loại lang băm khác.”

“Ừ quả thật, tôi có thể tưởng tượng được,” bà Taft vừa nói vừa cẩn thận đếm từng mũi khâu thứ ba mươi trong đầu; “có biết bao nhiêu kẻ kiểu đó cơ chứ. Tôi nhớ ngài Cheshire, với mấy cái khung sắt của lão, cứ cố nắn người ta thẳng thớm trong khi Đấng Toàn Năng sinh ra họ vốn đã cong vẹo sẵn.”

“Không, không,” ông Toller nói, “Cheshire thì không có gì để bàn — mọi thứ đều đường hoàng quang minh chính đại. Nhưng còn St. John Long — đó mới chính là thể loại mà chúng ta gọi là lang băm, chuyên quảng cáo những cách chữa bệnh quái quỷ chẳng ai hiểu nổi: một tên thích làm nổi bằng cách ra điều uyên sâu hơn người khác. Mới hôm qua hắn còn làm bộ như đang khoan vào đại não của một người để hút thủy ngân ra kìa.”

“Chúa tôi! Thật là thứ đùa giỡn kinh hoàng với sức khỏe của con người!” bà Taft thốt lên.

Sau chuyện này, người ta bắt đầu đồn đại ở nhiều nơi rằng Lydgate dám đem cả những cơ địa đáng kính ra đùa giỡn để mưu lợi cá nhân, và với những thí nghiệm điên rồ ấy thì việc hắn làm xáo trộn tung tóe tính mạng của các bệnh nhân trong bệnh viện là điều hiển nhiên đến mức nào. Nhất là như lời bà chủ quán Tankard đã nói, người ta đoán chắc hắn sẽ nhẫn tâm mổ xẻ những cái xác chết của họ. Số là Lydgate từng chữa trị cho bà Goby, người qua đời rõ ràng vì một căn bệnh tim không được thể hiện rõ ràng qua các triệu chứng, đã cả gan xin phép người nhà bà cho mổ tử thi, qua đó gây ra một sự phẫn nộ lan rộng vượt ra ngoài phố Parley, nơi người phụ nữ ấy đã cư ngụ lâu năm với một mức thu nhập đủ để biến việc gắn kết thi thể của bà với những nạn nhân của Burke và Hare thành một sự lăng mạ trắng trợn đối với ký ức về bà.

Mọi chuyện đang ở vào giai đoạn này thì Lydgate khơi mào chủ đề về Bệnh viện với Dorothea. Ta có thể thấy rằng anh đang dũng cảm đối mặt với sự thù hằn và những hiểu lầm ngu ngốc, ý thức được rằng chúng một phần sinh ra từ những thành công rực rỡ của chính mình.

“Họ sẽ không đuổi được tôi đi đâu,” anh vừa nói vừa trò chuyện tâm tình trong phòng nghiên cứu của ông Farebrother. “Tôi đã chớp được một cơ hội tuyệt vời ở đây, vì những mục tiêu mà tôi quan tâm nhất; và tôi khá chắc chắn sẽ kiếm đủ thu nhập cho nhu cầu của chúng tôi. Chẳng mấy chốc nữa tôi sẽ tiếp tục làm việc một cách lặng lẽ nhất có thể: giờ đây tôi chẳng còn chút cáM dỗ nào lôi kéo ra khỏi nhà và công việc nữa. Và tôi càng lúc càng tin chắc rằng việc chứng minh nguồn gốc đồng nhất của tất cả các mô cơ là hoàn toàn khả thi. Raspail và những người khác cũng đang đi trên con đường đó, và tôi thì đã lãng phí quá nhiều thời gian rồi.”

“Tôi chẳng có khả năng tiên tri nào trong chuyện đó cả,” ông Farebrother nói, vừa trầm ngâm rít tẩu thuốc vừa lắng nghe Lydgate nói; “nhưng còn về sự thù địch trong thị trấn, anh sẽ vượt qua được nếu biết thận trọng.”

“Tôi phải thận trọng bằng cách nào đây?” Lydgate nói. “Tôi chỉ làm những việc trước mắt mình phải làm thôi. Tôi đâu thể kiểm soát được sự dốt nát và ác ý của thiên hạ, cũng chẳng khác nào Vesalius từng chịu đựng. Đâu thể nào gọt giũa hành vi của mình cho khớp với những kết luận ngớ ngẩn mà chẳng ai có thể lường trước được.”

“Hoàn toàn đúng; ý tôi không phải thế. Tôi chỉ muốn nói đến hai điều. Một là, hãy giữ khoảng cách với Bulstrode càng nhiều càng tốt: dĩ nhiên, anh vẫn có thể tiếp tục làm công việc chính nghĩa của mình nhờ sự giúp đỡ của ông ta; nhưng đừng để bị trói buộc. Có lẽ nghe thế có vẻ như tôi đang mang cảm xúc cá nhân — và thú thật là có một phần không nhỏ là thế — nhưng cảm xúc cá nhân không phải lúc nào cũng sai lầm nếu anh chắt lọc nó xuống thành những ấn tượng đơn thuần tạo nên một quan điểm.”

“Bulstrode chẳng là gì đối với tôi cả,” Lydgate thản đáp, “ngoại trừ những lý do công vụ. Còn về việc gắn kết quá chặt chẽ với ông ta, tôi vốn chẳng ưa gì lão ta đến mức đó. Thế còn điều thứ hai anh muốn nói là gì?” Lydgate vừa hỏi vừa co chân lại một cách thoải mái nhất có thể, chẳng hề cảm thấy cần chút lời khuyên nào.

“Chính là điều này. Hãy cẩn thận — experi crede [hãy tin kẻ từng trải] — hãy cẩn thận đừng để bản thân bị vướng bận vào chuyện tiền bạc. Tôi biết, qua một câu lỡ lời của anh hôm nọ, rằng anh không thích việc tôi chơi bài ăn tiền quá nhiều. Anh nói đúng hoàn toàn. Nhưng hãy cố gắng tránh xa việc túng thiếu những khoản tiền nhỏ mà mình không có trong tay. Có lẽ tôi đang nói hơi thừa thãi; nhưng con người ta thường thích tỏ ra bề trên với chính mình bằng cách trưng ra những tấm gương xấu và giảng đạo về nó.”

Lydgate đón nhận những lời gợi ý của ông Farebrother một cách rất chân tình, dẫu rằng anh khó lòng chịu đựng nổi những lời đó nếu thốt ra từ miệng kẻ khác. Anh không tài nào quên được việc dạo gần đây mình đã vướng vào một vài khoản nợ, nhưng chúng có vẻ là điều tất yếu, và giờ đây anh chẳng có ý định nào khác ngoài việc duy trì gia đình theo một lối sống giản dị. Đồ đạc trong nhà mà anh còn nợ sẽ chẳng cần phải thay mới; thậm chí cả kho rượu cũng sẽ dùng được trong một thời gian dài.

Nhiều ý nghĩ đã cổ vũ anh trong khoảng thời gian đó — và hoàn toàn chính đáng. Một người mang trong mình ngọn lửa nhiệt huyết vì những mục tiêu cao đẹp sẽ luôn được nâng đỡ giữa những sự thù hằn vặt vãnh nhờ ký ức về những bậc vĩ nhân từng phải gian nan chiến đấu để mở đường dẫu chẳng tránh khỏi thương tích, những người hiện lên trong tâm trí anh như những vị thánh hộ mệnh, âm thầm trợ giúp. Ở nhà, cũng vào buổi tối hôm đó khi anh vừa trò chuyện rôm rả với ông Farebrother, anh duỗi thẳng đôi chân dài trên ghế sofa, ngảh đầu ra sau và đan hai tay vào gáy theo cái tư thế trầm ngâm yêu thích của mình, trong khi Rosamond ngồi bên cây đàn piano, liên khúc hết bản nhạc này đến bản nhạc khác, mà ông chồng chỉ biết (như cái giống voi đa cảm mà anh vốn thế!) rằng chúng hòa nhịp vào tâm trạng anh hệt như những làn gió biển du dương.

Có một điều gì đó vô cùng tuyệt vời ở vẻ bề ngoài của Lydgate lúc bấy giờ, và bất cứ ai cũng sẽ được cổ vũ để đặt cược vào thành công của anh. Trong đôi mắt thẫm màu, trên khóe môi và vầng trán của anh tỏa ra thứ sự điềm tĩnh bắt nguồn từ sự viên mãn của tư duy chiêm nghiệm — một tâm trí không phải đang tìm kiếm mà là đang ngắm nhìn, và ánh mắt dường như đong đầy những gì ẩn chứa bên trong.

Chẳng mấy chốc Rosamond rời khỏi cây đàn piano và bước đến ngồi xuống chiếc ghế bành sát cạnh ghế sofa, đối diện với gương mặt chồng.

“Thế đã đủ âm nhạc cho ngài chưa, thưa chúa công?” cô vừa nói vừa đan hai tay trước ngực, ra vẻ ngoan ngoãn đáng yêu.

“Rồi em yêu, nếu em mỏi rồi,” Lydgate dịu dàng đáp, quay mắt nhìn cô đầy trìu mến mà không cử động thêm gì khác. Sự hiện diện của Rosamond lúc đó có lẽ chẳng khác nào một thìa nước đổ vào hồ, và bản năng phụ nữ của cô trong chuyện này chưa bao giờ cùn mòn cả.

“Điều gì đang làm anh say đắm thế?” cô vừa hỏi vừa nhoài người tới, áp sát gương mặt mình hơn vào mặt anh.

Anh cử động đôi tay, nhẹ nhàng đặt chúng lên bờ vai cô.

“Anh đang nghĩ về một vĩ nhân, người có tuổi đời xấp xỉ anh vào ba trăm năm trước, và khi ấy đã bắt đầu mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành giải phẫu học.”

“Em chịu không đoán được,” Rosamond vừa lắc đầu vừa đáp. “Tụi em từng chơi trò đoán tên các nhân vật lịch sử ở trường bà Lemon, chứ có ai đoán nhà giải phẫu học đâu.”

“Anh nói cho em biết nhé. Tên ông ấy là Vesalius. Và cách duy nhất để ông ấy nắm bắt ngành giải phẫu như thế chính là đi cướp xác vào ban đêm, từ các nghĩa địa và pháp trường.”

“Ôi!” Rosamond thốt lên, trên gương mặt xinh đẹp thoáng hiện vẻ ghê tởm, “Em rất mừng vì anh không phải là Vesalius. Em cứ tưởng ông ấy phải tìm ra cách nào ít ghê rợn hơn thế chứ.”

“Không, chẳng có cách nào khác đâu,” Lydgate tiếp lời, say sưa đến mức chẳng màng để ý đến câu trả lời của cô. “Ông ấy chỉ có thể kiếm được một bộ xương hoàn chỉnh bằng cách cướp lấy những bộ xương đã trắng phau của tử tội trên giá treo cổ, rồi đem chôn đi, sau đó lén lút đào lên từng mảnh một vào giữa đêm khuya khoắt.”

“Em hy vọng ông ta không phải là một trong những vị anh hùng vĩ đại của anh,” Rosamond nửa đùa nửa thật, nửa lo lắng nói, “nếu không thì em sẽ lại thấy anh lén trốn dậy nửa đêm để đi ra nghĩa địa thánh Phêrô mất. Anh biết rõ thiên hạ đã tức giận thế nào về vụ bà Goby rồi đấy. Anh vốn đã có đủ kẻ thù rồi cơ mà.”

“Vesalius cũng thế thôi, Rosy ạ. Chẳng trách gì đám thầy thuốc cổ hủ ở Middlemarch lại đố kỵ, khi mà một số bác sĩ vĩ đại nhất thời đó từng căm phẫn Vesalius chỉ vì họ tôn sùng Galen, còn ông ấy thì chứng minh Galen đã sai. Họ mắng nhiếc ông là kẻ dối trá và là con quái vật độc ác. Nhưng sự thật về cơ thể con người lại đứng về phía ông ấy; và thế là ông ấy đã đánh bại bọn họ.”

“Và chuyện gì đã xảy ra với ông ấy sau đó hả anh?” Rosamond hỏi với chút ít tò mò.

“À, ông ấy đã phải chiến đấu vất vả cho đến tận cuối đời. Và có lúc họ đã khiến ông nổi giận đến mức đốt bỏ kha khá các công trình nghiên cứu của mình. Rồi ông ấy gặp nạn đắm tàu ngay trên đường từ Jerusalem về nhận một chiếc ghế giáo sư danh giá ở Padua. Ông ấy qua đời trong cảnh khá khốn đốn.”

Có một khoảng lặng ngắn trước khi Rosamond cất lời: “Anh biết không, Tertius, đôi khi em cứ ước gì anh đừng làm nghề y.”

“Thôi nào Rosy, đừng nói thế,” Lydgate vừa nói vừa kéo cô sát vào lòng hơn. “Câu đó chẳng khác nào bảo rằng em ước gì mình đã lấy người đàn ông khác.”

“Đâu phải thế; anh thừa thông minh để làm bất cứ việc gì: anh hoàn toàn có thể làm một nghề khác. Và đám họ hàng nhà anh ở Quallingham đều nghĩ rằng anh đã tự hạ thấp bản thân khi chọn cái nghề này đấy.”

“Mấy kẻ họ hàng ở Quallingham cứ việc xuống địa ngục đi!” Lydgate khinh bỉ thốt lên. “Đúng là cái thói xấc láo nếu họ dám mở miệng nói với em những câu kiểu đó.”

“Dẫu vậy,” Rosamond nói, “em vẫn không nghĩ đó là một nghề tao nhã đâu anh ạ.” Ta thừa biết cô nàng vốn rất kiên định một cách lặng lẽ đối với quan điểm của mình.

“Đó là nghề vĩ đại nhất trên đời, Rosamond,” Lydgate nghiêm giọng đáp. “Và việc em nói yêu anh mà lại không yêu cái chất làm bác sĩ trong con người anh thì cũng giống như việc em thích ăn đào mà lại ghét mùi vị của nó vậy. Đừng nói thế nữa em yêu, anh đau lòng lắm.”

“Được rồi, thưa Tiến sĩ Mặt-nghiêm-túc,” Rosy mỉm cười má lúm đồng tiền đáp, “từ nay em xin tuyên bố là em mê mẩn mấy bộ xương, mấy kẻ trộm xác, mấy cái lọ đựng mâý thứ lỉnh kỉnh, và những trận cãi vã với cả thế giới, để rồi kết cục là anh sẽ chết trong cảnh khốn đốn nhé.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.