Don Quixote

Lượt đọc: 297 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 27
Kế sách tiếp theo của thầy phó tế và bác thợ cạo, cùng những sự việc đáng ghi nhớ khác trong tập đại sử này

❊ ❊ ❊

Kế hoạch của thầy phó tế không có vẻ gì là tồi đối với bác thợ cạo, trái lại, nó tuyệt vời đến mức họ lập tức tiến hành thi hành ngay. Họ mượn của bà chủ quán một chiếc váy lót và chiếc khăn trùm đầu, để lại chiếc áo chùng mới của thầy phó tế làm tin; và bác thợ cạo làm một bộ râu từ chiếc đuôi bò màu nâu xám hoặc đỏ mà chủ quán dùng để giắt lược.

Bà chủ quán hỏi họ cần những thứ ấy để làm gì, và thầy phó tế bèn kể vắn tắt cho bà nghe về chứng điên rồ của Don Quixote, cũng như việc lớp cải trang này nhằm mục đích lừa nhà hiệp sĩ rời khỏi vùng núi non nơi ông đang ẩn náu. Hai vợ chồng chủ quán ngay lập tức đi đến kết luận rằng kẻ điên chính là vị khách của họ, tức là người đã chế ra dầu balsam và là chủ nhân của tên giám mã bị tung lên tấm chăn, và họ liền kể cho thầy phó tế nghe mọi chuyện diễn ra giữa ông ta với họ, không quên cả những điều mà Sancho đã giữ kín. Cuối cùng, bà chủ quán trau chuốt y phục cho thầy phó tế một cách hoàn hảo không chê vào đâu được; bà mặc cho ông một chiếc váy vải có sọc nhung đen rộng một gang tay, rách tươm, cùng một chiếc áo ngực bằng nhung xanh được viền bằng dải lụa trắng, mà cả váy lẫn áo ngực chắc hẳn phải được may từ thời vua Wamba. Thầy phó tế không chịu để họ trùm khăn lên đầu, mà đội một chiếc mũ vải chần nhỏ vốn dùng làm mũ ngủ, buộc trán bằng một dải lụa đen, rồi dùng một dải khác làm mặt nạ để che kín râu và khuôn mặt rất khéo léo. Sau đó, ông đội chiếc mũ rộng vành đủ để làm ô che nắng, khoác áo choàng và ngồi theo kiểu phụ nữ trên con la của mình, trong khi bác thợ cạo cưỡi con la bên cạnh với bộ râu dài đến thắt lưng pha lẫn màu đỏ và trắng, bởi vì, như đã nói, đó là chiếc đuôi của một con bò đực màu đỏ gạch.

Họ chào từ giã mọi người, và cả nàng Maritornes tốt bụng – dẫu có là tội đi chăng nữa, nàng cũng hứa sẽ lần chuỗi hạt cầu nguyện để Chúa ban cho họ thành công trong một việc làm vừa gian khó lại vừa đậm tinh thần Cơ Đốc mà họ đang gánh vác. Nhưng khi vừa rời khỏi quán trọ, thầy phó tế chợt nhận ra rằng mình đang làm sai khi ăn vận theo kiểu đó, bởi việc một linh mục mặc đồ như vậy là điều không đúng đắn, dẫu cho có nhiều thứ phụ thuộc vào đó đi nữa; và nói với bác thợ cạo, ông nài nỉ hắn đổi trang phục, vì sẽ hợp lý hơn nếu bác thợ cạo đóng vai thiếu nữ khốn cùng, trong khi chính ông sẽ vào vai người giám mã, điều đó sẽ ít làm tổn hại đến phẩm giá của ông hơn; bằng không, ông quả quyết sẽ không dính líu gì đến chuyện này nữa và mặc cho quỷ tha ma bắt Don Quixote. Vừa lúc ấy, Sancho đi tới, và khi nhìn thấy hai người trong bộ dạng như vậy, hắn không thể kìm được tiếng cười; tuy nhiên, bác thợ cạo đồng ý làm theo ý muốn của thầy phó tế, và sau khi thay đổi kế hoạch, thầy phó tế bắt đầu hướng dẫn hắn cách làm tròn vai diễn cũng như những điều cần nói với Don Quixote để dụ dỗ và ép buộc ông đi theo họ, từ bỏ sự cố chấp đối với chốn mà ông đã chọn để chịu đựng sự khắc khổ vô nghĩa. Bác thợ cạo bảo rằng hắn có thể xoay sở ổn thỏa mà không cần bất kỳ sự hướng dẫn nào, và vì hắn không muốn hóa trang cho đến khi họ đến gần nơi Don Quixote đang ở, nên hắn liền gấp gọn y phục lại, còn thầy phó tế thì chỉnh lại bộ râu; thế là họ lên đường dưới sự dẫn đường của Sancho Panza, kẻ vừa đi vừa kể cho họ nghe về cuộc chạm trán với kẻ điên mà họ đã gặp ở vùng Sierra, nhưng không hề đả động gì đến việc tìm thấy chiếc va li cùng những thứ bên trong; bởi vì dẫu có khờ khạo đến đâu thì anh chàng cũng hơi tham lam một chút.

Ngày hôm sau, họ đến nơi Sancho đã bẻ những cành chổi làm dấu để chỉ đường đến chỗ để chủ nhân, và nhận ra địa điểm ấy, hắn bảo rằng đây chính là lối vào, đồng thời khuyên họ nên hóa trang nếu điều đó là cần thiết để giải cứu chủ nhân của mình; vì họ đã dặn dò hắn kỹ càng rằng việc ăn mặc và cải trang thế này có tầm quan trọng tối cao để cứu vớt chủ nhân khỏi cuộc sống tai hại mà ông đã chọn lựa; và họ nghiêm cấm hắn không được tiết lộ cho chủ nhân biết họ là ai hay hắn có quen biết họ, và nếu ngài có hỏi – chắc chắn ngài sẽ hỏi – rằng hắn đã trao bức thư cho Dulcinea chưa, thì hãy đáp rằng đã trao, và vì nàng không biết đọc nên đã trả lời bằng miệng rằng nàng ra lệnh cho ông, dưới sự bất mãn của nàng, hãy đến gặp nàng ngay lập tức; và đây là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với chính hắn, bởi vì bằng cách này và với những gì họ định nói với ông, họ cảm thấy chắc chắn sẽ kéo ông trở lại với một lối sống tốt đẹp hơn và khiến ông phải thực hiện ngay các bước để trở thành hoàng đạo hoặc vua chúa, vì chẳng có gì phải sợ việc ông trở thành tổng giám mục cả. Sancho lắng nghe tất cả những điều đó, ghi khắc thật kỹ trong tâm trí, và cảm ơn họ rối rít vì đã có ý định đề cử chủ nhân của mình làm hoàng đế thay vì tổng giám mục, bởi hắn tin chắc rằng trong việc ban thưởng cho các giám mã, các vị hoàng đế có thể làm được nhiều hơn những hiệp sĩ lang thang. Hắn cũng nói rằng sẽ tốt hơn nếu hắn đi trước để tìm chủ nhân và trao câu trả lời của tiểu thư cho ngài; vì có lẽ điều đó cũng đủ để lôi kéo ngài rời khỏi chốn ấy mà không cần bắt họ phải chịu đựng ngần ấy phiền phức. Họ chấp thuận đề nghị của Sancho và quyết định chờ đợi cho đến khi hắn mang tin đã tìm thấy chủ nhân trở về.

Sancho tiến sâu vào những khe núi của dãy Sierra, để lại hai người ở một thung lũng nơi có một dòng suối nhỏ hiền hòa chảy qua, và nơi đá đồi cùng cây cối tỏa bóng mát dễ chịu, đáng yêu. Đó là một ngày tháng Tám với cái nóng đỉnh điểm, cái nóng ở những vùng đó vô cùng gay gắt, và lúc ấy là ba giờ chiều, tất cả những điều ấy càng làm cho khung cảnh thêm phần cuốn hút, thôi thúc họ dừng chân chờ đợi Sancho trở lại, và họ đã làm thế. Khi họ đang nghỉ ngơi dưới bóng râm, một giọng hát vang lên không có tiếng nhạc đệm nào tòng sự, nhưng ngọt ngào và êm ái đến tai họ, khiến họ không khỏi ngạc nhiên, bởi nơi này chẳng có vẻ gì là chỗ ở thích hợp cho một kẻ ca hay đến thế; vì mặc dù người ta vẫn thường nói rằng những người chăn cừu có giọng ca quý hiếm đôi khi được tìm thấy chốn rừng sâu đồng nội, nhưng điều đó giống trí tưởng tượng của nhà thơ hơn là sự thật. Và họ còn ngạc nhiên hơn nữa khi nhận ra rằng những lời ca họ nghe được không phải là khúc ca của những kẻ mục tử thô sơ, mà là của những bậc tao nhân mặc khách chốn phồn hoa; và quả thực đúng là như vậy, bởi những vần thơ họ nghe được chính là những câu này:

Điều gì khiến mưu cầu hạnh phúc bỗng như không?

Sự lạnh lùng.

Điều gì buộc ta từ bỏ hy vọng bình yên?

Lòng ghen tuông.

Điều gì giữ tim ta trong hồi hộp đớn đau?

Sự cách xa.

Nếu đúng thế, thì trước nỗi buồn phiền

Ta biết tìm đâu chốn bình yên,

Khi hy vọng ngập tràn bị tước đoạt

Bởi Cách xa, Ghen tuông và Lạnh lùng?

Điều gì chứng tỏ cội nguồn mọi đớn đau?

Tình yêu.

Điều gì luôn nhìn vinh quang ta với ánh mắt chéo ngoe?

Vận mệnh.

Bởi đâu mà có quyền năng hành hạ ta?

Thiên đàng.

Nếu đúng thế, ta chỉ chờ đón

Cú giáng của định mệnh không thể chống cự,

Bởi ba điều ấy đang liên minh hành động vì đau khổ của ta,

Tình yêu, Vận mệnh và Thiên đàng.

Ta phải làm gì để tìm ra phương thuốc chữa lành?

Cái chết.

Mồi nhử cho tình yêu khi e thẹn và xa cách là gì?

Sự thay đổi.

Nếu tất cả đều vô ích, cái gì sẽ chữa khỏi nỗi buồn tim ta?

Sự điên loạn.

Nếu đúng là thế, thật sự là dại khờ

Khi đi tìm thuốc chữa cho u sầu:

Hãy hỏi nó ở đâu; câu trả lời sẽ bảo rằng

Ở Sự thay đổi, Sự điên loạn, hay Cái chết.

Thời gian, tiết trời mùa hè, nơi chốn hoang vắng, giọng ca cùng kỹ nghệ của người hát, tất cả đã hòa quyện mang lại sự ngạc nhiên và thích thú cho hai thính giả, những người vẫn kiên nhẫn chờ đợi để được nghe thêm điều gì đó; tuy nhiên, nhận thấy sự im lặng kéo dài một lúc lâu, họ quyết định đi tìm người nghệ sĩ sở hữu giọng ca tuyệt diệu ấy; nhưng ngay khi họ vừa định bước đi thì bị chính giọng hát ấy chặn lại, một lần nữa vang lên bên tai họ, cất lên khúc ca này:

BẢN SONNET

Khi hướng về trời cao, Hỡi Tình Bằng Hữu thánh thiện, ngươi đã ra đi

Vút bay tìm chốn nghỉ ngơi bên kia bầu trời,

Và ngự trị giữa các bậc thánh nhân trên cao,

Đó là ý muốn của ngươi khi để lại trần gian này

Hình bóng của chính mình, và ban phác cho nó

Chiếc khăn che mặt của ngươi, để đôi khi sự giả hình,

Khoác lên mình hình hài ngươi, đánh lừa đôi mắt,

Và biến sự đê tiện của nó thành rạng ngời như nhân đức.

Hỡi Tình Bằng Hữu, hãy quay về với chúng ta, hoặc buộc kẻ lừa đảo

Kẻ đang mang nó lúc này, phải trả lại y phục của ngươi,

Dưới sự che chở mà sự chân thành bị tước đoạt.

Nếu ngươi không vạch trần kẻ giả mạo của mình,

Trái đất này sẽ lại trở thành mồi ngon cho sự tranh chấp,

Như khi mối bất hòa thuở hồng hoang ngự trị.

Khúc ca kết thúc bằng một tiếng thở dài não nề, và một lần nữa hai người nghe lén lại kiên nhẫn đợi chờ người ca sĩ tiếp tục cất lời; nhưng nhận ra rằng âm thanh giờ đây đã chuyển thành những tiếng nức nở và những tiếng rên rỉ xé lòng, họ quyết định tìm ra kẻ bất hạnh có giọng hát độc đáo hệt như tiếng thở dài thảm thương ấy, và họ chưa đi được bao lâu thì khi rẽ qua góc một mỏm đá, họ phát hiện ra một người có dáng vẻ và ngoại hình y hệt như những gì Sancho đã miêu tả khi kể cho họ nghe câu chuyện về Cardenio. Hắn ta, không hề tỏ ra ngạc nhiên khi nhìn thấy họ, vẫn đứng yên với cái đầu cúi gằm xuống ngực như một kẻ đang chìm đắm trong suy tư, chẳng buồn ngước mắt lên nhìn họ sau cái liếc đầu tiên khi họ bất ngờ xuất hiện trước mặt hắn. Thầy phó tế, người đã biết rõ về bất hạnh của hắn và nhận ra qua những lời miêu tả, vốn là một người có tài ăn nói, liền bước tới và dùng vài lời lẽ phải quấy để van nài, giục giã hắn từ bỏ một cuộc sống khốn khổ như thế, kẻo hắn sẽ kết thúc đời mình tại nơi đó, đó sẽ là điều bất hạnh lớn nhất trong mọi bất hạnh. Cardenio lúc bấy giờ đang tỉnh táo, hoàn toàn thoát khỏi những cơn điên loạn thường hay giày vò hắn, và khi nhìn thấy họ ăn mặc theo một phong cách quá lạ lẫm đối với những kẻ hay lui tới chốn hoang dã này, không khỏi lộ vẻ kinh ngạc, nhất là khi nghe họ nhắc đến hoàn cảnh của hắn như một chuyện ai cũng rõ (bởi những lời của thầy phó tế đã ngầm cho hắn hiểu như vậy), thế nên hắn liền đáp lại họ thế này:

“Tôi thấy rõ ràng, thưa các ngài, bất kể các ngài là ai, rằng Thiên Chúa – Đấng luôn quan tâm cứu giúp những người lương thiện, và rất thường xuyên cả những kẻ bất lương nữa – tại chốn thâm sơn cùng cốc biệt lập với loài người này, đã sai đến với tôi, dù tôi chẳng xứng đáng, những người tìm cách kéo tôi rời khỏi chốn đây để đến một nơi trú ẩn tốt hơn, cho tôi thấy bằng vô vàn lý lẽ đanh thép rằng tôi đang hành động thật vô lý khi sống một cuộc đời thế này; nhưng như họ biết đấy, nếu tôi thoát khỏi tội ác này tôi sẽ rơi vào một tội ác khác còn lớn hơn, có lẽ họ sẽ coi tôi là một kẻ kém cõi, hay tệ hơn thế, một kẻ mất trí; và cũng chẳng có gì lạ, vì chính bản thân tôi cũng nhận ra rằng sức mạnh từ ký ức về những bất hạnh của tôi quá lớn lao và tác động mạnh mẽ đến mức hủy hoại tôi, khiến cho dẫu không muốn, đôi khi tôi vẫn trở nên trơ lì như đá, chẳng còn chút cảm giác hay ý thức nào; và tôi cảm nhận được sự thật ấy khi họ kể cho tôi nghe và đưa ra những minh chứng về những việc tôi đã làm khi cơn điên cuồng khủngếp khống chế tôi; và tất cả những gì tôi có thể làm chỉ là vô ích than khóc cho số phận của mình, nguyền rủa định mệnh một cách vô tích sự, và biện hộ cho sự điên rồ của mình bằng cách kể lại nguyên nhân dẫn đến nó cho bất cứ ai muốn nghe; bởi vì không một sinh vật có lý trí nào khi biết được nguyên nhân lại có thể ngạc nhiên trước những hậu quả; và nếu họ không thể giúp đỡ tôi ít ra họ cũng sẽ không trách móc tôi, và sự ghê tởm mà họ cảm thấy đối với những cách hành xử hoang dã của tôi sẽ chuyển thành niềm thương xót cho những nỗi đau đớn của tôi. Nếu các ngài có mặt ở đây với cùng mục đích như những người khác từng đến, thì trước khi đưa ra những lý lẽ khôn ngoan của mình, tôi nài xin các ngài hãy lắng nghe câu chuyện về vô vàn bất hạnh của tôi, vì có lẽ sau khi nghe xong, các ngài sẽ đỡ mất công nhọc sức đưa ra những lời an ủi cho một nỗi buồn đã vượt ngoài tầm với của nó.”

Vì cả hai chẳng mong muốn gì hơn là được nghe chính đôi môi ấy kể lại nguyên nhân gây ra nỗi thống khổ của mình, họ bết xá nài nỉ hắn hãy thuật lại, đồng thời hứa sẽ không làm bất cứ điều gì để xoa dịu hay an ủi mà hắn không muốn; và ngay lúc ấy, người quý tộc bất hạnh bắt đầu câu chuyện buồn của mình bằng những từ ngữ và cách thức gần như y hệt như những gì hắn từng kể cho Don Quixote và gã chăn dê vài ngày trước, khi nhờ có Thầy Elisabad và việc Don Quixote tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc hiệp sĩ nên câu chuyện vẫn dang dở, như tập sử này đã ghi lại; nhưng may mắn thay, cơn điên lần này không tái phát, cho phép hắn kể trọn vẹn câu chuyện đến cùng; và vì thế, khi đề cập đến sự việc về mẩu giấy mà Don Fernando tìm thấy trong cuốn tiểu thuyết “Amadis of Gaul”, Cardenio cho biết hắn nhớ hoàn toàn chính xác và nó có nội dung như thế này:

“Luscinda gửi Cardenio.

Mỗi ngày em lại khám phá ra ở chàng những phẩm chất buộc em phải tôn trọng và đánh giá cao hơn; thế nên nếu chàng muốn giải tỏa nghĩa vụ này cho em mà không làm tổn hại đến danh dự của em, chàng hoàn toàn có thể làm điều đó một cách dễ dàng. Em có một người cha biết rõ về chàng và vô cùng yêu thương em, người ấy sẽ không hề ép buộc ý muốn của em mà sẽ chấp thuận những điều hợp lý mà chàng đáng được hưởng, nếu thực sự chàng quý trọng em như chàng đã nói và như em tin là thế.”

“Chính bức thư này đã xúi giục tôi, như tôi đã kể với các ngài, đòi cưới Luscinda làm vợ, và cũng chính vì nó mà Luscinda bị Don Fernando nhìn nhận là một trong những phụ nữ khôn ngoan và thận trọng nhất thời bấy giờ, và chính bức thư này đã gợi lên cho hắn ý định hủy hoại tôi trước khi kế hoạch của tôi kịp thực hiện. Tôi đã nói với Don Fernando rằng tất cả những gì cha của Luscinda đang chờ đợi chỉ là việc cha tôi ngỏ lời hỏi cưới nàng, điều mà tôi không dám đề cập với ông, vì sợ rằng ông sẽ không đồng ý; không phải vì ông không hiểu rõ địa vị, phẩm giá, đức hạnh và sắc đẹp của Luscinda, và rằng nàng sở hữu những phẩm chất mang lại vinh dự cho bất kỳ gia đình nào ở Tây Ban Nha, mà bởi tôi biết rõ ông không muốn tôi kết hôn quá sớm, khi chưa thấy Công tước Ricardo sẽ làm gì cho tôi. Tóm lại, tôi nói với ông rằng tôi không dám nhắc đến điều đó với cha mình, cũng vì khó khăn ấy, và cả nhiều điều khác khiến tôi nhụt chí dẫu tôi không hiểu rõ chúng là gì, chỉ cảm thấy rằng điều tôi mong mỏi sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực. Đáp lại tất cả những điều đó, Don Fernando bảo rằng hắn sẽ tự mình đứng ra nói chuyện với cha tôi, và thuyết phục ông đến ngỏ lời với cha của Luscinda. Ồ, Marius đầy tham vọng! Ồ, Catilina tàn nhẫn! Ồ, Sylla độc ác! Ồ, Ganelon bội bạc! Ồ, Vellido phản trắc! Ồ, Julian thù hận! Ồ, Judas tham lam! Kẻ phản bội, tàn nhẫn, thù hận và bội bạc, kẻ khốn khổ tội nghiệp này đã làm gì sai trái trong sự trung thành của mình, kẻ đã vạch trần cho ngươi thấy những bí mật và niềm vui trong trái tim hắn một cách vô cùng cởi mở? Tôi đã phạm tội lỗi gì? Tôi đã thốt ra những lời nào, hay đã đưa ra lời khuyên nào mà không nhắm đến mục đích phò trợ cho danh dự và sự an khang của ngươi? Nhưng khốn khổ cho tôi, cớ sao tôi lại phàn nàn? Bởi chắc chắn rằng khi những bất hạnh nảy sinh từ các vì sao, từ trên cao giáng xuống chúng ta với sức mạnh và sự hung bão đến mức không một sức mạnh nào trên trần gian có thể ngăn chặn hướng đi của chúng, cũng chẳng có mưu mẹo loài người nào kìm hãm nổi sự xuất hiện của chúng. Ai có thể ngờ rằng Don Fernando, một nhà quý tộc cao quý, thông minh, gắn kết với tôi bởi lòng biết ơn đối với những cống hiến của tôi, một kẻ có thể chiếm được đối tượng tình yêu của mình bất cứ nơi nào hắn đặt tình cảm vào, lại có thể trở nên tàn nhẫn đến mức, như người ta vẫn nói, cướp đi của tôi con cừu cái duy nhất thậm chí còn chưa thuộc về sở hữu của tôi? Nhưng gạt bỏ những suy ngẫm vô ích và chẳng mang lại kết quả ấy sang một bên, chúng ta hãy nối lại đoạn sợi chỉ đứt quãng trong câu chuyện bất hạnh của tôi.

Để tiếp tục câu chuyện: Don Fernando thấy sự hiện diện của tôi là một vật cản trở cho việc thực hiện kế hoạch xảo trá và độc ác của hắn, nên quyết định sai tôi đến gặp anh trai cả của hắn với cái cớ xin tiền để thanh toán cho sáu con ngựa mà chính hắn đã cố tình mua đúng vào ngày hắn ngỏ ý nói chuyện với cha tôi, với mục đích duy nhất là tống cổ tôi đi để hắn có thể thực hiện âm nhạc địa ngục của mình suôn sẻ hơn, và giờ đây hắn muốn tôi đến lấy tiền trả cho số ngựa đó. Liệu tôi có thể lường trước được sự phản trắc này? Liệu tôi có thể mảy may nghi ngờ nó bằng cách nào? Hoàn toàn không; trái lại, tôi vô cùng vui sướng nhận lời lên đường ngay lập tức, vì hài lòng trước mối mua bán hời đã đạt được. Đêm đó tôi đã nói chuyện với Luscinda, kể cho nàng nghe những gì đã thỏa thuận với Don Fernando, và cách tôi nuôi hy vọng lớn lao rằng những mong ước đẹp đẽ, hợp lý của chúng tôi sẽ trở thành hiện thực. Nàng, cũng ngây thơ không kém gì tôi trước sự phản trắc của Don Fernando, giục tôi hãy cố gắng trở về thật nhanh, bởi nàng tin rằng việc thực hiện mong ước của chúng tôi sẽ chỉ bị trì hoãn cho đến khi cha tôi ngỏ lời với cha nàng mà thôi. Tôi chẳng hiểu vì sao khi nói những lời đó với tôi, đôi mắt nàng ngấn lệ, và cổ họng nghẹn ngào khiến nàng không thể thốt thêm dù chỉ một từ trong số rất nhiều điều mà tôi có cảm giác nàng đang cố gắng nói với tôi. Tôi vô cùng kinh ngạc trước sự đổi thay bất thường này, điều chưa từng thấy ở nàng trước đây, bởi chúng tôi vẫn luôn trò chuyện, bất cứ khi nào vận may và sự khéo léo của tôi cho phép, với niềm vui sướng và hân hoan tột cùng, hòa quyện giữa nước mắt, tiếng thở dài, sự ghen tuông, hoài nghi hoặc nỗi sợ hãi vào lời nói; tất cả về phần tôi là những lời ca tụng vận may tốt lành khi Thiên Chúa đã ban nàng cho tôi làm chủ nhân; tôi ca ngợi sắc đẹp của nàng, tôi tán dương giá trị và sự hiểu biết của nàng; và nàng đền đáp tôi bằng cách khen ngợi ở tôi những gì mà trong tình yêu dành cho tôi nàng cho là xứng đáng để ca ngợi; ngoài ra chúng tôi còn có hàng trăm ngàn chuyện lặt vặt và hành động của những người hàng xóm hay người quen để bàn tán, và sự bạo dạn lớn nhất của tôi chỉ là gần như cưỡng ép cầm lấy một trong những bàn tay trắng ngần của nàng đưa lên môi, trong giới hạn chật hẹp của ô cửa chấn song thấp ngăn cách chúng tôi cho phép. Thế nhưng vào đêm trước ngày khởi hành bất hạnh ấy, nàng đã khóc lóc, rên rỉ, thở dài, và rồi rút lui để lại trong tôi đầy rẫy sự hoang mang và kinh ngạc, choáng váng trước những biểu hiện kỳ lạ và đau thương đến thế của nỗi buồn và sự thống khổ nơi Luscinda; nhưng để không làm tàn lụi hy vọng của mình, tôi quy chụp tất cả cho chiều sâu của tình yêu mà nàng dành cho tôi và nỗi đau đớn mà sự chia xa mang lại cho những ai yêu thương nhau tha thiết. Cuối cùng tôi cũng lên đường, buồn bã và chán nản, trái tim ngập tràn những tưởng tượng và nghi ngờ, nhưng chẳng biết rõ thứ mình nghi ngờ hay tưởng tượng là gì; những điềm báo rõ ràng chỉ thẳng về sự kiện buồn bã và bất hạnh đang chờ đợi tôi.

Tôi đến nơi được sai đến, trao bức thư cho người anh của Don Fernando, và được tiếp đón tử tế nhưng không được phép về sớm, vì hắn muốn tôi phải chờ đợi – hoàn toàn trái với ý muốn của tôi – suốt tám ngày tại một nơi mà vị công tước cha hắn không thể nhìn thấy tôi, bởi anh hắn đã viết thư dặn rằng số tiền phải được gửi đi mà không để ông hay biết; tất cả những điều đó chỉ là một âm mưu của tên Don Fernando xảo trá, chứ anh hắn chẳng hề thiếu thốn tiền bạc đến mức phải giam chân tôi lại ngay lập tức.

Đó là một mệnh lệnh đẩy tôi vào sự cám dỗ muốn chống lại nó, vì đối với tôi, việc chịu đựng cuộc sống cách xa Luscinda trong ngần ấy ngày dường như là điều không thể, nhất là sau khi để nàng lại trong tâm trạng sầu thảm mà tôi đã kể cho các ngài; thế nhưng với tư cách là một bề tôi ngoan ngoãn, tôi đã tuân theo, dẫu cảm thấy rằng cái giá phải trả chính là sự yên ổn của bản thân. Nhưng bốn ngày sau, có một người đến tìm tôi mang theo một bức thư trao tận tay tôi, và qua địa chỉ người gửi, tôi nhận ra ngay đó là nét chữ của Luscinda. Tôi mở thư ra với nỗi sợ hãi và run rẩy, đinh ninh rằng phải có điều gì vô cùng nghiêm trọng mới thúc đẩy nàng viết thư cho tôi khi đang ở xa, bởi nàng hiếm khi làm thế khi tôi ở gần. Trước khi đọc thư, tôi hỏi người đàn ông ấy ai là người đã đưa nó cho ông ta, và ông ta đã đi đường mất bao lâu; ông ta đáp rằng khi tình cờ đi qua một con đường trong thành phố vào lúc giữa trưa, một phu nhân vô cùng xinh đẹp đã gọi ông ta từ cửa sổ, và với đôi mắt ngấn lệ, nàng hối hả nói với ông: ‘Hỡi người anh em, nếu anh quả thực là một vì tín đồ Cơ Đốc giống như vẻ ngoài của anh, vì tình yêu của Thiên Chúa, tôi nài xin anh hãy chuyển gấp bức thư này không chần chừ đến địa chỉ và người có tên ghi trên phong bì, tất cả đều đã rõ ràng, và nhờ đó anh sẽ lập được một công lớn trước Chúa chúng ta; và để anh không gặp bất cứ sự bất tiện nào khi làm việc đó, hãy nhận lấy những gì trong chiếc khăn này;’ và ông ta kể tiếp, ‘nói rồi nàng ném từ cửa sổ xuống cho tôi một chiếc khăn bên trong buộc một trăm đồng reals và chiếc nhẫn vàng này mà tôi mang theo đây cùng bức thư đã đưa cho ngài. Và rồi chẳng đợi câu trả lời nào, nàng rời khỏi cửa sổ, nhưng không quên nhìn thấy tôi cầm lấy bức thư và chiếc khăn, và tôi đã ra hiệu cho nàng biết mình sẽ làm đúng như lời nàng dặn; thế nên, thấy bản thân được trả công quá hậu hĩnh cho rắc rối khi mang nó đến cho ngài, và nhận ra qua địa chỉ rằng bức thư được gửi cho chính ngài (bởi vì, thưa ngài, tôi biết rõ ngài), đồng thời không thể cưỡng lại những giọt nước mắt của vị phu nhân xinh đẹp ấy, tôi quyết định không tin tưởng ai khác mà tự mình đến trao tận tay ngài, và chỉ trong vòng mười sáu tháng giờ kể từ lúc nhận được, tôi đã hoàn thành chuyến hành trình, mà như ngài biết đấy, dài tới mười tám cлu.’

Suốt quãng thời gian người đưa thư ngẫu nhiên tốt bụng ấy kể lể, tôi chết trân theo từng lời hắn nói, đôi chân run lẩy bẩy đến mức suýt đứng không vững. Tuy nhiên, tôi vẫn mở bức thư ra và đọc những dòng này:

Lời hứa mà Don Fernando đã hứa với chàng về việc giục cha chàng đến nói chuyện với cha em, hắn đã thực hiện làm sao để vừa ý hắn hơn là có lợi cho chàng. Em phải nói cho chàng hay, thưa ngài, rằng hắn đã đến hỏi cưới em làm vợ, và cha em, bị lôi cuốn bởi những gì ông cho là sự vượt trội của Don Fernando so với chàng, đã ưu ái cuộc hôn nhân ấy một cách nồng nhiệt đến mức chỉ hai ngày nữa lễ đính hôn sẽ diễn ra thật kín đáo và riêng tư đến nỗi những nhân chứng duy nhất chỉ có Thiên Chúa trên cao và một vài người trong gia đình. Chàng hãy tự hình dung lấy tình trạng hiện tại của em; hãy phán xem việc chàng đến có phải là điều cấp bách hay không; kết cục của sự việc sẽ cho chàng thấy em có yêu chàng hay không. Nguyện xin Chúa chúa tể khiến bức thư này đến tay chàng trước khi tay em bị ép buộc phải gắn kết với kẻ giữ lời hứa quá ư tồi tệ ấy.

Tóm lại, đó là những lời trong bức thư, những lời đã khiến tôi lên đường ngay lập tức chẳng thèm chờ đợi thêm câu trả lời hay tiền nong gì nữa; bởi lúc này tôi đã nhìn thấy rõ ràng rằng không phải việc mua ngựa mà chính sự thỏa mãn tư tâm của bản thân mới là thứ khiến Don Fernando đày đọa tôi đến chỗ người anh của hắn. Sự tức giận sôi sục mà tôi cảm thấy đối với Don Fernando, kết hợp cùng nỗi sợ mất đi phần thưởng mà tôi đã giành được bằng ngần ấy năm yêu thương và tận tụy, đã chắp cho tôi đôi cánh; thế nên gần như bay lượn, tôi đã về đến nhà ngay trong ngày hôm đó, đúng vào khung giờ quen thuộc dùng để trò chuyện với Luscinda. Tôi đến nơi mà không bị ai phát hiện, để con la mà mình vừa cưỡi lại nhà của người đàn ông tốt bụng đã mang thư cho tôi, và vận may thật lòng nhân từ khi cho phép tôi tìm thấy Luscinda ngay bên khung cửa sổ chấn song vốn là nhân chứng cho tình yêu của chúng tôi. Nàng nhận ra tôi ngay lập tức, và tôi cũng nhận ra nàng, nhưng không phải theo cách mà nàng nên nhận ra tôi, hay tôi nên nhận ra nàng. Thế nhưng trên đời này có ai dám vỗ ngực tự khoe rằng đã thấu hiểu hoặc nắm bắt được tâm trạng dao động và bản tính bất định của phụ nữ? Thật sự là không có ai. Để tiếp tục câu chuyện: ngay khi Luscinda nhìn thấy tôi, nàng liền nói: ‘Cardenio, em đang khoác trên mình chiếc váy cưới, và tên Don Fernando xảo trá cùng người cha tham lam của em đang chờ đợi em ở sảnh đường cùng với những nhân chứng khác, những kẻ sẽ chứng kiến cái chết của em trước khi họ kịp chứng kiến lễ đính hôn của em. Chàng đừng đau buồn, hỡi người bạn của em, hãy tìm cách có mặt tại buổi hiến tế này, và nếu điều đó không thể ngăn cản bằng lời nói của em, em đã giấu sẵn một con dao găm để ngăn chặn bạo lực bạo tợn hơn, chấm dứt cuộc đời em và trao cho chàng bằng chứng đầu tiên về tình yêu mà em đã và đang dành cho chàng.’ Tôi bấn loạn và vội vã đáp lại nàng, vì sợ rằng mình không còn đủ thời gian để trả lời: ‘Nguyện mong những lời nói của nàng được chứng thực bằng hành động, thưa tiểu thư; và nếu nàng có dao găm để bảo vệ danh dự của mình, tôi có thanh kiếm để bảo vệ nàng hoặc tự đoạt mạng chính mình nếu vận mệnh chống lại chúng ta.’

Tôi nghĩ nàng đã không thể nghe hết tất cả những lời ấy, bởi tôi nhận ra người ta đang gọi nàng đi một cách vội vã, vì chú rể đang chờ đợi. Lúc ấy, đêm tối của nỗi buồn trong tôi buông xuống, mặt trời hạnh phúc của tôi lặn mất, tôi cảm thấy đôi mắt mình bị tước đoạt ánh sáng, tâm trí bị tước đoạt lý trí. Tôi không thể bước vào nhà, cũng chẳng đủ khả năng thực hiện bất kỳ cử động nào; nhưng nghĩ đến việc mình cần phải có mặt tại những gì có thể diễn ra trong dịp ấy quan trọng nhường nào, tôi liền cố gắng lấy hết can đảm bước vào, bởi tôi biết rất rõ mọi lối vào ra; hơn nữa, giữa sự hỗn loạn bao trùm toàn bộ ngôi nhà một cách bí mật, chẳng ai chú ý đến tôi cả, thế nên mà không bị ai phát hiện, tôi đã tìm được cơ hội nấp vào hốc tường do một khung cửa sổ ở ngay sảnh đường tạo ra, được che khuất bởi mép và diềm của hai bức thảm treo tường, từ giữa các khe hở đó, tôi có thể quan sát mọi thứ diễn ra trong căn phòng mà không bị ai nhìn thấy. Ai có thể miêu tả nổi sự bồn chồn trong tim tôi lúc đứng ở nơi đó – những suy nghĩ xuất hiện trong đầu tôi – những ngẫm nghĩ lướt qua tâm trí tôi? Chúng là những thứ không thể, và cũng không nên được kể ra. Chỉ cần nói rằng chú rể bước vào sảnh đường trong bộ trang phục thường ngày, không có bất kỳ đồ trang trí nào; đi cùng với hắn trong vai trò phù rể là một người họ hàng của Luscinda, và ngoài những người hầu trong nhà thì chẳng còn ai khác trong căn phòng. Chẳng bao lâu sau, Luscinda bước ra từ căn phòng nhỏ bên cạnh, được mẹ nàng và hai nữ tì tháp tùng, ăn vận và trang hoàng lộng lẫy xứng tầm với địa vị và sắc đẹp của nàng, trong bộ trang phục đại lễ đầy tính nghi thức. Sự lo lắng và tâm trí bấn loạn không cho phép tôi quan sát hay chú ý kỹ những gì nàng mặc; tôi chỉ có thể nhận ra màu sắc, đó là đỏ thắm và trắng, cùng ánh lấp lánh của những viên ngọc trai và châu báu trên khăn trùm đầu và y phục, bị lu mờ trước vẻ đẹp hiếm có của mái tóc hạt dẻ đáng yêu của nàng, thứ đang đua tranh với những viên đá quý và ánh sáng từ bốn ngọn đuốc đặt trong sảnh đường, tỏa ra thứ ánh sáng rực rỡ hơn tất thảy. Ồ ký ức, kẻ thù truyền kiếp của sự bình yên trong tôi! Cớ sao bây giờ ngươi lại gợi nhắc về vẻ đẹp vô song của kẻ thù đáng yêu ấy trước mắt tôi? Chẳng phải sẽ tốt hơn sao, hỡi ký ức tàn nhẫn, nếu ngươi nhắc nhở và gợi lại những gì nàng đã làm khi ấy, để bị kích động bởi một sự bất công quá đỗi phơi bày, tôi có thể tìm cách, nếu không phải là báo thù lúc này, thì ít nhất là rũ bỏ cuộc đời mình? Xin các ngài đừng chán nản khi lắng nghe những lời lan man này; nỗi buồn của tôi không phải là thứ có thể hay nên được kể lại một cách ngắn gọn và vắn tắt, bởi đối với tôi mỗi sự việc dường như đều đòi hỏi rất nhiều lời lẽ.”

Đáp lại điều đó, thầy phó tế bày tỏ rằng không những họ không cảm thấy mệt mỏi khi lắng nghe hắn, mà những chi tiết hắn vừa kể còn thu hút sự quan tâm sâu sắc của họ, vốn là kiểu nội dung không thể bỏ sót và hoàn toàn xứng đáng nhận được sự chú ý y như câu chuyện chính.

“Để tiếp tục câu chuyện,” Cardenio tiếp lời: “khi tất cả đã tề tựu đông đủ trong sảnh đường, vị linh mục của giáo xứ bước vào, và khi ông cầm tay đôi uyên ương để cử hành nghi lễ cần thiết, đến những lời: ‘Thưa phu nhân Luscinda, ngài có đồng ý nhận ngài Don Fernando hiện diện nơi đây làm người chồng hợp pháp của mình, như Giáo hội Mẹ thánh đã định luật hay không?’ Tôi liền ló đầu và cổ ra từ giữa những tấm thảm treo tường, với đôi tai ngóng chờ và trái tim đập thình thịch, căng thẳng lắng nghe câu trả lời của Luscinda, chờ đợi trong câu trả lời ấy bản án tử hình hoặc đặc ân ban phát sự sống. Ôi,á chao ôi, ước gì lúc đó tôi dám lao ra ngoài và gào thét thật lớn: ‘Luscinda, Luscinda! Hãy cẩn trọng với những gì nàng đang làm; hãy nhớ đến những gì nàng nợ tôi; hãy tự nhủ rằng nàng là của tôi và không thể thuộc về kẻ khác; hãy suy ngẫm rằng từ “Có” mà nàng thốt ra và cái chết của tôi sẽ diễn ra cùng một khoảnh khắc! Ồ, tên Don Fernando phản trắc! Kẻ cướp đi vinh quang của tôi, kẻ đoạt mạng sống của tôi! Ngươi tìm kiếm điều gì? Hãy nhớ rằng ngươi không thể đạt được mục đích của mong ước với tư cách là một tín đồ Cơ Đốc, bởi Luscinda là vợ đính ước của tôi, và tôi là chồng của nàng!’ Tôi thật là kẻ ngốc! Giờ đây khi đã ở nơi xa xôi và ngoài vòng nguy hiểm, tôi lại lớn tiếng bảo rằng mình đáng ra phải làm những điều đã không làm: giờ đây khi đã để mặc báu vật quý giá bị cướp đi, tôi lại đi nguyền rủa kẻ cướp, kẻ mà tôi hoàn toàn có thể trả thù nếu như tôi có đủ can đảm cho việc đó nhiều như can đảm để than khóc cho số phận của mình; tóm lại, vì lúc ấy tôi là một kẻ hèn nhát và ngu ngốc, nên chẳng có gì lạ nếu giờ đây tôi đang chết dần trong sự hổ thẹn, dằn vặt và điên loạn.

Vị linh mục đứng đợi câu trả lời của Luscinda, người đã kìm nén nó trong một khoảng thời gian dài; và ngay khi tôi tưởng rằng nàng đang rút con dao găm ra để bảo vệ danh dự của mình, hoặc đang cố gắng thốt lên những lời để tuyên bố sự thật về phần tôi, tôi nghe nàng cất giọng yếu ớt và thều thào đáp: ‘Em đồng ý.’ Don Fernando cũng nói tương tự, và khi trao cho nàng chiếc nhẫn, họ đã gắn kết với nhau bằng một nút thắt chẳng thể nào tháo gỡ. Chú rể sau đó bước tới để ôm lấy cô dâu; và nàng, đặt tay lên ngực, ngất lịm đi trong vòng tay mẹ. Giờ đây tôi chỉ còn phải kể cho các ngài nghe tình trạng của tôi khi chứng kiến toàn bộ hy vọng bị chế giễu qua lời đồng ý ấy, khi thấy những lời hứa hẹn của Luscinda chỉ là giả dối, và việc lấy lại món bảo vật vừa bị tước đoạt vĩnh viễn không còn khả năng thành hiện thực. Tôi đứng chết trân, hoàn toàn bị bỏ rơi, dường như bị Thiên Chúa chối từ, bị tuyên án là kẻ thù của mặt đất đã sinh ra tôi, không khí từ chối ban hơi thở cho những tiếng thở dài của tôi, nước từ chối cung cấp độ ẩm cho những giọt nước mắt của tôi; chỉ có ngọn lửa là bùng lên mạnh mẽ khiến toàn thân tôi nóng bừng trong sự phẫn nộ và ghen tuông. Tất cả đều hoảng loạn trước cơn ngất xỉu của Luscinda, và khi mẹ nàng đang cởi bớt dây áo để cho nàng thoáng khí, một tờ giấy niêm phong đã được phát hiện giấu trong ngực áo, khiến Don Fernando lập tức chộp lấy và bắt đầu đọc dưới ánh sáng của một ngọn đuốc. Vừa đọc xong, hắn liền ngồiụp xuống chiếc ghế bành, chống cằm lên tay trong tư thế của một kẻ chìm đắm trong suy ngẫm, chẳng màng nhúng tay vào những nỗ lực đang được thực hiện nhằm cứu cô dâu tỉnh lại sau cơn ngất.

Chứng kiến toàn bộ người trong nhà đang nhốn nháo hỗn loạn, tôi liều lĩnh bước ra ngoài chẳng màng đến việc có bị ai nhìn thấy hay không, và tự quyết định rằng nếu bị phát hiện, tôi sẽ làm một hành động điên cuồng nào đó để chứng minh cho toàn thế giới thấy sự phẫn nộ chính đáng đang sôi sục trong ngực mình nhằm trừng trị tên Don Fernando phản trắc, thậm chí cả mụ cô dâu bội bạc ngất xỉu kia nữa. Nhưng định mệnh của tôi, chắc chắn là đang dành dụm tôi cho những đau khổ lớn lao hơn, nếu có thể có những đau khổ như thế, đã an sắp xếp để đúng lúc ấy tôi vẫn còn giữ lại vừa đủ, thậm chí là dư dả phần lý trí vốn đã thiếu vắng ở tôi từ dạo đó; thế nên, thay vì tìm cách trả thù những kẻ thù lớn nhất của mình (điều mà lẽ ra có thể thực hiện dễ dàng biết bao, khi mà mọi ý nghĩ về tôi đều đã hoàn toàn vắng bóng trong tâm trí họ), tôi quyết định trút nó lên chính mình, tự tay giáng xuống bản thân nỗi đau đớn mà họ đáng phải chịu đựng, có lẽ còn dữ dội và nghiêm trọng hơn cả những gì tôi dành cho họ nếu lúc ấy tôi đã tước đoạt mạng sống của chúng; bởi nỗi đau đến bất ngờ rồi sẽ mau qua đi, nhưng nỗi đau bị kéo dài bởi sự tra tấn mới là thứ cứ mãi giết chết mà chẳng bao giờ chấm dứt sự sống. Tóm lại, tôi rời khỏi ngôi nhà và đi đến chỗ của người đàn ông đã giữ con la hộ tôi; tôi bảo hắn yên cương lại cho tôi, leo lên lưng con la chẳng thèm nói lời từ biệt, rồi phi ngựa rời khỏi thành phố hệt như một Lot thứ hai, chẳng dám quay đầu nhìn lại phía sau; và khi thấy mình cô độc giữa vùng đồng bằng mở rộng, được che chở bởi bóng tối màn đêm, bị sự tĩnh lặng thôi thúc trút bỏ nỗi buồn mà không phải lo sợ hay e dè bị ai nghe thấy hay nhìn thấy, lúc đó tôi mới phá vỡ sự im lặng, cất cao tiếng nói nguyền rủa Luscinda và Don Fernando, tựa hồ như thế tôi có thể trả thù được tội ác mà họ đã gây ra. Tôi gọi nàng là kẻ tàn nhẫn, vô ơn, giả dối, vong ân bội nghĩa, nhưng hơn hết thảy là kẻ tham lam, bởi sự giàu có của kẻ thù đã làm mờ mắt tình cảm của nàng, bẻ lái nó rời xa tôi để trao tận tay kẻ mà vận mệnh tỏ ra hào phóng và rộng lượng hơn. Thế nhưng, giữa cơn bùng nổ của sự nguyền rủa và trách móc ấy, tôi vẫn tìm thấy những lời biện hộ cho nàng, tự nhủ rằng chẳng có gì là lạ khi một thiếu nữ trẻ tuổi sống trong chốn khuê phòng dưới sự bảo bọc của cha mẹ, được uốn nắn và dạy dỗ để luôn luôn tuân lệnh họ, lại sẵn sàng nhượng bộ trước mong muốn của họ khi họ gả cho nàng một nhà quý tộc quá đỗi xuất chúng, giàu có và cao quý đến mức nếu nàng từ chối chấp nhận thì sẽ bị coi là mất trí, hoặc đã trao trọn tình cảm cho một chốn nào đó khác – một sự nghi ngờ gây tổn hại nghiêm trọng đến thanh danh và danh tiếng của nàng. Nhưng rồi nghĩ lại, tôi tự nhủ, giá như nàng tuyên bố tôi là chồng nàng, họ sẽ thấy rằng khi chọn tôi, nàng đã chẳng chọn lầm để họ có thể tha thứ, bởi trước khi Don Fernando ngỏ lời, chính bản thân họ nếu có những ước muốn được dẫn dắt bởi lý lẽ thì cũng chẳng thể mong mỏi một người chồng nào khả dĩ hơn tôi cho con gái của họ; và nàng, trước khi bước bước đi định mệnh cuối cùng là trao đi bàn tay mình, hoàn toàn có thể dễ dàng nói rằng tôi đã trao tay tôi cho nàng từ trước, vì tôi sẽ luôn sẵn sàng đứng ra xác nhận bất kỳ lời khẳng định nào của nàng theo chiều hướng đó. Tóm lại, tôi đi đến kết luận rằng tình yêu mong manh, sự suy xét ít ỏi, tham vọng to lớn cùng khát vọng về địa vị đã khiến nàng quên mất những lời thề nguyền mà nàng từng dùng để lừa dối tôi, vốn được khích lệ và hậu thuẫn bởi những hy vọng vững chắc cùng niềm đam mê danh dự của tôi.

Cứ thế độc thoại và chìm đắm trong sự bấn loạn, tôi tiếp tục hành trình suốt phần đêm còn lại, và đến rạng sáng thì tới được một trong những ngọn đèo của dãy núi này, nơi tôi lang thang suốt ba ngày liền chẳng theo lối mòn hay con đường nào, cho đến khi đến được một vài thung lũng nằm ở sườn núi nào đó mà tôi chẳng rõ, và ở đó tôi hỏi thăm một vài kẻ chăn gia súc xem hướng nào là vùng hiểm trở nhất của dãy núi. Họ bảo rằng nó nằm ở hướng này, và tôi lập tức hướng thẳng bước chân về đây với ý định kết liễu đời mình tại chốn này; nhưng khi tôi đang luồn lách qua những mỏm đá tai mèo ấy, con la của tôi ngã lăn ra chết vì kiệt sức và đói khát, hoặc như tôi nghĩ là nhiều khả năng hơn, để rũ bỏ gánh nặng vô tích sự mang tên tôi trên lưng nó. Tôi bị bỏ lại một mình bước đi bằng chân trần, kiệt quệ, chết đói, chẳng có lấy một ai giúp đỡ hay mảy may ý định tìm kiếm sự giúp đỡ; và thế là tôi cứ nằm vật xuống đất như thế trong một khoảng thời gian chẳng rõ là bao lâu, sau đó tôi chập chững đứng dậy, hoàn toàn thấy mình đã hết đói, và nhìn sang bên cạnh thì thấy một vài gã chăn dê, chắc chắn họ chính là những người đã cứu giúp tôi trong cơn hoạn nạn, bởi họ kể cho tôi nghe cách họ tìm thấy tôi, và cách tôi lảm nhảm những lời điên rồ phơi bày rõ ràng rằng tôi đã mất đi lý trí; và kể từ dạo đó tôi nhận thức được rằng bản thân mình không phải lúc nào cũng hoàn toàn tỉnh táo, mà thỉnh thoảng lại bấn loạn và quẫn trí đến mức làm hàng ngàn trò điên rồ, xé rách quần áo, gào thét giữa chốn thung lũng hoang vắng này, nguyền rủa số phận và vô ích gọi tên người vốn là kẻ thù của mình, chỉ chực chờ kết liễu cuộc đời trong những tiếng than khóc; và khi tỉnh táo trở lại, tôi thấy mình kiệt sức và rã rời đến mức gần như chẳng thể nhúc nhích nổi. Nơi cư trú thường nhật của tôi là phần rỗng bên trong của một thân cây sồi bần đủ lớn để che chở cho thể xác khốn khổ này; những kẻ chăn cừu và chăn dê hay lui tới chốn núi non này, động lòng trắc ẩn, thường cung cấp thức ăn cho tôi, để chúng dọc bên vệ đường hoặc trên các mỏm đá nơi họ nghĩ có lẽ tôi sẽ đi qua và tìm thấy; và cứ thế, dẫu cho lúc ấy tôi có đang mất trí đi chăng nữa, bản năng sinh tồn tự nhiên vẫn dạy cho tôi biết những gì cần thiết để duy trì sự sống, khiến tôi khao khát chúng và háo hức đón nhận. Những lúc khác, như họ kể lại với tôi khi bắt gặp tôi ở trạng thái tỉnh táo, tôi lao ra đường cái, và dẫu họ sẵn lòng dâng hiến, tôi vẫn cướp giật thức ăn bằng vũ lực từ tay những người chăn cừu đang mang đồ ăn từ làng về lều của họ. Cứ thế tôi qua quãng đời khốn khổ còn lại của mình, cho đến khi Thiên Chúa định đoạt chấm dứt nó, hoặc an sắp trí nhớ của tôi sao cho tôi không còn nhớ đến sắc đẹp và sự phản trắc của Luscinda, hay sự bất công mà Don Fernando đã gây ra cho tôi nữa; bởi nếu điều đó xảy ra mà không tước đoạt mạng sống của tôi, tôi sẽ xoay chuyển suy nghĩ của mình sang một hướng đi tốt đẹp hơn; bằng không, tôi chỉ có thể nài xin Người rủ lòng thương xót trọn vẹn cho linh hồn tôi, vì tự bản thân tôi chẳng cảm thấy chút sức mạnh hay năng lực nào để giải cứu thể xác khỏi tình cảnh ngặt nghèo mà tôi đã tự nguyện chọn lựa dấn thân vào.

Thưa các ngài, đó là câu chuyện ảm đạm về bất hạnh của tôi: hãy thử nói xem liệu nó có phải là thứ có thể được kể lại với ít cảm xúc hơn những gì các ngài vừa chứng kiến ở tôi hay không; và xin đừng bận tâm ép uổng hay nài nỉ tôi những điều mà lý lẽ gợi ý dường như có ích cho việc xoa dịu tôi, bởi nó sẽ vô dụng hệt như liều thuốc do một vị lương y kê đơn cho người bệnh kiên quyết từ chối uống vậy. Tôi không có chút mong muốn nào về sự bình phục nếu thiếu vắng Luscinda; và vì đó là niềm vui của nàng khi thuộc về kẻ khác, trong khi lẽ ra nàng là hoặc phải là của tôi, thì hãy để tôi trở thành con mồi của sự khốn khổ trong khi đáng lẽ tôi có thể tận hưởng hạnh phúc. Bằng sự bất định của mình, nàng đã cố gắng đẩy sự hủy hoại của tôi đến bờ vực không thể vãn hồi; tôi sẽ cố gắng thỏa mãn mong muốn của nàng bằng cách tự tìm kiếm sự diệt vong; và điều đó sẽ cho các thế hệ mai sau thấy rằng chỉ có một mình tôi là kẻ bị tước đoạt thứ mà tất cả những kẻ bất hạnh khác đều có thừa thãi, bởi đối với họ, sự bất khả thi trong việc được an bản thân nó đã là một sự an ủi, trong khi đối với tôi, nó lại là nguyên nhân gây ra những nỗi buồn và đớn đau lớn hơn, bởi tôi nghĩ rằng ngay cả trong cái chết cũng chẳng có sự chấm dứt dành cho chúng.”

Đến đây, Cardenio khép lại bài diễn thuyết dài dòng và câu chuyện đầy ắp bất hạnh cũng như tình yêu của mình; nhưng ngay khi thầy phó tế chuẩn bị cất lời an ủi hắn, ông đã bị chặn lại bởi một giọng nói vang vọng đến tai, cất lên những giai điệu u sầu sẽ được kể lại trong Phần Bốn của bản tường thuật này; bởi tại thời điểm này, vị sử gia uyên bác và khôn ngoan Cid Hamete Benengeli đã khép lại Phần Ba.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.