Don Quixote

Lượt đọc: 297 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ

❊ ❊ ❊

Hỡi người đọc nhàn rỗi, bạn có thể tin chắc – chẳng cần tôi phải thề thốt gì – rằng tôi rất muốn cuốn sách này, tựa như đứa con tinh thần của chính mình, phải là tác phẩm tuyệt vời nhất, vui tươi nhất và thông minh nhất có thể tưởng tượng được. Thế nhưng, tôi nào có thể cưỡng lại quy luật của Tự nhiên rằng vạn vật sinh sôi đều mang bản chất giống mình; vậy nên, một trí tuệ cằn cỗi, kém cày cấy của tôi thì còn có thể sinh ra thứ gì khác ngoài câu chuyện về một dòng dõi khô khan, héo hắt, kỳ quặc, đầy ắp những ý nghĩ đủ mọi thể loại mà chưa từng xuất hiện trong bất kỳ trí tưởng tượng nào khác – đúng là thứ chỉ có thể được hoài thai trong một xó ngục tù, nơi mọi nỗi khốn khổ trú ngụ và mọi âm thanh sầu thảm cất tiếng cõi lòng? Sự tĩnh lặng, chốn ẩn dật vui tươi, đồng cỏ nên thơ, bầu trời rạng rỡ, suối róc rách, tâm hồn bình yên, ấy mới là những yếu tố góp phần biến những nàng thơ cằn cỗi nhất trở nên trù phú, mang lại cho đời những tác phẩm khiến thiên hạ ngỡ ngàng và say đắm. Thỉnh thoảng, khi một người cha sinh được đứa con trai xấu xí, cục mịch, tình phụ tử đã che mờ đôi mắt khiến ông chẳng còn thấy những khiếm khuyết của nó, hoặc đúng hơn, lại coi đó là những ân huệ và nét duyên dáng của cả tâm hồn lẫn thể xác, rồi đem khoe với bạn bè như thể đó là sự thông minh và nét thanh tao. Còn tôi – dẫu mang tiếng là cha, nhưng thực chất tôi chỉ là cha dượng của “Don Quixote” – lại chẳng hề muốn xuôi theo dòng chảy của thói đời, hay nài nỉ bạn, hỡi người đọc kính mến, suýt rớm cả nước mắt như bao kẻ khác, rằng hãy tha thứ hay châm chước cho những khiếm khuyết mà bạn sẽ nhận thấy ở đứa con này của tôi. Bạn chẳng phải họ hàng cũng chẳng phải bạn bè gì của nó, tâm hồn là của riêng bạn và ý chí thì tự do tự tại như bất kỳ ai trên đời này, bạn đang ở trong chính ngôi nhà của mình và làm chủ nó chẳng kém gì nhà vua làm chủ thuế má của ngã ba đường, và hẳn bạn biết câu ngạn ngữ quen thuộc: “Dưới lớp áo choàng này, ta vẫn hạ sát nhà vua”; tất cả những điều đó miễn trừ và giải thoát bạn khỏi mọi sự đắn đo hay ràng buộc, để bạn có thể thốt lên bất cứ điều gì mình muốn về câu chuyện mà không phải sợ bị mắng mỏ vì một lời chê bai hay được thưởng công vì một nhời ngợi khen nào dành cho nó.

Nguyện vọng của tôi đơn giản chỉ là dâng lên bạn một tác phẩm mộc mạc, chẳng phấn son trang điểm, không có những lời tựa tô vẽ hay danh sách dài dặc những bài thơ ca ngợi, châm ngôn và tán tụng theo thông lệ thường thấy ở phần đầu của các sách. Bởi tôi dám chắc với bạn rằng, dẫu việc sáng tác ra nó tiêu tốn của tôi chút ít công sức, thì chẳng có nỗi vất nào lớn lao cho bằng việc viết nên Lời Tựa mà bạn đang đọc đây. Đã bao bão lần tôi cầm bút lên viết, rồi lại bấy nhiêu lần đặt xuống vì chẳng biết phải viết gì cho phải. Có lần, khi tôi đang đăm chiêu suy nghĩ với tờ giấy trải trước mặt, cây bút giắt sau tai, khuỷu tay tì lên bàn và má chống vào bàn tay để ngẫm xem mình nên nói gì, thì bỗng đâu một người bạn hoạt bát, thông minh của tôi bước vào; thấy tôi đang chìm đắm trong tư lự, anh ta liền hỏi lý do. Chẳng có gì phải giấu giếm, tôi đáp rằng mình đang bận tâm về Lời Tựa cho câu chuyện “Don Quixote”, và nó phiền muộn đến mức tôi suýt định chẳng thèm viết lời tựa nào nữa, thậm chí chẳng muốn cho xuất bản cả những chiến công của một hiệp sĩ cao quý nhường ấy.

“Bởi lẽ, anh làm sao có thể mong tôi thôi bất an trước việc cái thứ định luật cổ xưa mà thiên hạ gọi là Công Chúng ấy sẽ nói gì, khi thấy tôi – sau bao năm ngủ vùi trong sự lãng quên – nay lại bước ra với bao năm tháng đè nặng trên lưng, cùng một cuốn sách khô như sậy, nghèo nàn về cốt truyện, cạn kiệt về văn phong, thiếu thốn trăm bề về ý tưởng, hoàn toàn vắng bóng học thức lẫn sự thông thái, chẳng có trích dẫn ở lề trang hay chú thích ở cuối sách theo đúng mốt của những cuốn sách khác mà tôi vẫn thấy? Những cuốn sách ấy, dẫu toàn chuyện hoang đường và phàm tục, lại chat đầy những châm ngôn trích từ Aristotle, từ Plato và cả bầy đàn triết học gia, khiến người đọc phải kinh ngạc và đinh ninh rằng tác giả của chúng là những bậc học rộng tài cao, uyên bác và hùng biện. Rồi đến khi họ trích dẫn Kinh Thánh nữa chứ! – ai nghe vào cũng tưởng họ là bậc Thánh Thomas hay những vị tiến sĩ của Giáo hội, khi họ tuân giữ một mực tao nhã đến mức ở câu trước vừa miêu tả một kẻ si tình điên dại, câu sau đã giảng ngay một bài giáo lý đạo đức nhỏ xinh khiến người nghe kẻ đọc thấy vô cùng thú vị và thích thú. Sách của tôi sẽ chẳng có lấy một mảy may những thứ ấy, vì tôi chẳng có gì để trích ở lề hay chú thích ở cuối, lại càng mù tịt chẳng biết mình đang đi theo tác giả nào để mà kê tên họ lên đầu sách theo thứ tự A, B, C – bắt đầu từ Aristotle và kết thúc bằng Xenophon, Zoilus hay Zeuxis, dẫu một kẻ thì chuyên nghề vu khống còn kẻ kia là họa sĩ. Sách của tôi cũng đành phải vắng bóng những bài thơ ca ngợi ở phần đầu – chí ít là những bài thơ mà tác giả của chúng phải là công tước, hầu tước, bá tước, giám mục, quý bà hay những thi sĩ lừng danh. Dù rằng, nếu tôi mở lời nhờ vả hai hay ba người bạn hảo tâm, tôi thừa biết họ sẽ dâng tặng ngay, và đó sẽ là những vần thơ mà các tác giả có tiếng tảng nhất ở Tây Ban Nha của chúng ta cũng chẳng tài nào sánh kịp.

“Tóm lại anh bạn ạ,” tôi tiếp lời, “tôi đã quyết định rằng Ngài Don Quixote cứ việc nằm vùi trong kho lưu trữ của vùng La Mancha quê hương ngài, cho đến khi Trời xanh phái đến một ai đó trang hoàng cho ngài những thứ còn thiếu; bởi tôi tự thấy với sự nông cạn và thiếu hụt học thức của mình, bản thân chẳng tài nào kham nổi, vả lại bản tính tôi vốn rụt rè, lười biếng đi săn lùng những tác giả để nói thay cho những điều mà chính tôi có thể tự thốt lên. Đó chính là lý do khiến anh bắt gặp tôi đang đăm chiêu, ngẩn ngơ, và ngần ấy cũng đủ để giải thích cho những gì anh vừa nghe.”

Nghe vậy, người bạn tôi liền đét một cái vào trán, cười lớn rồi thốt lên: “Lạy Chúa, huynh đệ ơi, giờ thì tôi mới được tỉnh ngộ khỏi cái sai lầm mà bấy lâu nay tôi vẫn mắc phải trong suốt khoảng thời gian quen biết anh. Xưa nay tôi cứ tưởng anh là kẻ tinh anh, sắc sảo trong mọi việc, nhưng giờ thì tôi mới thấy anh lầm lạc cách xa thực tế một trời một vực. Chẳng lẽ những chuyện cỏn con và dễ bề giải quyết nhường ấy lại có thể làm khó và bận tâm một bộ óc chín chắn như anh – một người thừa sức phá vỡ và nghiền nát những chướng ngại vật lớn lao hơn nhiều sao? Thề có đức tin của tôi, chuyện này chẳng phải do thiếu năng lực, mà là vì anh quá ư lười biếng và thiếu hiểu biết về sự đời mà thôi. Anh có muốn biết tôi có nói thật hay không? Nào, hãy chú ý lắng nghe đây, anh sẽ thấy chỉ trong chớp mắt tôi sẽ quét sạch mọi khó khăn của anh, và bù đắp đầy đủ những thiếu sót mà anh cho là đang kìm hãm, nhụt chí khiến anh không dám mang câu chuyện về hiệp sĩ Don Quixote lừng danh của anh ra ánh sáng thế gian – vị hiệp sĩ vốn là ánh hào quang và tấm gương soi chung cho toàn bộ giới hiệp sĩ giang hồ.”

“Anh cứ nói đi,” tôi đáp, vừa chăm chú lắng nghe; “anh định tính sao để bù đắp sự tự ti của tôi, và dẹp yên mớ hỗn độn đầy bối rối này đây?”

Anh ta liền thong thả đáp lời: “Khó khăn đầu tiên của anh về những bài thơ ca ngợi, châm ngôn hay thơ tứ tuyệt đặt ở phần đầu – vốn đòi hỏi phải do những nhân vật có vai vế và địa danh chấp bút – có thể được tháo gỡ nếu bản thân anh chịu khó tự mình chắp bút lấy vài bài; sau đó anh có thể ‘làm lễ rửa tội’ cho chúng, gán cho chúng bất kỳ cái tên nào anh thích, nhận vơ tác giả là Thầy tế Gioan xứ Ấn Độ hay Hoàng đế Trebizond – những nhân vật mà theo tôi được biết, từng được đồn đại là những thi sĩ lừng danh; và dẫu họ chẳng phải là thi sĩ đi nữa, hay dẫu có gã bác học cù lần nào đó đến hách dịch chất vấn anh, anh cứ việc phớt lờ chẳng thèm đếm xỉa tới dẫu chỉ hai đồng maravedis, bởi cho dù chúng có vạch mặt được lời nói dối của anh đi chăng nữa, chúng cũng chẳng thể nào chặt đứt cái tay mà anh dùng để viết ra nó.

“Còn về những trích dẫn ở lề trang chỉ dẫn đến các cuốn sách và tác giả mà từ đó anh rút ra những châm ngôn, ngạn ngữ đưa vào câu chuyện, thì chỉ cần anh khéo léo lồng ghép vào sao cho thật êm xuôi bất kỳ câu văn hay mảnh vụn tiếng Latinh nào mà anh vô tình thuộc lòng, hoặc ít ra là chẳng tốn mấy công tra cứu. Chẳng hạn, khi anh bàn về sự tự do và nỗi thống khổ xiềng xích, hãy chèn ngay câu:

Non bene pro toto libertas venditur auro;

rồi chú thích bên lề rằng đó là của Horace, hoặc bất kỳ ai đã nói câu ấy; hay nếu anh ám chỉ sức mạnh của cái chết, hãy cất lời bằng câu:

Pallida mors æquo pulsat pede pauperum tabernas,

Regumque turres.

“Nếu đó là tình bạn và lòng bác ái mà Chúa buộc chúng ta phải dành cho kẻ thù, hãy tìm ngay đến Kinh Thánh, việc ấy chẳng tốn mấy công tra cứu, và trích dẫn ngay lời phán chính thức của Thiên Chúa: Ego autem dico vobis: diligite inimicos vestros. Nếu anh bàn về những ý nghĩ đen tối, hãy lật Phúc Âm: De corde exeunt cogitationes malæ. Còn nếu nói về sự bội bạc của bạn bè, đã có Cato ban tặng cho anh hai câu thơ:

Donec eris felix multos numerabis amicos,

Tempora si fuerint nubila, solus eris.

“Với những mẩu tiếng Latinh như thế và tương tự như thế, thiên hạ thể nào cũng sẽ coi anh là một bậc uyên thâm ngữ pháp, mà thời buổi này thì đó chẳng phải là một vinh dự hay mối lợi nhỏ đâu.

“Còn về việc bổ sung các chú thích ở cuối sách, anh hoàn toàn có thể yên tâm làm theo cách này. Nếu trong sách anh có nhắc đến vị khổng lồ nào, hãy khéo léo biến đó thành gã khổng lồ Goliath; chỉ với điều này thôi – vốn chẳng tốn của anh chút công sức nào – anh đã có ngay một lời chú thích hoành tráng, bởi anh có thể ghi rằng: ‘Gã khổng lồ Golias hay Goliath là một người Phi-li-tinh đã bị mục đồng Đa-vít hạ sát bằng một cú ném đá chí mạng tại thung lũngh Terebinth, như được thuật lại trong Sách Các Vua – tại chương ghi chép sự việc ấy.’

“Kế đến, để chứng minh bản thân là một kẻ uyên bác trong văn chương thanh nhã và địa lý học, anh hãy xoay xở sao cho con sông Tagus được nhắc tên trong câu chuyện của mình, và thế là ngay lập tức anh lại có thêm một chú thích lừng lẫy khác, giải thích rằng: ‘Sông Tagus được đặt tên theo một vị vua Tây Ban Nha; nó bắt nguồn từ nơi này nơi nọ và đổ ra đại dương, hôn lên những bức tường của thành phố Lisbon nổi tiếng, và người ta vẫn truyền tai nhau rằng dòng sông ấy có những bãi cát vàng, vân vân.’ Nếu câu chuyện có dính dáng đến bọn cướp, tôi sẽ hiến cho anh câu chuyện về Cacus, vì tôi thuộc lòng nó; nếu dính tới phụ nữ lẳng lơ, đã có vị Giám mục xứ Mondonedo cho anh mượn Lamia, Laida và Flora – bất kỳ sự nhắc nhở nào đến họ cũng sẽ mang lại cho anh tiếng tăm lừng lẫy; nếu nói về những kẻ nhẫn tâm, Ovid sẽ cung cấp cho anh nàng Medea; nếu là phù thủy hay yêu nữ, Homer có Calypso còn Virgil có Circe; nếu bàn về những vị tướng tài ba, chính Julius Caesar sẽ cho anh mượn bản ‘Bình chiến ký’ của ông, còn Plutarch sẽ ban cho anh cả ngàn vị Alexander. Nếu anh đề cập đến chuyện tình ái, chỉ với dăm ba xu dính túi vốn tiếng Tuscany là anh có thể tìm đến Leon xứ Hebrew, người sẽ cung cấp cho anh thỏa chí tang bồng; hoặc nếu không thích hướng ra ngoại quốc, ngay tại nhà anh đã có tác phẩm ‘Về tình yêu của Thiên Chúa’ của Fonseca, nơi cô đọng tất cả những gì anh hoặc trí tưởng tượng phong phú nhất có thể mong cầu về chủ đề ấy. Tóm lại, tất cả những gì anh phải làm là khéo léo trích dẫn những cái tên này, hoặc viện dẫn những câu chuyện mà tôi vừa kể, còn việc chèn các chú thích và trích dẫn cứ để tôi lo; tôi xin thề bằng tất cả những gì thiêng liêng nhất là sẽ lấp đầy lề sách của anh và ngốn sạch bốn tờ giấy ở phần cuối cuốn sách.

“Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang phần danh mục các tác giả mà những cuốn sách khác vẫn có còn anh thì đang cần cho tác phẩm của mình. Cách giải quyết việc này vô cùng đơn giản: Anh chỉ việc tìm lấy một cuốn sách nào có liệt kê tất cả các tác giả ấy, từ A đến Z như chính miệng anh vừa nói, rồi chép nguyên si bảng chữ cái ấy vào sách của mình; dẫu cho sựpp lừa phỉnh đó có lồ lộ ra trước mắt đi chăng nữa – bởi anh chẳng mấy khi phải vay mượn gì từ họ – thì cũng chẳng hề gì; thế nào cũng sẽ có vài kẻ ngây ngô tin rằng anh đã tận dụng tất cả các vị ấy trong câu chuyện mộc mạc, chân phương này của mình. Dù sao đi nữa, nếu chẳng dùng được việc gì khác, cái danh mục tác giả dài dặc ấy cũng sẽ góp phần mang lại cho cuốn sách của anh một vẻ uy quyền đáng kinh ngạc. Hơn nữa, chẳng có ai rảnh rỗi đi kiểm chứng xem anh thực sự có noi theo họ hay không, bởi chuyện đó chẳng mảy may liên quan gì đến họ cả; nhất là khi, nếu tôi không nhầm, cuốn sách này của anh chẳng hề cần đến bất kỳ thứ nào trong số những điều mà anh đang kêu ca là còn thiếu. Bởi từ đầu đến cuối, nó chỉ là một đòn giáng mạnh vào những sách kiếm hiệp – thứ mà Aristotle chưa từng mơ tới, Thánh Basil chưa từng thốt một lời, còn Cicero thì hoàn toàn mù tịt; những chuẩn mực của sự thật hay quan sát chiêm tinh cũng chẳng hề nằm trong phạm vi những ý tưởng phiêu lưu kỳ quặc của nó; những phép đo hình học hay sự phản biện trong hùng biện chẳng có chút dính dáng nào; nó cũng chẳng có ý định giảng đạo cho bất kỳ ai, cũng chẳng pha trộn giữa chuyện phàm trần và thần thánh – một thứ tạp pí lù hỗn độn mà bất kỳ trí óc Kitô giáo nào cũng không nên mặc lấy. Nó chỉ cần bám sát sự thật của tự nhiên trong cách cấu tứ, và sự mô phỏng càng hoàn hảo bao nhiêu thì tác phẩm lại càng tuyệt vời bấy nhiêu. Và vì tác phẩm này của anh chẳng nhắm tới mục đích nào khác ngoài việc đập tan uy tín và sức ảnh hưởng mà các sách kiếm hiệp đang có trên thế giới cũng như trước công chúng, nên anh chẳng cần phải đi xin xỏ châm ngôn từ các triết gia, giới luật từ Kinh Thánh, điển tích từ các nhà thơ, bài diễn văn từ các nhà hùng biện, hay phép lạ từ các vị thánh; mà chỉ cần lưu ý sao cho văn phong và ngôn từ của mình trôi chảy, nhịp nhàng, dung dị, với những từ ngữ trong sáng, chuẩn xác và đặt đúng chỗ, qua đó truyền tải trọn vẹn mục đích của mình trong khả năng tối đa, diễn đạt ý tưởng một cách rành mạch, không mơ hồ hay rối rắm. Anh cũng hãy cố gắng sao cho khi đọc câu chuyện của anh, kẻ ưu tư sẽ phải bật cười, người vui tính lại càng thêm phấn chấn; kẻ khờ khạo không cảm thấy nhàm chán, người trí thức phải trầm trồ trước sự sáng tạo; kẻ nghiêm nghị không mảy may khinh miệt, và người thông thái chẳng tiếc lời ngợi khen. Cuối cùng, hãy giữ vững mục tiêu nhắm thẳng vào việc tiêu diệt cái tòa kiến trúc èo uột của dòng sách kiếm hiệp – thứ vốn bị một số người căm ghét nhưng lại được rất nhiều kẻ ca tụng; bởi nếu anh thành công trong việc này, thì đó đã là một chiến công chẳng hề nhỏ chút nào rồi.”

Trong sự tĩnh lặng tuyệt đối, tôi lắng nghe những lời bạn mình bày tỏ, và nhận xét của anh ta đã tạo ấn tượng sâu sắc đến mức, chẳng thèm tìm cách chất vấn, tôi hoàn toàn thừa nhận sự đúng đắn của chúng, và quyết định dựa vào đó để chắp bút nên Lời Tựa này. Qua đây, hỡi bạn đọc hiền đức, bạn sẽ nhận thấy sự khôn ngoan của người bạn tôi, sự may mắn của tôi khi tìm được một quân sư như thế trong lúc ngặt nghèo, cũng như những gì bạn thu nhận được khi đón nhận trọn vẹn – không thêm thắt hay bóp méo – câu chuyện về hiệp sĩ lừng danh Don Quixote xứ La Mancha, người được toàn thể cư dân vùng Campo de Montiel tôn vinh là vị tình nhân đoan trang nhất và người hiệp sĩ dũng cảm nhất từng xuất hiện tại vùng đất ấy trong suốt nhiều năm qua. Tôi chẳng có ý định phóng đại công sức mình khi giới thiệu để bạn làm quen với một vị hiệp sĩ lừng lẫy và đáng kính nhường ấy, nhưng tôi thực sự mong nhận được lời cảm ơn từ bạn vì cơ duyên được gặp gỡ nhân vật lừng danh Sancho Panza – người hầu cận của ngài – kẻ mà theo thiển ý của tôi, tôi đã gom lại trong đó tất cả những trò hề hước của giới hầu cận vốn đang rải rác khắp bầy đàn những cuốn sách kiếm hiệp phù phiếm ngoài kia. Thôi nhé – chúc bạn vạn an, và xin chớ quên tôi. Chào thân ái.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.