Hắn vác lắm bòng bong trên vai,
Hơn Gerveis từng xoay sở.
—CHAUCER.
Buổi sáng hôm đó, Fred và Rosamond cưỡi ngựa đến Stone Court qua một khung cảnh vùng Trung du đẹp đẽ, nơi đâu cũng là đồng cỏ và bãi chăn thả, với những hàng rào cây bụi vẫn được để mặc cho mọc um tùm, dâng hiến những chùm quả đỏ mọng cho loài chim. Những chi tiết nhỏ nhặt thổi hồn vào từng thửa ruộng một vẻ riêng, thân thương đến khắc sâu trong tâm trí những ai đã ngắm nhìn chúng từ thuở ấu thơ: vũng nước ở góc bờ nơi cỏ mọc ẩm ướt và những rặng cây nghiêng mình thì thầm; gốc sồi lớn tỏa bóng mát lên khoảng đất trống giữa đồng; bờ đất cao nơi những cây tần bì vươn lên; sườn dốc bất chợt của mỏm đá vôi cũ tạo nên phông nền đỏ rực cho cụm ngưu bàng; những mái nhà chen chúc và các đống rơm của điền trang nằm khuất lấp không tài nào tìm thấy lối vào; chiếc cổng xám cùng hàng rào áp sát vào chiều sâu của khu rừng viền quanh; và căn lúp xúp hoang vắng, mái tranh xưa cũ phủ đầy những thung lồi nhấp nhô rêu phong với biết bao chuyển sắc kỳ diệu của ánh sáng và bóng tối – thứ mà khi về già, ta phải đi xa vạn dặm để tìm ngắm, dẫu thấy chúng bề thế hơn nhưng chẳng thể đẹp hơn. Chính những điều ấy đã dệt nên thanh âm niềm vui về phong cảnh trong tâm hồn người dân xứ Trung du – những thứ họ từng chập chững bước đi bên cạnh, hoặc có lẽ đã thuộc nằm lòng khi đứng giữa hai đầu gối của người cha trong lúc ông thong thả đánh xe.
Nhưng con đường, dẫu là đường nhánh, vẫn vô cùng quang hợp; bởi như ta đã thấy, Lowick không phải là một giáo xứ với những lối đi lầy lội và tá điền nghèo khó; và chỉ sau chừng hai dặm đường trên lưng ngựa, Fred và Rosamond đã đặt chân vào địa phận Lowick. Thêm một dặm nữa là họ đến Stone Court, và khi đi hết nửa chặng đầu, ngôi nhà đã hiện ra trước mắt, trông như thể sự phát triển thành một dinh thự đá của nó đã bị chặn đứng bởi một chùm các dãy nhà nông trại mọc lên bất ngờ ở sườn bên trái, khiến nó chẳng thể trở thành gì hơn ngoài một cơ ngơi bề thế của một điền chủ giàu có. Nhờ có cụm lúa mạch chóp nhọn cân xứng với hàng cây óc chó đẹp đẽ bên phải, trông nó càng thêm phần dễ chịu từ đằng xa.
Chẳng mấy chốc, người ta đã có thể nhận ra bóng dáng thứ gì đó giống như một chiếc xe ngựa nhẹ một ngựa kéo đang đỗ trên đường vòng trước cửa chính.
– Trời ạ, – Rosamond lên tiếng, – em hy vọng không có vị họ hàng kinh khủng nào của bác chúng ta đang ở đó.
– Có đấy chứ. Kia chính là chiếc xe của bà Waule – chiếc xe màu vàng độc nhất còn sót lại trên đời này, anh nghĩ thế. Mỗi khi thấy bà Waule ngồi trên đó, anh mới hiểu vì sao người ta lại có thể mặc đồ vàng để tang. Chiếc xe ấy trông còn ảm đạm hơn cả xe tang. Mà khổ nỗi, lúc nào bà Waule cũng diện băng tang đen sì. Làm sao mà bà ấy xoay sở hay thế nhỉ, Rosy? Chẳng lẽ họ hàng nhà bà ấy cứ chết suốt lượt hay sao.
– Em chịu chẳng biết. Mà bà ấy có chút tinh thần đạo đức nào đâu, – Rosamond ngẫm nghĩ đáp lời, cứ như thể góc nhìn tôn giáo ấy mới là lời giải thích trọn vẹn cho tấm khăn tang vĩnh cửu kia. – Hơn nữa, bà ấy đâu có nghèo, – cô nói thêm sau một khoảng lặng ngắn.
– Không, thưa Chúa! Nhà Waule với Featherstone giàu sụ; ý anh là đối với những kẻ không muốn chi tiêu một xu mẻ nào. Thế mà chúng cứ bám rít lấy bác anh như loài kền kền, và sợ rớt mất một đồng xu cắc ké nào khỏi phần của gia đình chúng. Nhưng anh tin là bác căm ghét tất cả bọn chúng.
Bà Waule – nhân vật chẳng có gì đáng ca ngợi trong mắt những họ hàng xa này – vừa mới nói ngay trong sáng hôm nay (hoàn toàn không phải với vẻ thách thức, mà bằng một giọng trầm đục, vô cảm, tựa như tiếng vọng qua lớp bông gòn) rằng bà không hề muốn “chuốc lấy thiện cảm của họ”. Như bà đã lưu ý, bà đang ngồi bên sưởi của chính anh trai mình, và bà đã là Jane Featherstone suốt hai mươi lăm năm trước khi trở thành Jane Waule, điều đó cho phép bà có quyền lên tiếng khi tên tuổi của chính anh trai bà bị bêu rếu bởi những kẻ chẳng có chút quyền hạn nào.
– Cô đang lải nhải cái quái gì thế hả? – Ông Featherstone lên tiếng, tay giữ chặt cây gậy giữa hai đầu gối và chỉnh lại bộ tóc giả, đồng thời liếc bà một cái sắc bén thoáng qua, dường như cái nhìn ấy tác động ngược lại ông chẳng khác nào một ngụm gió lạnh và làm ông ho khục khặc.
Bà Waule buộc phải hoãn câu trả lời cho đến khi ông ngừng ho, cho đến khi Mary Garth đưa cho ông ly si-rô mới, và ông bắt đầu xoa núm vàng trên gậy, đăm đăm nhìn vào đống lửa với vẻ cay đắng. Đó là một ngọn lửa rực rỡ, nhưng chẳng mảy may làm dịu đi sắc tím nhợt nhạt mang vẻ lạnh lẽo trên khuôn mặt bà Waule – một gương mặt vô cảm hệt như giọng nói của bà, với đôi mắt chỉ là hai đường kẻ hở và đôi môi gần như chẳng động đậy khi cất lời.
– Bác sĩ vẫn chưa trị dứt được cơn ho đó hả anh. Nó y hệt như cơn ho của em vậy; bởi em là em ruột của anh, từ thể chất cho đến mọi thứ. Nhưng như em đã nói, thật là tiếc khi gia đình bà vợ ông Vincy không được giáo dục cho đàng hoàng hơn.
– Chả! Cô chẳng hề nói thế. Cô bảo có kẻ nào đó đã lôi tên tuổi tôi ra bêu rếu cơ mà.
– Và điều đó hoàn toàn có thật chứ chẳng chơi, nếu những gì thiên hạ đồn đại là sự thật. Anh Solomon của tôi bảo rằng khắp chốn Middlemarch người ta đang bàn tán xôn xao về chuyện cậu Vincy trẻ tuổi hư hỏng thế nào, và từ khi về nhà cứ cắm đầu vào chơi bida cá cược mãi.
– Vớ vẩn! Ván bida thì có sá gì? Đó là trò chơi tao nhã của quý tộc; và cậu Vincy đâu phải là gã nhà quê cục mịch. Chứ còn nếu con trai John của cô mà bén mảng đến bida, thì nó chỉ có nước biến thành thằng đần.
– Cháu John nhà anh chưa từng bén mảng đến bida hay bất kỳ trò chơi nào khác, thưa anh, và còn lâu mới mất hàng trăm bảng – số tiền mà nếu thiên hạ nói thật, chắc chắn phải moi từ đâu ra ngoài túi của ông bố Vincy. Vì người ta đồn rằng ông ta đã thua bạc suốt nhiều năm trời, dẫu chẳng ai nhận ra điều đó khi thấy ông ta vẫn đi săn thỏ và mở cửa tiệc tùng linh đình như thế. Và tôi còn nghe nói ông Bulstrode chê trách bà Vincy hết lời vì tính lề mề phù phiếm và thói chiều chuộng con cái quá đà.
– Bulstrode thì dính dáng gì đến tôi? Tôi có giao dịch ngân hàng với hắn đâu.
– Chà, phu nhân Bulstrode chính là chị ruột của ông Vincy, và người ta đồn rằng ông Vincy chủ yếu kinh doanh bằng tiền của Ngân hàng; và bản thân anh cũng thấy đấy, thưa anh, khi một người phụ nữ đã qua tuổi tứ tuần mà lúc nào cũng diện dải băng hồng bay phấp phới cùng cái điệu cười cợt nhả trước mọi thứ, thì trông chả ra làm sao cả. Nhưng chiều chuộng con cái là một chuyện, còn tìm tiền trả nợ cho chúng lại là chuyện khác. Và người ta đang bàn tán rôm rả rằng cậu Vincy trẻ tuổi đã đi vay tiền dựa trên kỳ vọng thừa kế của mình. Tôi không nói rõ là kỳ vọng gì đâu nhé. Cô Garth đang ngồi đây nghe tôi nói, và cứ việc đi loan truyền tùy ý. Tôi thừa biết bọn trẻ tuổi chúng nó hay bâu lại với nhau mà.
– Dạ không, thưa bà Waule, – Mary Garth đáp. – Cháu rất ghét nghe chuyện thị phi nên chẳng có hứng thú đi lặp lại đâu ạ.
Ông Featherstone xoa xoa núm gậy và bật ra một tiếng cười ngắn đầy co giật, có độ chân thật chẳng khác nào tiếng cười khục khặc của một tay chơi bài sWhist già khi vớ phải ván bài tồi. Vẫn dán mắt vào đống lửa, ông nói:
– Thế ai cả gan bảo rằng Fred Vincy không có kỳ vọng chứ? Một chàng trai tuấn tú, khí chất ngời ngời như thế thì thừa khả năng có được chúng chứ sao.
Có một khoảng lặng ngắn trước khi bà Waule đáp lời, và khi bà lên tiếng, giọng nói dường như nghẹn ngào đôi chút vì nước mắt, dẫu khuôn mặt vẫn khô khốc.
– Dù thế nào đi nữa, thưa anh, việc nghe tên tuổi của anh bị người ta đem ra bêu rếu là một nỗi đau lòng tự nhiên cho tôi và anh Solomon, nhất là khi bệnh tình của anh có thể cướp đi sinh mạng bất cứ lúc nào, thế mà những kẻ chẳng dính dáng gì đến họ Featherstone – cũng chẳng khác gì gã hề pha trò ngoài hội chợ – lại đang nghênh ngang tính toán chuyện tài sản của anh sẽ rơi vào tay chúng. Trong khi tôi là em ruột thịt, còn Solomon là anh ruột thịt của anh! Nếu mọi chuyện là thế, thì Thượng Đế tạo ra gia đình làm cái quái gì cơ chứ? – Đến đây nước mắt bà Waule rơi xuống, nhưng rất mực chừng mực.
– Nào, moi hết ra đi, Jane! – Ông Featherstone nói, nhìn bà chăm chú. – Ý cô muốn nói là Fred Vincy đã đi nhờ vả ai đó ứng trước tiền cho nó dựa trên những gì nó lớn mồi tuyên bố là nó biết về di chúc của tôi chứ gì?
– Tôi chưa hề nói thế, thưa anh – (Giọng bà Waule lại trở nên khô khốc và vững vàng). – Chính anh Solomon đã kể cho tôi nghe tối qua khi anh ấy ghé qua từ chợ về để cho tôi lời khuyên về lúa mì cũ, vì tôi là quả phụ, còn con trai John của tôi mới tuổi hai mươi ba dù chững chạc hơn người. Và anh ấy nghe tin từ nguồn tin không thể chối cãi được, không chỉ từ một người mà rất nhiều người.
– Toàn chuyện nhảm nhí vớ vẩn! Tôi không tin dù chỉ một nửa. Toàn là chuyện bị đặt. Ra cửa sổ xem nào, cô bé; tôi tưởng mình vừa nghe thấy tiếng ngựa hí. Nhìn xem bác sĩ đến chưa.
– Không phải do tôi bị đặt đâu thưa anh, cũng chẳng phải do Solomon – dù ông ấy có thế nào đi nữa, và tôi không phủ nhận ông ấy có những điểm kỳ quặc – thì ông ấy cũng đã lập di chúc và chia đều tài sản cho những họ hàng thân thiết mà ông ấy quý mến; dẫu phần tôi, tôi nghĩ có những lúc vài người cần được quan tâm hơn những người khác. Nhưng Solomon chẳng giấu giếm gì điều ông ấy định làm.
– Càng tỏ ra là kẻ ngốc! – Ông Featherstone khó nhọc thốt lên, rồi lên cơn ho dữ dội khiến Mary Garth phải bước lại gần bên, đến mức cô không nhận ra những con ngựa của vị khách nào vừa dừng lại, dậm vó lộc cộc trên lớp sỏi trước cửa.
Trước khi cơn ho của ông Featherstone kịp lắng xuống, Rosamond đã bước vào, duyên dáng vén cao tà áo cưỡi ngựa. Cô cúi đầu hành lễ nghiêm trang trước bà Waule – người đang cứng nhắc đáp lại bằng câu “Chào cô”, mỉm cười và gật đầu lặng lẽ với Mary, rồi đứng đợi cho đến khi tiếng ho dứt hẳn để người bác chú ý đến mình.
– Ồ kìa cô cháu gái! – Cuối cùng ông cũng cất lời. – Cháu có sắc diện đẹp đấy chứ. Fred đâu?
– Đang lo việc ngựa ngói ạ. Chốc nữa em ấy sẽ vào.
– Ngồi xuống đi, ngồi xuống. Này bà Waule, bà đi về đi thì hơn.
Ngay cả những người láng giềng từng gọi Peter Featherstone là một con cáo già cũng chưa từng buộc tội ông là kẻ giả tạo lịch sự, và em gái ông đã quá quen thuộc với sự thiếu vắng nghi lễ kỳ lạ mà ông dùng để biểu thị tình cảm huyết thống của mình. Thật vậy, chính bà cũng quen với quan niệm rằng sự tự do hoàn toàn khỏi việc phải cư xử nhã nhặn là một phần trong ý định của Thượng Đế dành cho các gia đình. Bà chậm rãi đứng dậy không một chút oán hờn, và cất giọng đều đều quen thuộc: “Thưa anh, em hy vọng vị bác sĩ mới sẽ làm được điều gì đó giúp anh. Solomon bảo người ta bàn tán nhiều về sự tài giỏi của ông ấy. Em chắc chắn là mình chỉ cầu mong cho anh được bình an vô sự. Và chẳng có ai sẵn sàng chăm sóc anh hơn chính em ruột và các cháu gái ruột của anh đâu, nếu anh chịu mở lời. Kia là Rebecca, Joanna, và Elizabeth đấy thôi, anh biết đấy.”
– Ừ, ừ, ta nhớ chứ – cô sẽ thấy ta nhớ hết thảy bọn chúng – toàn lũ da ngăm đen xấu xí. Chắc chúng phải cần có ít tiền nhỉ? Phụ nữ nhà chúng ta xưa nay chẳng ai đẹp đẽ gì; nhưng dòng họ Featherstone lúc nào cũng có chút tiền, và nhà Waule cũng thế. Waule cũng có tiền. Waule là một gã có máu mặt. Ừ, ừ; tiền bạc là quả trứng vàng; và nếu cô có tiền để lại phía sau, hãy đặt nó vào cái tổ ấm áp. Chào bà Waule nhé. – Đến đây, ông Featherstone giật mạnh cả hai bên tóc giả như thể muốn làm mình điếc đặc, và người em gái liền lủi thủi bước đi, ngẫm nghĩ về câu nói mang màu sắc sấm truyền ấy của ông. Bất chấp lòng ghen tị với nhà Vincy và Mary Garth, sâu thẳm trong cõi lòng nông cạn của bà vẫn đọng lại một niềm tin chắc rằng người anh trai Peter Featherstone không bao giờ có thể để lại tài sản chính cho những kẻ ngoài huyết thống: – bằng chứng là, tại sao Thượng Đế lại cướp đi cả hai người vợ đều không con của ông sau khi ông kiếm được khối cơ ngơi kết xù từ mangan cùng đủ thứ bất ngờ rơi trúng đầu? – và tại sao lại có nhà thờ giáo xứ Lowick, và nhà Waule lẫn nhà Powderell đời này qua đời khác cùng ngồi chung một băng ghế, còn băng ghế nhà Featherstone thì nằm ngay bên cạnh, để rồi vào chủ nhật tuần sau khi anh trai Peter qua đời, thiên hạ lại phát hiện ra tài sản đã lọt khỏi dòng họ? Tâm lý con người chưa từng thời kỳ nào chấp nhận một sự hỗn loạn luân lý; và một kết cục ngớ ngẩn như vậy là điều hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi. Dù vậy, chúng ta vẫn thường hoảng sợ trước rất nhiều thứ không thể tưởng tượng nổi.
Khi Fred bước vào, ông cụ liền liếc nhìn cậu với một tia lấp lánh kỳ lạ mà người trẻ tuổi thường có lý do để hiểu đó là niềm tự hào về diện mạo bảnh bao của mình.
– Hai cô gái ra ngoài đi, – ông Featherstone lên tiếng. – Ta muốn nói chuyện riêng với Fred.
– Vào phòng em đi Rosamond, cậu sẽ không thấy lạnh lâu đâu, – Mary nói. Hai thiếu nữ không chỉ quen biết nhau từ thời thơ ấu mà còn từng học chung một trường tỉnh (Mary là học sinh nội trú chịu phí), nên họ có vô vàn ký ức chung và rất thích trò chuyện riêng tư. Thật ra, cuộc gặp mặt riêng này cũng là một trong những mục đích khiến Rosamond cất công đến Stone Court.
Cụ già Featherstone kiên quyết không mở lời cho đến khi cánh cửa đã khép lại. Ông tiếp tục nhìn Fred với ánh mắt lấp lánh và cái nhăn mặt quen thuộc, khi thì mím lại khi thì ngoác rộng miệng; và khi cất tiếng, giọng ông trầm đục, nghe hệt như một kẻ chỉ điểm sẵn sàng bán thông tin hơn là giọng điệu của một bậc bề trên đang phật ý. Ông vốn không phải kiểu người dễ nổi giận đạo đức ngay cả khi bị xâm phạm quyền lợi. Chuyện người khác muốn chiếm chút lợi thế từ ông là điều dĩ nhiên, chỉ có điều, ông ranh ma hơn bọn họ một chút mà thôi.
– Thế nào, thưa cậu quý tử, cậu đã đi vay mượn với lãi suất mười phần trăm và hứa hẹn sẽ trả nợ bằng cách thế chấp đất đai của ta khi ta chết đi phải không? Cậu tính sống lượng tuổi thọ của ta còn khoảng một năm chứ gì. Nhưng ta vẫn có thể đổi di chúc đấy nhé.
Fred đỏ mặt. Cậu chưa từng vay tiền theo cách đó, vì những lý do vô cùng chính đáng. Nhưng cậu ý thức được rằng mình từng lớn tiếng quả quyết (có lẽ còn hớ hênh hơn cả những gì cậu nhớ) về triển vọng sở hữu đất đai của Featherstone như một phương án tương lai để trả những món nợ hiện tại.
– Cháu chẳng hiểu bác đang ám chỉ điều gì cả. Cháu tuyệt đối chưa từng vay mượn đồng nào dựa trên một sự đảm bảo vô lý như thế. Xin bác hãy giải thích cho ạ.
– Không, thưa cậu, chính cậu mới là người phải giải thích. Để ta nói cho cậu hay, ta vẫn có thể đổi di chúc đấy. Ta vẫn minh mẫn chán – có thể tính nhẩm lãi suất kép trong đầu và nhớ tên từng thằng đần chuẩn xác như cách đây hai mươi năm. Cái quái gì thế chứ? Ta chưa đến tám mươi đâu nhé. Bảo này, cậu phải đính chính lại câu chuyện này ngay.
– Cháu đã đính chính rồi thưa bác, – Fred đáp với chút vẻ mất kiên nhẫn, quên mất rằng ông bác của cậu không phân biệt rạch ròi giữa việc đính chính và việc chứng minh, dẫu chẳng ai dị ứng với việc đánh đồng hai khái niệm ấy hơn chính cụ già Featherstone – người thường xuyên ngạc nhiên khi thấy lắm kẻ khờ khạo lại tin sái cổ vào những lời khẳng định của chính ông. – Nhưng cháu xin đính chính lại lần nữa. Câu chuyện đó hoàn toàn là một lời dối trá ngớ ngẩn.
– Vớ vẩn! Cậu phải mang chứng từ ra đây. Tin này xuất phát từ nguồn có thẩm quyền hẳn hoi đấy.
– Xin bác nêu tên cái nguồn có thẩm quyền ấy ra, và bắt hắn chỉ đích danh kẻ đã cho cháu vay tiền, rồi hẵng hay, lúc đó cháu mới chứng minh câu chuyện đó là bị đặt.
– Ta nghĩ đó là một nguồn khá đáng tin cậy đấy – một kẻ nắm rõ mọi ngóc ngách chuyện xảy ra ở Middlemarch. Chính là ông bác sùng đạo, hay làm từ thiện của cậu đấy. Nào, nói xem sao! – Đến đây, ông Featherstone lại có cái điệu rung người kỳ lạ biểu thị sự khoái chí.
– Ý bác là ông Bulstrode ư?
– Chứ còn ai vào đây nữa, hử?
– Thế thì câu chuyện này chắc đã bị thổi phồng thành lời dối trá từ vài lời răn dạy đạo đức nào đó mà ông ấy lỡ thốt ra về cháu. Bọn chúng phao tin rằng ông ấy nêu đích danh người cho cháu vay tiền cơ à?
– Nếu có một kẻ như thế thật, thì cứ tin chắc là Bulstrode thừa biết mặt hắn. Nhưng giả sử cậu mới chỉ tính đi vay tiền mà chưa vay được đi chăng nữa – Bulstrode cũng thừa biết tỏng điều đó. Cậu hãy mang lại đây một văn bản do chính tay Bulstrode viết rằng ông ta không tin cậu từng hứa trả nợ bằng đất đai của ta. Nào, mang ra đây xem nào!
Khuôn mặt ông Featherstone phải vận dụng đến toàn bộ biên độ nhăn nhó để làm lối thoát cơ bắp cho niềm đắc thắng thầm kín về sự minh mẫn của các giác quan.
Fred cảm thấy mình đang rơi vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan kinh khủng.
– Chắc bác đang đùa rồi. Ông Bulstrode, cũng như bao người khác, tin sái cổ vô số chuyện không có thật, và ông ấy vốn có thành kiến với cháu. Cháu hoàn toàn có thể xin ông ấy viết một giấy xác nhận rằng ông ấy không hề biết có bất kỳ sự thật nào chứng minh cho lời đồn mà bác vừa nói, dù điều đó có thể dẫn đến vài sự khó chịu đi chăng nữa. Nhưng cháu khó lòng mà mở miệng yêu cầu ông ấy viết ra những gì ông ấy tin hay không tin về cháu được. – Fred khựng lại một tích tắc, rồi nói thêm với nỗ lực nịnh nọt lòng tự ái của ông bác: – Đó không phải là việc mà một người có thể đường hoàng đi nhờ vả. – Nhưng cậu đã phải thất vọng trước kết quả thu về.
– À, ta hiểu ý cậu rồi. Cậu thà làm mất lòng ta còn hơn là mất lòng Bulstrode. Mà hắn là cái thá gì chứ? – hắn có mảnh đất quái nào quanh vùng này mà ta từng nghe danh đâu. Một tên chuyên đầu cơ tích trữ! Hắn có thể sụp đổ bất cứ ngày nào khi quỷ dữ thôi không thò tay chống lưng cho hắn nữa. Và đó chính là ý nghĩa tôn giáo của hắn: hắn muốn Chúa toàn năng phải nhúng tay vào cơ đấy. Thật nhảm nhí! Có một điều ta đã rút ra khá rõ ràng khi còn hay lui tới nhà thờ – đó chính là: Chúa toàn năng gắn bó chặt chẽ với đất đai. Ngài hứa ban đất đai, Ngài ban phát đất đai, và Ngài làm cho dân tình giàu có nhờ lúa mì và gia súc. Còn cậu thì chọn phe ngược lại. Cậu thích Bulstrode và đầu cơ hơn là Featherstone và đất đai.
– Cháu xin phép bác, – Fred đứng phắt dậy, quay lưng về phía đống lửa và dùng roi ngựa quất nhẹ vào ống bốt của mình. – Cháu chẳng thích Bulstrode cũng chẳng thích đầu cơ bận nào. – Cậu nói với giọng hờn dỗi khi nhận ra mình đã rơi vào thế bí.
– Thôi được, thôi được, xem ra không có ta thì cậu vẫn sống phây phây được nhỉ, rõ mười mươi rồi còn gì, – ông cụ Featherstone lẩm bẩm, ngấm ngầm bực bội trước khả năng Fred sẽ tỏ ra bất tuần và độc lập. – Cậu chẳng cần một mảnh đất để biến mình từ một gã mục sư nghèo kiết xác thành một điền chủ đích thực, cũng chẳng cần một trăm bảng cứu trợ dọc đường. Đối với ta thế nào cũng xong tất. Ta có thể lập thêm năm bản di chúc phụ nếu thích, và ta sẽ giữ lại số tiền ngân hàng này làm quỹ đen phòng thân. Thế nào với ta cũng chẳng khác gì.
Fred lại đỏ mặt. Featherstone hiếm khi nào tặng tiền cho cậu, và vào khoảnh khắc này, việc phải từ bỏ triển vọng nhận tiền mặt ngay lập tức có vẻ còn đau đớn hơn cả việc từ bỏ triển vọng sở hữu đất đai trong tương lai xa.
– Cháu không phải kẻ vô ơn, thưa bác. Cháu chưa từng có ý định tỏ ra coi thường bất kỳ thiện ý nào mà bác dành cho cháu. Ngược lại là đằng khác.
– Rất tốt. Vậy thì hãy chứng minh điều đó đi. Cậu hãy mang về cho ta một lá thư từ Bulstrode nói rằng ông ta không tin cậu đã huênh hoang hứa hẹn trả nợ bằng đất đai của ta, và rồi, nếu cậu có vướng vào bất kỳ rắc rối nào, ta sẽ xem xét có nên chống lưng cho cậu chút đỉnh hay không. Nào! Giao kèo thế nhé. Nào, cho ta vịnh tay cậu xem nào. Ta sẽ thử đi dạo quanh phòng.
Bất chấp sự bực dọc, trong thâm tâm Fred vẫn đủ lòng tốt để cảm thấy chạnh lòng đôi chút trước người ông cụ không được ai yêu thương, chẳng ai kính trọng này – kẻ với đôi chân phù thũng trông càng thêm phần đáng thương hại khi di chuyển. Trong lúc đỡ tay ông, cậu thầm nghĩ rằng bản thân mình hẳn sẽ chẳng lấy gì làm thích thú nếu khi về già lại mang một cơ thể tàn tạ thế này; và cậu kiên nhẫn đứng chờ, thoạt đầu là trước cửa sổ để nghe những lời quen thuộc về đám gà cồ lôi cùng cái phong hướng kế, rồi sau đó là trước dãy tủ sách èo uột mà những báu vật bọc da bê sẫm màu chính là tác phẩm của Josephus, Culpepper, cuốn “Messiah” của Klopstock, và vài tập san của tờ “Gentleman’s Magazine”.
– Đọc tên mấy cuốn sách lên xem nào. Nào! Cậu là sinh viên đại học cơ mà.
Fred liền đọc tên các tựa sách cho ông nghe.
– Con nhóc đó cần thêm sách để làm gì cơ chứ? Cậu cứ mang thêm sách cho nó làm cái trò mẻ gì?
– Chúng làm con bé giải trí đấy bác ạ. Nó rất thích đọc sách.
– Hơi quá đà thì có, – ông Featherstone cằn nhỗi. – Hồi ngồi cạnh ta nó cũng đòi đọc sách suốt. Nhưng ta đã dẹp ngay cái thói ấy rồi. Nó có nhiệm vụ đọc to báo chí cho ta nghe. Thế là đủ cho một ngày rồi còn gì. Ta dị ứng nhất cái cảnh nhìn nó ngồi lủi thủi tự đọc một mình. Cậu nhớ đấy, đừng có mang thêm cuốn sách nào cho nó nữa nghe chưa?
– Vâng thưa bác, cháu nghe rõ rồi ạ. – Fred từng nhận được lệnh này trước đó và đã ngấm ngầm phớt lờ. Cậu dự định sẽ tiếp tục phớt lờ nó lần nữa.
– Kéo chuông đi, – ông Featherstone ra lệnh. – Ta muốn con bé xuống đây.
Rosamond và Mary đã trò chuyện rôm rả hơn hai anh chàng kia. Họ không ngồi xuống mà đứng bên bàn trang điểm cạnh cửa sổ trong lúc Rosamond cởi mũ, chỉnh lại mạng che mặt, và dùng đầu ngón tay vuốt nhẹ mái tóc – mái tóc vàng óng tựa trẻ thơ, chẳng phải màu lanh cũng chẳng phải vàng nghệ. Mary Garth trông càng thêm phần kém sắc khi đứng ở góc nghiêng giữa hai giai nhân – một người trong gương và một người bên ngoài, hai người nhìn nhau bằng đôi mắt xanh thẳm tựa thiên đường, đủ sâu thẳm để chứa đựng những tầng ý nghĩa tuyệt mỹ nhất mà một kẻ si tình khéo tưởng tượng có thể gán cho chúng, đồng thời cũng đủ sâu thẳm để che giấu tâm tư của chính chủ nhân nếu những ý điều đó kém phần thi vị. Chỉ có lèo tèo vài đứa trẻ ở Middlemarch sở hữu mái tóc vàng sánh ngang Rosamond, và vóc dáng mảnh mai ẩn hiện dưới tà áo cưỡi ngựa của cô mang những đường cong mềm mại tinh tế. Trên thực tế, hầu hết đàn ông ở Middlemarch, ngoại trừ các anh trai cô, đều cho rằng tiểu thư Vincy là cô gái tuyệt vời nhất trên đời, thậm chí vài người còn gọi cô là thiên thần. Ngược lại, Mary Garth mang diện mạo của một tội nhân bình thường: da ngăm ngăm; mái tóc đen xoăn xù và bướng bỉnh; vóc dáng thấp lùn; và sẽ là sai lầm nếu khẳng định theo kiểu đối lập hoàn hảo rằng cô sở hữu trọn vẹn mọi đức tính. Sự kém sắc có những sự cám dỗ và thói hư tật xấu riêng tư chẳng kém gì nhan sắc; nó dễ dẫn đến việc hoặc giả vờ đáng yêu, hoặc khi chẳng thèm giả vờ nữa thì bộc lộ toàn bộ vẻ gai góc khó ưa của sự bất mãn: dẫu sao đi nữa, việc bị gọi là một cục xấu xí khi đặt cạnh tạo vật kiều diễm là bạn đồng hành của mình rất dễ tạo ra những tác động vượt xa cả cảm giác về sự thật thà và mức độ chuẩn xác của ngôn từ. Ở tuổi đôi mươi, Mary hiển nhiên chưa đạt được sự khôn ngoan hoàn hảo và lập trường đạo đức vững vàng vốn thường được khuyên dùng cho những cô gái kém may mắn hơn, cứ như thể chúng là thứ có sẵn từng lượng đã pha trộn sẵn, kèm theo chút hương vị cam chịu tùy ý. Sự sắc sảo của cô phảng phất một chút cay đắng châm biếm được nung nấu liên tục và chẳng bao giờ khuất hẳn khỏi tầm mắt, ngoại trừ khi bị cuốn đi bởi dòng chảy mạnh mẽ của lòng biết ơn đối với những ai – thay vì khuyên nhủ cô nên biết thỏa mãn – lại hành động để mang lại sự thỏa mãn ấy cho cô. Tuổi thanh xuân đi qua đã tôi luyện nét kém sắc của cô trở nên dịu dàng hơn, một vẻ đẹp mộc mạc đời thường mà các bà mẹ xứ sở chúng ta vẫn thường mang trên mọi miền địa lý dưới những chiếc mũ đội đầu hợp mốt hơn hoặc kém mốt hơn đôi chút. Họa sĩ Rembrandt hẳn sẽ vẽ cô với niềm hân hoan tuyệt đối, và sẽ khắc họa những đường nét phóng khoáng của cô bừng sáng trên bức canvas với sự chân thực đầy thông minh. Bởi sự trung thực, tính ngay thẳng rạch ròi chính là đức tính thống trị của Mary: cô chưa bao giờ cố tạo ra những ảo ảnh, cũng chẳng nuông chiều chúng để mưu lợi cho bản thân, và khi ở tâm trạng tốt, cô đủ khiếu hài hước để tự cười vào chính mình. Khi cô và Rosamond tình cờ cùng hiện lên trong tấm gương, cô cất tiếng cười vang và nói:
– Trông tớ chẳng khác gì một miếng vá nâu xỉn đứng cạnh cậu cả, Rosy! Cậu đúng là kẻ đồng hành gây bất lợi nhất quả đất.
– Ồ không! Chẳng ai thèm để ý đến diện mạo của cậu đâu, cậu quá chu đáo và hữu dụng mà Mary. Nhan sắc vốn chẳng có mấy ý nghĩa trong thực tế đâu, – Rosamond vừa nói vừa quay đầu về phía Mary, nhưng đôi mắt lại liếc xéo sang ngắm góc nghiêng mới của chiếc cổ mình trong gương.
– Ý cậu là nhan sắc của tớ ấy hả, – Mary đáp lại với giọng điệu có phần mỉa mai.
Rosamond thầm nghĩ: “Tội nghiệp Mary, con bé cứ hay hiểu lầm những ý tốt của người khác.” Cô cất lời: – Dạo này cậu đang làm gì thế?
– Tớ á? Ồ, thì lo việc nhà – rót si-rô – giả vờ ngoan ngoãn và thỏa mãn – rồi tập nuôi cái nhìn tệ hại về tất cả mọi người.
– Cuộc sống của cậu thật bi đát làm sao.
– Không hề, – Mary ngắn gọn đáp, khẽ hất đầu. – Tớ nghĩ cuộc sống của tớ còn dễ chịu chán so với cô Morgan của cậu đấy.
– Ừ; nhưng cô Morgan tẻ nhạt lắm, lại chẳng còn trẻ trung gì.
– Chắc cô ấy thấy thú vị với chính mình thôi; và tớ chẳng chắc mọi thứ sẽ trở nên dễ dàng hơn khi người ta già đi đâu.
– Không đâu, – Rosamond ngẫm nghĩ nói; – người ta tự hỏi những kẻ như thế sẽ sống sao khi chẳng có chút viễn cảnh nào. Đương nhiên là vẫn có tôn giáo làm chỗ dựa. Nhưng, – cô nói thêm, miệng mỉm cười núm đồng tiền, – mọi chuyện hoàn toàn khác với cậu đấy Mary. Biết đâu cậu sẽ nhận được lời cầu hôn thì sao.
– Có ai thì thầm với cậu là họ định ngỏ lời với tớ à?
– Đương nhiên là không rồi. Ý tớ là, có một quý ông có thể sẽ phải lòng cậu, khi mà anh ta gặp cậu hầu như mỗi ngày.
Một sự thay đổi kín đáo trên gương mặt Mary chủ yếu được quyết định bởi quyết tâm không để lộ bất kỳ biến chuyển nào.
– Việc đó lúc nào cũng khiến người ta phải yêu nhau sao? – cô hờ hững đáp; – tớ thấy dường như đó thường là lý do khiến người ta căm ghét nhau thì có.
– Không đâu, nếu họ là những người thú vị và dễ mến. Tớ nghe nói ông Lydgate hội tụ cả hai điều đó đấy.
– Ồ, ông Lydgate cơ à! – Mary thốt lên, không giấu được sự rơiỏ vào nỗi chán ngắt. – Cậu đang muốn dò la gì về ông ta chứ gì, – cô nói thêm, không thèm nuông chiều thói nói bóng gió của Rosamond.
– Chỉ là, cậu nghĩ thế nào về ông ta thôi.
– Chẳng có vấn đề thích hay không thích ở đây cả. Sự yêu mến của tớ lúc nào cũng cần chút tử tế cỏn con để nhóm lên. Tớ chẳng đủ cao thượng để đi ưa nổi những kẻ mở miệng nói chuyện với mình mà cứ lờ tờ như chẳng nhìn thấy tớ đâu.
– Ông ta kiêu ngạo thế cơ à? – Rosamond hỏi với mức độ thỏa mãn tăng dần. – Cậu biết ông ta thuộc dòng dõi quyền quý chứ?
– Không; ông ta có lấy cái đó làm lý do đâu.
– Mary! Cậu đúng là cô nàng kỳ cục nhất. Thế diện mạo ông ta trông thế nào? Tả cho tớ nghe đi.
– Làm sao mà tả nổi một người đàn ông chứ? Tớ chỉ có thể liệt kê hàng hóa cho cậu thôi: lông mày rậm, mắt tối màu, sống mũi thẳng, tóc đen dày, đôi bàn tay trắng dày dặn và – để tớ xem nào – ơ, một chiếc khăn tay bằng vải cambric tinh xảo hết sảy. Nhưng rồi cậu sẽ được tận mắt chứng kiến thôi. Cậu biết giờ này xấp xỉ thời điểm ông ta đến khám mà.
Rosamond đỏ mặt đôi chút, nhưng điềm đạm đáp: – Tớ khá thích kiểu cách kiêu kỳ. Tớ không tài nào chịu nổi một gã đàn ông ba hoa chòng chọc.
– Tớ đâu có bảo ông Lydgate kiêu kỳ; nhưng il y en a pour tous les goûts (đời có trăm ngàn gu) như tiểu thư Mamselle hay nói, và nếu có cô gái nào được quyền chọn lựa chính xác thói kiêu căng theo gu mình thích, thì tớ đoán người đó chính là cậu đấy Rosy.
– Kiêu kỳ đâu phải là kiêu căng; tớ thấy Fred mới là kẻ kiêu căng.
– Tớ ước gì không ai thốt ra lời nào tệ hại hơn thế về anh ấy. Lẽ ra anh ấy nên cẩn trọng hơn. Bà Waule vừa mách với bác rằng Fred rất lăng nhăng hư hỏng. – Mary thốt lên từ một phút bốc đồng tuổi trẻ vượt ngoài sự kiểm soát của lý trí. Phía sau từ “hư hỏng” ấy ẩn chứa một nỗi bất an mơ hồ mà cô hy vọng Rosamond có thể nói gì đó để xua tan. Nhưng cô cố tình tránh nhắc đến lời ám chỉ bóng gió cụ thể hơn của bà Waule.
– Ôi, Fred thật đáng sợ! – Rosamond thốt lên. Cô đời nào lại cho phép mình dùng một từ kém duyên như thế với bất kỳ ai ngoài Mary.
– Cậu có ý gì khi nói đáng sợ?
– Anh ấy quá ư chây lười, làm bố nổi điên lên suốt, lại còn tuyên bố không chịu nhận chức sắc mục sư.
– Tớ nghĩ Fred hoàn toàn đúng.
– Sao cậu có thể nói anh ấy hoàn toàn đúng cơ chứ Mary? Tớ tưởng cậu là người có ý thức tôn giáo sâu sắc hơn chứ.
– Anh ấy vốn không thích hợp làm giáo sĩ.
– Nhưng đáng lẽ anh ấy phải thích hợp chứ. – “À thế thì, anh ấy không được như đáng lẽ phải thế. Tớ biết vài kẻ khác cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự đấy.”
– Nhưng chẳng ai đồng tình với bọn họ cả. Tớ đời nào chịu lấy một ông mục sư; nhưng dẫu sao vẫn cứ phải có mục sư chứ.
– Điều đó đâu có nghĩa Fred bắt buộc phải là một người trong số đó.
– Nhưng khi bố đã tốn kém tiền bạc để giáo dục anh ấy theo con đường đó! Và thử tưởng tượng xem, nhỡ anh ấy chẳng còn một xu gia tài nào để lại thì sao?
– Tớ thừa sức tưởng tượng ra viễn cảnh đó đấy, – Mary khô khan đáp.
– Thế thì tớ lấy làm lạ vì sao cậu cứ bênh vực Fred, – Rosamond có vẻ muốn xoáy sâu vào vấn đề này.
– Tớ có bênh vực anh ấy đâu, – Mary cười vang; – tớ chỉ muốn bảo vệ bất kỳ giáo xứ nào khỏi viễn cảnh phải rước anh ấy về làm mục sư thôi.
– Nhưng dĩ nhiên nếu làm mục sư thì anh ấy phải khác chứ.
– Đúng thế, anh ấy sẽ trở thành một gã đạo đức giả vĩ đại; và hiện tại thì anh ấy chưa đến mức đó.
– Nói chuyện với cậu thật phí lời Mary ạ. Lúc nào cậu cũng chực chờ bênh vực Fred.
– Sao tớ lại không được bênh vực anh ấy cơ chứ? – Mary bừng sáng nét mặt. – Anh ấy sẽ bênh vực tớ. Anh ấy là kẻ duy nhất chịu bỏ chút công sức nhỏ nhặt để làm vui lòng tớ.
– Cậu đang làm tớ thấy vô cùng khó chịu đấy Mary, – Rosamond nói với vẻ điềm tĩnh nghiêm túc nhất; – tớ thà chết chứ không bao giờ kể chuyện này cho mẹ nghe đâu.
– Cậu sẽ không kể chuyện gì cơ chứ? – Mary giận dữ hỏi.
– Xin cậu đừng có nổi lôi đình lên thế Mary, – Rosamond vẫn điềm tĩnh như mọi khi.
– Nếu mẹ cậu sợ Fred sẽ ngỏ lời cầu hôn tớ, hãy bảo với bà ấy rằng tớ đời nào thèm lấy anh ấy dẫu anh ấy có quỳ xuống van xin. Nhưng ngặt nỗi anh ấy chẳng có ý định đó, ít ra là theo những gì tớ biết. Chắc chắn anh ấy chưa từng hé môi hỏi tớ câu nào.
– Mary lúc nào cũng cọc cằn bốc đồng thế đấy.
– Còn cậu thì lúc nào cũng chọc ngoáy đến phát điên.
– Tớ á? Cậu có thể trách tớ vì điều gì cơ chứ?
– Ồ, những kẻ vô can hoàn hảo lúc nào cũng là những kẻ khiến người ta phát điên nhất. Tiếng chuông kìa – tớ nghĩ chúng ta phải xuống dưới thôi.
– Tớ đâu có ý định cãi nhau, – Rosamond vừa nói vừa đội mũ lên.
– Cãi nhau ư? Vớ vẩn; chúng ta có cãi nhau đâu nào. Nếu người ta chẳng được phép nổi giận lấy một lần, thì làm bạn bè để làm cái quái gì cơ chứ?
– Tớ có được phép lặp lại những gì cậu vừa tuôn ra không?
– Tùy cậu thôi. Tớ chưa bao giờ nói những điều mà tớ sợ bị người ta lặp lại cả. Nhưng thôi, chúng ta xuống dưới nhà đi.
Ông Lydgate đến hơi muộn trong sáng hôm nay, nhưng các vị khách đã nán lại đủ lâu để gặp mặt ông; bởi ông Featherstone nài nỉ Rosamond hát cho mình nghe, và chính cô cũng vô cùng tử tế khi chủ trương đề xuất bài hát yêu thích thứ hai của ông – “Flow on, thou shining river” (Chảy đi, dòng sông ngời sáng) – sau khi cô đã ca khúc “Home, sweet home” (Nhà là nơi bình yên) mà cô căm ghét tột cùng. Lão cáo già thực dụng Overreach này tỏ ra vô cùng tán thưởng bài hát mang âm hưởng tình cảm sướt mướt ấy, coi đó là món trang sức thích hợp dành cho các tiểu thư, đồng thời cho rằng nó mang giá trị nền tảng tốt đẹp, bởi tình cảm sướt mướt chính là thứ chuẩn mực cho một bài hát.
Ông Featherstone vẫn đang vỗ tay tán thưởng màn biểu diễn vừa dứt, đồng thời quả quyết với cô cháu gái rằng giọng ca của cô trong trẻo hệt như chim hoạ mi, thì con ngựa của ông Lydgate lướt qua khung cửa sổ.
Sự chán ngắt thường trực trước những thủ tục tẻ nhạt quen thuộc với một bệnh nhân cao tuổi – kẻ lúc nào cũng đinh ninh rằng thuốc men sẽ “vực” nổi mình dậy miễn là tay bác sĩ đủ tài năng – cộng thêm sự hoài nghi bẩm sinh của ông đối với những thứ bùa mê xứ Middlemarch, đã tạo nên một tấm phông nền tương phản kép vô cùng hiệu quả cho bóng hình Rosamond; người mà cụ già Featherstone vội vã phô trương giới thiệu như cháu gái mình, dẫu ông chưa từng thấy đáng bận tâm để nhắc đến Mary Garth theo góc nhìn tương tự. Chẳng có gì lọt khỏi tầm mắt Lydgate trước phong thái duyên dáng của Rosamond: cách cô tinh tế gạt bỏ sự chú ý kém tế nhị mà vị lão gia thiếu tinh tế đã áp đặt lên cô bằng một vẻ trầm mặc điềm đạm, không hé nụ cười núm đồng tiền sai thời điểm mà để dành chúng lúc trò chuyện với Mary – người mà cô đon đả hướng đến bằng sự quan tâm đầy thiện chí, khiến Lydgate, sau khi nhanh chóng quan sát Mary kỹ càng hơn trước, nhận ra sự tử tế đáng yêu ngập tràn trong đôi mắt Rosamond. Chỉ có điều, vì lý do nào đó mà trông Mary có vẻ kém vui.
– Tiểu thư Rosy vừa hát cho ta nghe một khúc ca đấy – bác sĩ không có ý kiến gì phản đối chứ hử? – Ông Featherstone lên tiếng. – Ta thích nó hơn đống thuốc thang của cậu đấy.
– Chuyện đó khiến cháu quên mất thời gian trôi qua thế nào luôn, – Rosamond lên tiếng, đứng dậy với lấy chiếcếc mũ đã tháo ra trước khi hát, để lộ phần đầu tựa đóa hoa vươn trên chiếc cổ trắng ngần nổi bật hoàn hảo bên trên bộ đồ cưỡi ngựa. – Fred, chúng ta thực sự phải đi thôi.
– Rất sẵn lòng, – Fred đáp, bản thân cậu cũng có những lý do riêng khiến tâm trạng chẳng mấy vui vẻ và đang muốn chuồn lẹ.
– Tiểu thư Vincy là một nhạc công ư? – Lydgate cất tiếng hỏi, dõi theo cô bằng ánh mắt chăm chú. (Từng dây thần kinh và thớ thịt trên cơ thể Rosamond đều được điều chỉnh để nhận thức rõ rằng cô đang bị chăm chú quan sát. Bản chất cô là một nữ diễn viên bẩm sinh nhập vai vào chính thể xác mình: cô thậm chí diễn xuất cả nhân vật của chính mình, và diễn xuất tài tình đến mức bản thân cô cũng chẳng nhận ra đó chính là con người thật của mình.)
– Xuất sắc nhất vùng Middlemarch ấy chứ, ta dám cá đấy, – ông Featherstone lớn tiếng khẳng định, – mặc cho kẻ kế tiếp là ai đi nữa. Hử, Fred? Lên tiếng bênh vực chị mày xem nào.
– Cháu e mình chẳng có quyền phán xử đâu thưa bác. Lời khai của cháu có giá trị gì đâu cơ chứ.
– Tiêu chuẩn của Middlemarch vốn chẳng cao cho lắm đâu thưa bác, – Rosamond nhẹ nhàng thốt lên với vẻ điềm đạm kiêu kỳ, bước về hướng chiếc roi ngựa đang nằm cách đó một khoảng.
Lydgate nhanh chân hơn cô một bước. Anh nhặt chiếc roi lên trước cô và xoay người trao lại cho cô. Cô cúi đầu và nhìn anh: đương nhiên anh đang nhìn cô, và ánh mắt họ chạm nhau bằng thứ giao cảm kỳ lạ chưa từng có được nhờ nỗ lực, mà tựa như một làn sương mờ bất chợt được tay thần thánh vén tan. Tôi nghĩ Lydgate có phần tái mặt hơn thường lệ, nhưng Rosamond thì đỏ bừng cả gò má và dâng trào một nỗi kinh ngạc khó tả. Sau khoảnh khắc ấy, cô thực sự nôn nóng muốn rời đi, và chẳng tài nào hiểu nổi thứ ngu ngốc nào đang được thốt ra từ miệng ông bác khi cô cúi xuống bắt tay từ biệt ông.
Thế nhưng, kết quả này – thứ mà cô đinh ninh là sự rung động từ cả hai phía, gọi là tiếng sét ái tình – lại chính xác là những gì Rosamond đã mường tượng từ trước. Kể từ thời điểm vị khách quan trọng mới đến Middlemarch xuất hiện, cô đã dệt sẵn cho mình một tương lai nhỏ bé, trong đó khung cảnh vừa rồi chính là khúc dạo đầu tất yếu. Những kẻ lữ hành phương xa – dẫu là kẻ lâm nạn bám víu vào mảng bè trôi, hay được hộ tống đàng hoàng cùng những chiếc va-li sang trọng – luôn sở hữu một thứ sức hút hoàn cảnh mãnh liệt đối với tâm hồn trinh nữ, thứ mà những phẩm chất nội tại bản xứ dẫu cố gắng đến mấy cũng chẳng tài nào địch nổi. Và một lữ khách phương xa là điều tuyệt đối không thể thiếu đối với câu chuyện lãng mạn xã hội của Rosamond – thứ luôn xoay quanh một người tình kiêm phu quân không phải là người Middlemarch, và không có bất kỳ mối quan hệ họ hàng nào na ná như người nhà cô; quả thực, thời gian gần đây cấu trúc tưởng tượng ấy dường như đòi hỏi người đó ít nhất phải có họ hàng với một tước sĩ nam (baronet). Giờ đây, khi cô và người lạ mặt ấy đã thực sự chạm mặt, hiện thực chứng minh nó còn rung động lòng người hơn cả sự mong đợi, và Rosamond không thể hoài nghi rằng đây chính là cột mốc vĩ đại trong cuộc đời cô. Cô tự đánh giá các triệu chứng của mình như dấu hiệu của tình yêu đang chớm nở, đồng thời càng đinh ninh rằng việc Mr. Lydgate phải lòng cô ngay từ cái nhìn đầu tiên là điều hiển nhiên hơn bao giờ hết. Những chuyện thế này vẫn thường xảy ra nhan nhản tại các buổi vũ hội, và cớ sao lại không thể diễn ra vào ánh bình minh rạng rỡ khi sắc diện phô bày những nét đẹp tuyệt vời nhất? Rosamond, dẫu chẳng lớn tuổi hơn Mary là mấy, vốn đã quá quen với việc khiến người khác phải xiêu lòng say đắm; nhưng về phần mình, cô vẫn giữ thái độ dửng dưng và cực kỳ khắt khe đối với cả những chàng trai trẻ mới nổi lẫn mấy gã độc thân đã phai tàn nhan sắc. Và kìa, Mr. Lydgate bỗng xuất hiện hoàn toàn trùng khớp với hình mẫu lý tưởng của cô, hoàn toàn xa lạ với Middlemarch, mang trên mình hơi hướng quý phái tương thích với dòng dõi danh giá cùng những mối quan hệ mở ra viễn cảnh thiên đường trung lưu mang tên địa vị; lại thêm tài năng xuất chúng, một kẻ mà việc thuần phục hắn sẽ mang lại niềm vui sướng khôn tả: trên thực tế, một người đã chạm đến tâm hồn cô theo cách hoàn toàn mới mẻ, mang đến cho cuộc đời cô một thứ sinh khí rực rỡ vượt trội hơn bất kỳ viễn cảnh “giá như” tưởng tượng nào mà cô vẫn thường dùng để đối chọi với thực tại.
Thế là trên đường cưỡi ngựa trở về, cả hai anh em đều chìm đắm trong suy nghĩ riêng và có xu hướng trầm mặc ít nói. Rosamond, với nền tảng cấu trúc tưởng tượng mang độ mong manh bay bổng thường thấy, lại sở hữu trí tưởng tượng vô cùng chi tiết và thực tế một khi nền móng đã được mặc định từ trước; và chưa đi được nửa dặm đường, cô đã tiến xa đến tận trang phục cùng màn diện kiến trong đời sống hôn nhân của mình, đích thân định đoạt ngôi nhà sẽ ở tại Middlemarch, đồng thời mường tượng trước những chuyến viếng thăm mà cô sẽ thực hiện với các họ hàng dòng dõi cao sang ở tận đẩu tận đâu của chồng – những người có phong thái chuẩn mực mà cô hoàn toàn có thể hấp thụ triệt để hệt như những thành tích học đường ngày trước, qua đó tự chuẩn bị bản thân cho những nấc thang cao quý mơ hồ hơn có thể sẽ đến vào một ngày mai. Chẳng có chút toan tính tài chính nào, lại càng không có sự thực dụng tầm thường trong những mường tượng của cô: cô quan tâm đến những thứ được coi là tao nhã thanh lịch, chứ chẳng bận tâm đến tiền bạc dùng để chi trả cho chúng.
Mặt khác, tâm trí Fred lại ngập tràn một nỗi lo âu mà ngay cả niềm hy vọng sẵn có cũng chẳng thể tức khắc dập tắt. Cậu không tìm ra cách nào để né tránh yêu cầu ngớ ngẩn của Featherstone mà không phải gánh chịu những hậu quả khiến cậu còn ngán ngẩm hơn cả việc hoàn thành nó. Bố cậu vốn đã đang khó chịu với cậu, và sẽ càng bực bội hơn nữa nếu cậu trở thành nguyên nhân gây ra sự lạnh nhạt thêm phần trầm trọng giữa gia đình ông và nhà Bulstrode. Thêm vào đó, tự bản thân cậu cũng căm ghét việc phải đến gặp và nói chuyện với ông bác Bulstrode, và biết đâu trong lúc say sưa chè chén trước đây, cậu từng thốt ra lắm lời ngốc nghếch về tài sản của Featherstone, để rồi chúng bị lời đồn thổi thổi phồng lên gấp bội. Fred cảm thấy mình thật thảm hại khi đóng vai một kẻ huênh hoang khoác lác về triển vọng thừa kế từ một lão hà tiện kỳ quái như Featherstone, rồi lại lết thân đi xin giấy chứng nhận theo lệnh của lão. Nhưng – những kỳ vọng ấy chứ! Cậu thực sự sở hữu chúng, và chẳng nhìn thấy con đường thay thế dễ chịu nào nếu từ bỏ chúng; chưa kể, gần đây cậu vừa trót gánh một khoản nợ khiến cậu bứt rứt không yên, và cụ già Featherstone gần như đã hứa hẹn sẽ trả giúp cậu khoản nợ đó. Toàn bộ câu chuyện thật nhỏ nhặt thảm hại: những khoản nợ của cậu chẳng đáng là bao, thậm chí những kỳ vọng của cậu cũng chẳng có gì là quá huy hoàng vĩ đại. Fred từng biết những kẻ mà cậu sẽ phải hổ thẹn nếu thú nhận sự nhỏ nhoi trong những rắc rối của mình. Những suy ngẫm kiểu ấy tự nhiên sinh ra một tia cay đắng yếm thế. Sinh ra làm con trai của một nhà sản xuất ở Middlemarch, và là kẻ thừa kế tất yếu của một đống hư vô chẳng có gì đặc biệt, trong khi những kẻ như Mainwaring và Vyan – quả thật, cuộc đời là một ván bài nghèo nàn làm sao, khi một chàng trai trẻ đầy khí chất, với một chiếc dạ dày hảo hạng luôn thèm khát những thứ tuyệt vời nhất lại có một viễn cảnh tương lai nghèo nàn đến thế.
Fred chưa từng nghĩ rằng việc lồng ghép cái tên Bulstrode vào câu chuyện hoàn toàn chỉ là một cú bị đặt của cụ già Featherstone; và điều đó cũng chẳng thể thay đổi được gì vị trí của cậu. Cậu thừa nhận rõ mười mươi rằng ông già đang muốn thao túng quyền lực của mình bằng cách tra tấn cậu một chút, đồng thời có lẽ muốn tìm kiếm chút thú vui từ việc nhìn thấy cậu ở trong mối quan hệ cơm chẳng lành canh chẳng ngọt với Bulstrode. Fred tưởng rằng cậu đã nhìn thấu tận tâm can của ông bác Featherstone, dẫu trên thực tế một nửa những gì cậu nhìn thấy ở đó chẳng qua chỉ là phản chiếu từ chính những tham vọng của bản thân cậu. Nhiệm vụ khó khăn là thấu hiểu tâm can của kẻ khác vốn không dành cho những công tử trẻ tuổi mà ý thức chủ yếu được bện chặt bởi những ham muốn của chính họ.
Điểm tranh luận cốt lõi mà Fred tự dằn vặt bản thân là: liệu cậu có nên kể thật với bố, hay tìm cách xoay sở qua chuyện này mà giấu nhẹm đi sự can thiệp của bố. Khả năng cao chính bà Waule là kẻ đã rêu rao bàn tán về cậu; và nếu Mary Garth đã đem lời đồn của bà Waule kể lại cho Rosamond, chắc chắn nó sẽ lọt đến tai bố cậu, và ngài Vincy chắc chắn sẽ tra vấn cậu về điều đó. Cậu cất lời hỏi Rosamond khi cả hai chậm nhịp vó ngựa lại:
– Rosy, có phải Mary đã kể cho cậu nghe việc bà Waule bàn tán gì đó về tớ không?
– Đúng thế thật, cậu ấy có kể.
– Cậu ấy bảo gì?
– Rằng cậu rất lăng nhăng hư hỏng.
– Chỉ thế thôi à?
– Tớ nghĩ thế là đủ lắm rồi đấy Fred.
– Cậu chắc là bà ta không nói gì thêm chứ?
– Mary chẳng đề cập gì khác. Nhưng thực sự thì Fred, tớ nghĩ cậu nên thấy xấu hổ mới phải.
– Ôi, nhảm nhí! Đừng có lên lớp tớ. Thế Mary nói gì về chuyện đó?
– Tớ không có nghĩa vụ phải khai với cậu. Cậu quá ư quan tâm đến những gì Mary nói, lại vừa thô lỗ chẳng thèm để tớ mở miệng.
– Đương nhiên là tớ quan tâm đến lời Mary nói rồi. Cậu ấy là cô gái tuyệt vời nhất mà tớ biết.
– Tớ chưa bao giờ nghĩ cậu ấy lại là hình mẫu con gái để đàn ông phải đâm đầu vào yêu đấy.
– Cậu thì biết gì về việc đàn ông sẽ phải lòng kiểu con gái nào chứ? Đám con gái các cậu đời nào hiểu được.
– Ít ra thì Fred này, để tớ khuyên cậu đừng có dại dột mà yêu lấy cậu ấy, vì cậu ấy bảo tớ rằng có quỳ xin cưới cậu ấy đi nữa thì cậu ấy cũng chẳng thèm lấy.
– Lẽ ra cậu ấy nên đợi đến khi tớ mở lời hỏi cưới đã chứ.
– Tớ biết thế nào cậu cũng nổi khùng lên cho mà xem Fred.
– Đâu có chuyện đó. Cậu ấy sẽ chẳng thèm thốt ra câu đó nếu cậu không khơi màu chọc tức cậu ấy. – Trước khi về đến nhà, Fred đã hạ quyết tâm sẽ thuật lại toàn bộ câu chuyện một cách đơn giản nhất có thể cho bố mình nghe, hy vọng ông có thể sẽ đứng ra gánh vác hộ cái công việc khó chịu là đi nói chuyện với Bulstrode.