Đã gần sáu giờ chiều, thời gian quy định quay về chỗ hẹn còn rất ít, nên anh quyết định rẽ vào nhà kho nhựa thông bỏ hoang cách độ hai kilômét chếch về phía nam. Từ sáng sớm anh muốn đến đây, có lẽ vì, ở giữa rừng hoặc bãi hoang mà lại có một căn nhà đơn độc như vậy thường vẫn lôi cuốn sự chú ý của mọi người.
Từ xa đã cảm thấy mùi xác chết. Khi người ta đang quen hít thở hơi nắng ấm thoang thoảng mùi nhựa thông mà đi vào một nơi sặc mùi xác chết thối rữa thì quả là không chịu nổi. Nấp sau bụi cây, anh im lặng lắng nghe và quan sát khu rừng thưa có con suối nhỏ chảy qua và những mảnh tường còn lại của căn nhà kho bỏ hoang. Căn nhà làm bằng những cây gỗ ghép phía bên phải anh đã bị phá hủy và một đôi chỗ bị cháy xém. Một ống khói nhô lên trên lò nấu nhựa còn vướng lại chiếc chảo nấu bị vỡ gắn liền vào lò. Quan sát kỹ, anh xác định cảnh tan hoang này không phải là mới xảy ra gần đây, khi mặt trận diễn ra ở vùng này mà phải từ trước chiến tranh, vì các dấu vết căn nhà cũng như lò nấu đã bị rêu và cỏ phủ đầy.
Bên trái, gần Tamantsev hơn, là một căn nhà gạch một tầng không mái và chẳng còn rui mè gì, chỉ còn mấy bức tường trên nền đá xây cao vững chãi. Anh chú ý đến các khung cửa sổ, hay đúng hơn, chú ý đến những vết đạn dày đặc dưới chân tường. Rõ ràng là ở đây, cách đây không lâu, đã diễn ra cuộc đấu súng. Qua các vết đạn trên thân cây và những cành cây bị đạn tiện gãy gục, anh ước đoán là cuộc bắn nhau đó chỉ mới cách đây độ tám đến mười ngày là cùng.
Trong cảnh im lặng nặng nề và sặc mùi hôi thối anh thoáng nghe tiếng suối róc rách và tiếng chim hót nhẹ nhàng, nhưng Tamantsev vẫn chưa tìm được những dấu vết gần đây nhất của con người.
Luồn dưới những bụi cây rậm, anh đi về bên trái, và cách mấy mảng tường độ mười mét – ngay chỗ góc giữa tường với thềm nhà, anh phát hiện thấy xác một tên lính Đức đã thâm đen, mặt méo xệch. Trên mặt nó, hay đúng hơn trên đỉnh sọ, bị vết chém lòi cả xương, một con quạ khoang đang đậu bất động, chiếc mỏ đen khoằm của nó ngậm một miếng gì đó. Quả là một mâm cỗ thịnh soạn không còn chê vào đâu được.
Chuyển khẩu súng lục từ túi sau ra túi quần cạnh. Tamantsev nhảy tót qua bậc thềm vào nhà. Thấy có người, con quạ hốt hoảng miễn cưỡng bay lên và khi anh vào trong nhà thì hàng chục con quạ khác hốt hoảng bay vù qua các khung cửa sổ và kêu quang quác.
Trên nền đất đen xạm đầy những rác rưởi các loại, ngổn ngang những vỏ đó hộp, những mảnh vôi vữa, gạch vụn và vỏ đạn súng tự động các loại, anh thấy có bảy xác chết Đức nằm theo các kiểu khác nhau. Ủng và thất lưng da đã nát. Mặt và tay chân chúng đã bị rữa vì quả rỉa. Hai tên không còn áo ngoài, một tên không còn quần dài. Hàng ngàn ruồi, nhặng xanh xúm xít bâu quanh những xác chết.
Gian bên cạnh bé hơn, cũng có bốn xác nằm cạnh cửa sổ, bị cháy xém và cũng đã bị quạ rỉa.
Quan sát quân phục bọn khốn nạn này, anh thấy một tên bận quần màu sẫm của lính xe tăng, sáu tên quân phục SS, bọn còn lại bận quần áo bộ binh màu xám. Qua hàng ngàn vỏ đạn các loại súng tự động dồn thành đống trên nền nhà, cạnh cửa sổ, qua những vết đạn nham nhở trên mấy bức tường và vị trí nằm của các xác chết, anh hình dung được trận đánh như sau: bọn Đức đã bố trí phòng ngự vòng cung và bắn rất ác liệt, nhưng tất cả bọn chúng đều đã bị diệt. Chúng đã bị giết vì đạn trung liên và lựu đạn từ ngoài ném vào.
Căn cứ vào khí hậu ở vùng này cũng như vết máu trên nền nhà, màu sắc các xác chết, Tamantsev xác định trận đánh đã xảy ra khoảng từ năm đến bảy ngày chứ không thể ít hơn được.
Anh vẫn phải hít thở mùi hôi thối không thể chịu nổi đó và rất vui sướng nếu được thoát khỏi nơi đây, chạy thẳng một mạch thật xa vào rừng, nhưng, nếu đã chót đến đây thì cứ phải tiếp tục xem xét toàn bộ ngôi nhà hoang này xem sao.
Anh bước sang gian bên trái và lại thấy thêm hai xác lính SS nữa nằm sóng soài ngay cạnh cửa sổ – một xác lớn và một xác bé hơn. Và khi dừng mắt nhìn kỹ hơn cái xác bé, Tamantsev xác định ngay đó là xác một phụ nữ.
Xác này nằm sấp, mặc quần SS và áo sĩ quan hiến binh, không quân hàm. Anh nhổ bọt tỏ vẻ kinh tởm và ngay khoảnh khắc đó, qua góc ánh mắt nhìn ra ngoài, anh thấy phía ven quãng rừng thưa đối diện ngay với cửa sổ, một bụi cây lay động. Theo quán tính, anh cúi ngay xuống và, đúng lúc đó, một loạt đạn tiểu liên xé không khí rít lên ngay trên đầu anh. Tỳ ngay nòng súng lục trên bục cửa sổ, anh bắn liền hai phát không cần ngắm, vào bụi cây vừa lay động. Bắn xong, nhanh như chớp, anh lao người vào góc tường, lợi dụng bức tường chắn sau lưng và để phòng trường hợp từ ngoài chúng ném lựu đạn vào. Chúng bao nhiêu và chúng là ai?! Theo tiếng nổ thì đúng là tiểu liên Đức. Với hai súng lục trong tay và mấy băng đạn dự trữ, anh sẽ trụ được với chúng nó! Anh chờ tiếng nói, tiếng hô hạ lệnh và chờ chúng tấn công vào đây, nhưng anh chỉ vắng nghe tiếng chân bước trên lá khô và, lại là bước chân xa dần.
Rõ ràng chúng nó ít nên không dám mạo hiểm. Anh luồn giữa các xác chết ra cửa, quan sát và trong nháy mắt đã nấp gọn trong lùm cây phía đối diện. Không có ai bắn nữa và nói chung chả còn tiếng động, không có cả tiếng chân đi. Anh nằm im lắng nghe, chờ đợi khoảng một phút, rồi cầm sẵn súng lục đề phòng, cúi người chạy qua lùm cây thưa, tới chỗ bụi cây bọn biệt kích vừa nấp bắn anh. Dưới gốc cây, trên mặt có lăn lóc đấy vỏ đạn tiểu liên, nhưng không phải vỏ đạn mới hôm nay, vì đã xỉn màu. Anh nhìn quanh một lúc liền phát hiện thấy bốn vỏ đạn ở một góc và cách đây vài bước, một nhóm năm vỏ đạn tiểu liên Đức, còn mới nguyên. Tìm kiếm thêm một lúc, anh phát hiện thêm những vệt máu kéo vào trong rừng sâu. Những vệt máu đọng trên lá kéo một đường dài về hướng tên bị thương rút lui, chúng đã kịp trốn sâu vào rừng.
Quan sát một lúc, anh đã có thể khẳng định được là bọn chúng chỉ có hai tên và dùng tiểu liên Đức, một tên ăn đạn của anh đã bị thương nên chúng đành phải trốn vào rừng không còn dám nghĩ đến chuyện giết hoặc bắt sống anh nữa. Chắc là anh đã gặp được những tên tàn binh Đức hoặc cũng có thể là bọn biệt kích AK đã mất hồn và đang mò mẫm chạy trốn.
Ngay lúc đó anh đã định đuổi theo chúng và nhất định đuổi kịp, nhưng nhìn đồng hồ anh thấy đã muộn rồi. Mặt trời đã lặn sát chân trời. Bóng tối đang vội vã trùm xuống. Nếu cứ cố truy tìm một nhóm vài tên hoặc thậm chí chỉ một tên địch lần trốn trong khu rừng rậm trong lúc tranh tối tranh sáng này, thật quả hết sức khó khăn và thực tế không thể làm được.
Anh quay lại phía cửa rừng, trở về làng Shilovychi, vừa đi vừa suy nghĩ về những điều vừa xảy ra và tự rủa thầm mình. Thật tình anh không biết được chúng đã đến gần anh. Thế tức là bọn chúng đã phục ở đây từ trước, chúng đã phát hiện ra anh, còn anh thì không hay biết gì về chúng cả. “Ngốc quá!.. Xuẩn thật!.. Quỷ không sừng!...”