Khi trời sáng, chúng tôi lại nấp trên trần nhà; tôi phân công Luzhnov quan sát đến mười hai giờ trưa, và sau đó, đánh thức tôi dậy.
Trong giấc ngủ chập chờn tôi lại nhớ tới mẹ tôi. Chả hiểu đây là lần thứ mấy rồi.
Tôi không biết mộ mẹ tôi ở đâu và nói chung, mẹ tôi có được chôn cất tử tế không. Tôi cũng không còn bức ảnh nào của bà, quả là, tôi không còn hình dung được thật rõ nét hình ảnh mẹ tôi. Trong cơn mê, tôi thường thấy mẹ tôi. Tôi thấy rõ cả những nếp nhăn hằn sâu trên trán và vết sẹo ở môi trên. Tôi khao khát thấy mẹ tôi cười, nhưng bà chỉ khóc. Bà nhỏ bé, gầy gò. Bà nức nở khóc, run run lấy khăn thấm nước mắt, rồi lại khóc. Mẹ tôi khóc như lúc tiễn tôi, lúc bấy giờ còn bé, ở bến cảng khi tôi theo một chiếc tàu thủy đi xa trên biển và, giống như lần cuối cùng ở nhà ga, trước chiến tranh, khi bà tiễn tôi lên đường ra biên giới sau thời gian nghỉ phép thăm nhà.
Có lẽ ngôi nhà gỗ của chúng tôi ở Novorossiysk không còn nguyên vẹn nữa và có khi mất cả nên rồi và, – quả là đáng sợ khi nghĩ đến điều này – cả ngôi mộ của mẹ tôi cũng không còn nữa, không còn gì hết, cả những bức ảnh thân yêu của bà... Mẹ tôi đã sống một cuộc đời không vui, cô độc và với tôi bà cũng phải chịu nỗi đau khổ nữa... Giờ đây tôi thương nhớ mẹ tôi da diết, nhưng tôi không làm sao gặp lại con người kính yêu đó nữa!..
Tôi cứ chập chờn nghĩ về mẹ tôi, về Leshka Basos. Tôi hình dung mãi mà vẫn không tái hiện nổi một cách rõ rệt những khuôn mặt thân thương ấy...
Thật là những giấc mơ nặng nề...
Tôi thay Luzhnov vào lúc mười hai giờ trưa. Theo như anh báo cáo lại thì từ sáng đến giờ chả có gì đặc biệt xảy ra cả.
Báo cáo của anh chỉ vẻn vẹn có một câu: “Trong thời gian tôi theo dõi, quan sát, mục tiêu của ta không đi đâu cả, và cũng không có ai đến gặp hoặc tiếp xúc với ai cả”. Nếu như anh là một con người có kinh nghiệm thì tôi sẽ đồng ý và bằng lòng với cái câu ngắn ngủi đó. Nhưng tôi đành phải dần dần gọi cho anh báo cáo lại chi tiết những điều anh nghe thấy từ sáng đến trưa.
Ngay từ đầu tôi đã bồi dưỡng cho anh ta và Fomchenko phương pháp quan sát, không được bỏ sót một tý hiện tượng nào và, có thể nói, trên đường đến đây, cứ mỗi bước đi, tôi lại nói cho họ hiểu rõ tính chất quan trọng trong nhiệm vụ của chúng tôi. Đối với những người được cử đến phối hợp hay phục vụ giúp đỡ, phải luôn luôn bồi dưỡng, nhắc nhủ họ còn bản thân mình phải tỏ ra nghiêm chỉnh và tin tưởng ở sự thành công của họ trong việc tham gia vào các chiến dịch như thế này...
Tôi dùng ống nhòm quan sát mọi hành động của Svirid gần một tiếng.
Ông ta đang ngồi trước gian kho, đang đẽo chiếc vòng đai xe ngựa, tháo bộ yên phơi trên mái nhà và sau đó lại phơi tiếp bộ dây cương.
Nét mặt ông ta lúc nào cũng có vẻ cau có, bực dọc, giận dữ. Bà vợ thình thoảng lại đi ra, đi vào và có vẻ sợ lại gần ông chồng. Ông ta chẳng hé răng với vợ một lời nào và thậm chí chả thèm nhìn bà ta nữa, thế nhưng, bà ta vẫn không dám đi gần qua chỗ ông ta ngồi.
Ông ta làm luôn tay, có vẻ như không muốn để phí thì giờ. Ông nông dân chủ nhà này tỏ ra là một con người căn cơ. Cạnh nhà ông ta là hai đồng cỏ khô chất cao, vườn rau rộng có đến gần trăm mét, lúa má thu dọn xong và có lẽ ông ta còn gặt cả của nhà Pavlovsky vắng chủ. Đống củi bổ sẵn chất đầy dễ thường phải dùng hết mùa đông.
Qua lời của Pavel, tôi hiểu rằng, cũng như phần lớn các chủ ấp khác, Svirid đã gửi gia súc của mình cho bà con thân thích ở các làng quê trông hộ. Họ làm như vậy để khỏi bị tàn quân Đức cướp mất. Ở đây đàn gia súc của ông ta cũng không phải là ít: một con bò sữa, đôi lợn thịt, khoảng hơn chục con cừu và đàn ngỗng nữa.
Một việc hơi kỳ lạ là: Svirid đã có gặp chúng tôi để báo tin về tên Kazimir Pavlovsky, nhưng ngay từ đầu, tôi đã có cảm giác không thích cái ông già gù này rồi. Ba giờ chiều, lão vác chiếc cào và đi về phía Kamenka và sau đó bà vợ ôm một gói nhỏ chạy đến nhà cô em gái, giờ thì tôi có thể khẳng định được rằng, bà ta đã giấu chồng để làm việc đó. Khoảng mấy phút sau, đứa bé gái từ trong nhà ra sân, miệng ngấu nghiến gặm miếng bánh mì – rõ ràng là nhà cô bé không có bánh.
Tôi nhìn mãi cô bé gái qua ống nhòm. Tôi không biết bố em bé gái này là ai – một tên Đức nào hay Pavlovsky hay là kẻ nào khác. Có điều tôi thương em bé này quá, vì em có lỗi gì đâu. Em bé gái vẫn có vẻ khoái chí, đi đi lại lại trên sân, miệng nhai bánh mì thích thú...
Một điều đáng ngạc nhiên là mới lên hai tuổi, nhưng em bé đã có cái dáng nữ tính, ngộ nghĩnh, làm đốm, nhưng khi thấy em chơi tha thẩn một mình, nằm lăn trên cỏ, tôi cảm thấy mình cô độc và buồn buồn.
Và tôi bỗng cảm thấy đầu óc như choáng váng, vì rằng, hôm nay tôi đã tròn 25 tuổi!
Ngày vui của tôi, ngày sinh nhật, nhưng chả có gì để mà nói cả... Anh cứ việc ngồi im trên trần nhà đấy bụi bậm, cứ để cho muỗi, bọ chó nó cắn, còn anh thì cứ cắn răng lại mà chịu, anh bạn ạ... Anh cứ yên chỉ là ngồi như thế này không phải là vô ích đâu, đó mới là điểm chính...
Chà, thế mà đã sống được một phần tư thế kỷ, có thể nói là đã được nửa đời người rồi... Ở đây thời gian vẫn cứ bình thản trôi đi, anh bạn ạ, anh là ai vậy và anh ngồi đây làm gì?..
Người ta nói con người thường hài lòng với mình, nhưng không thỏa mãn với hoàn cảnh của chính mình. Thế mà tôi thì trái lại, rất hài lòng với công việc của mình, và cương vị đó hoàn toàn phù hợp với tôi... Người ta đã đánh giá tôi không đến nỗi tồi và đã tặng thưởng cho tôi chả kém gì các sĩ quan ở tiền tuyến. Vậy tôi còn thiếu cái gì nữa?!
Tôi tự hiểu rằng, thiếu trí khôn... Văn hóa xoàng xoàng, kiến thức chưa có là bao... Thôi được, đúng như En Phe đã có lần nói: rồi sẽ quen tất cả...