Kể từ khi bố anh mất ngày một tháng năm trước chiến tranh, thì hôm nay là một ngày nặng nề nhất trong đời anh.
Chiếc xe rời khỏi Cục liền rẽ qua bưu điện. Ở đây anh nhận được thư từ làng quê gửi cho và thư của Blinov, tuy nhiên anh chưa xác định được là ai gửi. Bức thư này đã làm anh băn khoăn.
Bà Fedosova, một nhân viên phòng thí nghiệm, đã làm việc cùng Alekhin trước chiến tranh tại trạm thí nghiệm hạt giống viết cho anh là trạm thí nghiệm giờ đây vắng vẻ quá. Xe máy không có mà cả công nhân cũng thiếu; hiện nay trạm do ông Koshelev, nguyên là chủ tịch xã Kichuy bị thương trở về, lãnh đạo. Alekhin có nhớ lại, nhưng không nhớ rõ ông ta là ai nữa. Ông ta không có kiến thức nông học lại hoàn toàn không biết gì về công việc, hơn nữa vì đau khổ hoặc vì bất lực mà ông ta sinh ra nghiện ngập.
Bà Fedosova báo rằng, dạo cuối tháng tư, tất cả hạt giống lúa mạch mới, mà qua chín năm trời Alekhin cùng các bạn anh đã bỏ bao công sức gieo trồng, chăm bón, chọn lọc mới được thì giờ đây, chả hiểu do sai lầm hoặc do dốt nát mà người ta đã ra lệnh đổ lẫn vào kho lúa chung.
Không phải người của mình, mà là mấy “cô gái thành thị” được cử đến đã cùng với người phụ trách được ủy quyền kia đổ chúng đi như một cơn lốc. Khi Fedosova biết và chạy đến thì họ đã đi hết, bà có vét mãi cũng chỉ được vài nắm các loại hạt giống thôi.
Bà ta còn cho biết vợ Alekhin – Lidasha, là cán bộ thí nghiệm, làm việc dưới quyền lãnh đạo của ông ta, nhưng ngay từ đầu đã không phục ông nên mùa đông vừa qua ông ta đã lờ đi không cung cấp củi cho cô và do đó, Nastenka, đứa con gái lên bốn của vợ chồng Alekhin đã bị ốm nặng và bị thấp khớp, cho đến tận bây giờ chân vẫn đau.
Đây quả là điều hoàn toàn bất ngờ đối với anh, vì chính Lidasha hầu như trong mỗi lá thư gửi cho anh đều viết là mọi việc đều tốt lành, anh cứ yên tâm, đừng lo lắng gì cho mẹ con ở nhà. Thế tức là, cô không muốn làm cho anh buồn rầu, lo lắng; vì cô ấy cho rằng, anh đang ở xa, ở mặt trận và nói chung anh không thể làm gì được nếu biết mọi sự thật.
Fedosova là một người đứng đắn, một phụ nữ chất phác, ít nói. Alekhin hiểu rằng, bà ta không cường điệu, phóng chuyện lên làm gì và có lẽ tìm được địa chỉ của anh nên đã viết thư này cho anh rõ mọi việc ở đây.
Những ý nghĩ về con gái dày vò trái tim anh. Và chưa bao giờ anh thấy căm giận đến thế trước việc bao nhiêu kinh nghiệm, bao công sức nghiên cứu trong suốt chín năm trời đã phút chốc trở nên vô ích. Anh cố tự an ủi mình, tự nhủ rằng, điều đó có lẽ là sự cần thiết khách quan và ở đây không còn cách nào khác, vì đang có chiến tranh. Một mặt, những hạt giống đó sẽ cho một loại lúa mạch quý vô giá, mặt khác có thể là, ở đâu đây vẫn có những người đang bị chết đói như ở Leningrad cách đây hai năm. Anh đã cố gắng, nhưng vẫn không thể thuyết phục được mình rằng, đây không phải là khuyết điểm, sai lầm mà có lẽ là do ý kiến của Nhà nước hoặc những ý kiến nào đó mà anh chưa hiểu nổi.
Còn vẫn đề củi thì đây là lỗi của vợ anh. Nếu cô ấy kịp thời biên thư cho anh thì có thể, anh sẽ tìm cách giúp đỡ được. Trong những trường hợp tương tự, Egorov có thể đề nghị các cơ quan hoặc bất cứ tổ chức nào đó can thiệp một cách tích cực và nhiệt tình vào việc này.
Mãi trên đường từ Vilnius trở về, người ta mới trao thư của bà Fedosova cho Alekhin. Đêm khuya hôm qua anh đã cùng với Polyakov đáp máy bay đến đây để ra chỉ thị cho sĩ quan các đơn vị đặc biệt và đơn vị trực thuộc đang tập trung sẵn sàng thực hiện kế hoạch bộ đội lùng sục. Trước lúc bay về, Egorov, sau khi chúc họ thắng lợi, đã nhắc những điều chính:
- Điều chủ yếu là tính bất ngờ và sự tin tưởng vào cuộc bao vây khi có sự chiến đấu đơn vị và chỉ huy của Bộ Tư lệnh quân quản mới được quyền biết là chiến dịch này do cơ quan phản gián điều khiển! Phải chỉ thị cho bộ đội biết là không được bỏ qua bất cứ một chi tiết nào, dù là nhỏ nhất. Tất cả các đồng chí phải trực tiếp xem xét và phân tích những hành động cần thiết trong mọi trường hợp và mọi tình huống!..
Qua hàng loạt các hiện tượng, trung tướng và Polyakov vẫn cho rằng, chiến dịch dùng bộ đội truy lùng là vô ích, nhưng khi đã có quyết định tiến hành thì nó phải được chuẩn bị chu đáo, kỹ càng nhất.
Polyakov đánh giá ý nghĩa lớn lao của việc bao vây khu rừng Shilovychi đồng bộ. 296 xe tải của mười hai đoàn xe được điều tới sẽ lần lượt cách nhau mấy phút một, tiến thẳng về khu rừng rậm theo từng trạm quy định và, sau đó sẽ làm thành một vòng tròn với những khoảng cách nhất định giữa các xe với nhau, dần khép vòng vây lại và tạo thành một vòng hẹp như kiểu vòng đua ngựa. Tiếp theo đó, sau khi nhận được ám hiệu quy định, cử năm xe có một điện đài đi theo, phải tạo nên một đường viền bao quanh khu rừng một cách thật vững chắc và khi đó mới được tung các nhóm truy lùng vào công việc.
Chấp hành chính xác kế hoạch do Polyakov vạch ra và khoảng cách quy định, bảo đảm liên lạc chặt chẽ và sự phối hợp hành động giữa các tuyến là đã bảo đảm sự thành công của cuộc bao vây và không cho một kẻ nào có thể thoát ra, chọc thủng hoặc cắt đứt một mắt nào trong đó.
Khi sắp kết thúc những chỉ thị ngắn gọn của mình mà tất cả những người có mặt đều chăm chú ghi chép, Polyakov nhấn mạnh tính chất quan trọng đặc biệt của chiến dịch sắp tới và trách nhiệm của từng người được vinh dự tham gia chiến dịch này, từ chỉ huy cao cấp đến người chiến sĩ thường.
Sau đó Alekhin hướng dẫn, giải thích kỹ những điều đặc biệt cần chú ý khi tìm kiếm trong rừng, các phương pháp chống mìn và hành động đối phó khi gặp và cần bắt giữ những kẻ lạ mặt trong rừng.
Không ai hỏi gì hơn. Các sĩ quan đơn vị bảo vệ hậu phương và các nhóm phối hợp phần lớn là những người đã công tác biên phòng có khá nhiều kinh nghiệm chiến đấu và có vẻ đã tham gia nhiều lần các chiến dịch quân sự. Và Alekhin nghĩ rằng, đối với họ cũng như đối với anh và Polyakov, trong giờ phút này tốt nhất là tranh thủ nghỉ ngơi chốc lát. Tuy nhiên, lệnh của Mátxcơva họ nhận được tới qua lại đòi hỏi phải hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể cho tất cả những người được điều động tham gia vào các biện pháp lùng sục nhóm “Neman”. Và Alekhin đã tận tâm trình bày về những cái mà có lẽ tất cả mọi người đều đã nghe, cũng như đã biết.
Anh cùng Polyakov từ Vilnius về tới Lida khi trời đã rạng.
Trong suốt ba năm làm công tác phản gián đến nay, Alekhin chưa hề thấy có cuộc lùng sục nào được huy động người và phương tiện với quy mô lớn như vậy và cũng chưa hề nghe thấy một cuộc huy động nào tương tự như thế này.
Bắt đầu từ hôm qua, trong khu vực mặt trận, từ tiền duyên đến sâu trong hậu phương đã bắt đầu thi hành chế độ kiểm tra nghiêm ngặt, gắt gao nhất.
Từ sáng sớm đã có tới trên bảy trăm tổ công tác hoạt động. Gần năm chục máy tìm phương vô tuyến làm việc suốt ngày đêm, kiểm tra bầu trời. Từ Đông Phổ và Ba-lan đến Vyazma, ở tất cả các khu dân cư và trên các ngả đường dẫn tới các khu này, ở tất cả các ga và trạm giao thông, trên các đoàn tàu và khu tập kết quân đội đều đã thực hiện việc kiểm tra giấy chứng minh, giấy công tác. Bắt đầu từ sáng sớm cũng đã thực hiện việc khám xét, chưa từng có, các hành lý cá nhân.
Suốt tối qua, sân bay Lida vẫn tiếp tục nhận các máy bay hạ cánh mang theo các nhóm sĩ quan và nhân viên phản gián từ các mặt trận khác tới bổ sung, chó săn và nhân viên huấn luyện chúng. Trong khu thành phố, vẫn như trước đây, tràn ngập người và xe cộ từ các Mặt trận Belarus I và II tới, sau khi đã cấp tốc chở các nhóm công tác của Bộ dân ủy nội vụ và đội vô tuyến lưu động hành quân qua hàng trăm kilômét tới đây.
Như vậy là suốt một ngày đêm vừa qua, tính tổng cộng các đơn vị bộ đội bảo vệ hậu phương của các mặt trận và Ban quân quản cử tới, cộng với bộ đội do các tập đoàn quân khác chi viện, trên toàn tuyến này có tới trên mười ngàn người tham gia vào chiến dịch chưa từng có, lùng sục bọn điệp viên vụ “Neman”.
Từ Mátxcơva hầu như cứ mười lăm phút một có điện thoại tới, không riêng của các thủ trưởng cao cấp mà cả các sĩ quan trực ban, sĩ quan lùng sục. Người ta hỏi đủ thứ tin tức khác nhau, báo tin xem người và phương tiện kỹ thuật bổ sung đã đến chưa và trước nhất báo tin về những số liệu mới; hầu như chúng dồn đến Lida này từng tin tức đấy ắp và vô tận. Người ta thông báo những mệnh lệnh và tình hình mới, trong đó có cả những chỉ thị hướng dẫn, những lời khuyên, những đề nghị, cho nên Polyakov đã phải kêu lên rằng: “chỉ là sự can thiệp vào chi tiết và chỉ là sự chỉ dẫn tủn mủn”.
Đến gần sáng thì sự căng thẳng đã lên tới cực độ. Những hồi chuông không ngớt từ Mátxcơva gọi đến làm cho không khí lúc này ở trong phòng dễ làm người ta nổi cáu. Theo lệnh Polyakov, hai chiếc máy vô tuyến điện thoại cao tần “VT” phải đưa sang phòng bên cạnh, và có hai sĩ quan trực suốt ngày đêm.
Bức thư của bà Fedosova làm cho Alekhin sửng sốt. Anh ngồi sững người hồi lâu và khi Polyakov có việc chạy đi tìm bắt gặp anh ngoài sân, cạnh mấy chiếc xe, đã ngạc nhiên nhận thấy thái độ của anh, liền hỏi:
- Cậu có chuyện gì vậy?
Alekhin nhún vai vẻ mập mờ, để tránh bị hỏi lại lần nữa, anh đáp:
- Lấy hai sĩ quan trong số dự bị, – trung tá hạ lệnh, – rồi đến thay tôi ngay cho tổ Tamantsev để cho nhóm anh vẫn sẵn sàng hoạt động, và phải trở về ngay.
Ngồi trong xe, Alekhin cố suy nghĩ sang chuyện khác, nhưng không thể được. Suốt chặng đường, những ý nghĩ về con gái, về giống lúa mạch mới, hay đúng hơn, về những giá trị mà anh và các bạn anh đã phải bỏ ra gần mười năm trời trước chiến tranh mới đạt được, luôn dày vò lòng anh, làm anh rối lên.
Đã bốn năm nay anh chưa hề được gặp con gái và anh chỉ hình dung qua tấm ảnh chụp, mà vợ anh gửi cho anh hồi mùa thu năm ngoái, trước hôm kỷ niệm ngày sinh của anh.
Bức ảnh đó anh đã để chung cùng thẻ Đảng trong túi sắt của Polyakov tại phòng làm việc ở Cục. Trong ảnh Nastenka với đôi chân mạnh khỏe đang đứng trên bàn trải khăn ngày lễ, mập mạp trong chiếc áo ngắn, khuôn mặt vui tươi với chiếc nơ lớn trên chỏm tóc.
Bức ảnh đó đã làm cho anh tin, cũng chả kém gì bức thư của vợ, là con gái anh vẫn mạnh khỏe, béo mập và ở nhà vẫn bình yên. Thế mà...
Còn việc đưa lúa mạch giống đi giao nộp thay lúa mì, có lẽ cũng không phải do sự cần thiết nào của Nhà nước mà là do sự làm bừa, làm ẩu của tay phụ trách nào đó. Anh nhớ lại những tin tức trên báo chí nói rằng, ở Leningrad có những nhà bác học mặc dầu sắp chết đói vẫn kiên quyết không dụng gì đến những thùng lúa giống hạng nhất, ở đấy, trong những điều kiện khắc nghiệt của cuộc phong tỏa, người ta vẫn giữ được lúa giống, thế mà, ở quê anh, tận vùng hậu phương xa xôi kia, người ta lại hủy diệt chúng đi.
Anh như hình dung rõ cánh đồng thí nghiệm với hàng ngàn ô từng mét vuông một. Trong ký ức anh hiện rõ lên những cuộc thí nghiệm cần mẫn, kiên nhẫn lặp đi lặp lại nhiều lần với các cách, các phương pháp gieo trồng và chăm bón khác nhau rất công phu. Trong ký ức của anh cũng hiện lên hình ảnh những con người gần gũi, những bạn cộng sự với anh trong trạm thí nghiệm, và như trong các bức thư vợ anh báo là trong ba năm qua đã có bảy người hy sinh...
Anh nhớ rõ rằng, từ giống lúa lai tạo đạt được vào năm ba sáu, qua 960 lần thí nghiệm đã tạo nên được loại giống mới! Hạt giống mới to, mẩy, nguồn gốc của một loại lúa mới, là kết quả của năm năm trời mày mò, thực nghiệm, gieo trồng và chọn lọc kỹ càng nhất. Kết quả cuối cùng đạt được khi Alekhin đang ở ngoài mặt trận.
Thế mà giờ đây, cái loại giống lúa mạch mới này, sau khi được thực nghiệm, kiểm tra của Nhà nước và đã được ký lệnh cho gieo trồng trên hàng triệu hecta, nay đã bị để lẫn vào kho lúa khác, thế là công toi! Làm sao người ta có thể nhầm lẫn với loại lúa lương thực được, nếu như trong các phiếu giao có lẽ phải ghi rõ rằng đây là loại lúa giống cao cấp?..
Và bây giờ, với hai nắm lúa còn sót lại mà bà Fedosova đã vét được thì làm sao còn có thể dùng để gieo trồng chọn giống cho sự kiểm tra của nhà nước được. Thế là phải quay lại ít nhất vài ba năm nữa và anh nghĩ rằng, sau chiến tranh, nếu còn sống, anh sẽ quay về và sẽ lặp lại cái công việc anh đã làm từ những năm trước chiến tranh...
Khi nghĩ đến con gái, điều làm anh lo sợ, dầy vò nhất là, anh biết rằng, anh không có cách nào giúp đỡ nó được, anh hiểu rằng, ở đây, ở tận vùng Zavolzhye xa xôi, cô con gái bé bỏng, nguồn an ủi biết bao quý giá của anh – đang bị đau đớn, thế mà anh, bố nó lại không có cách nào cứu nó được... Hình như có lúc nào đó, trước chiến tranh, anh có đọc ở đâu đó có một câu: “Bệnh thấp khớp sẽ làm cho các khớp xương đau buốt và tim thắt lại”. Giờ đây cái câu: “Khớp xương đau buốt và tim thắt lại” đó lại quay cuồng trong đầu óc anh.
- Thế nào đây... – vừa hãm xe, Khizhnyak vừa hỏi. - Ta dừng ở đây chứ?
Alekhin giật mình và nhìn nhanh chung quanh. Hình như họ đã đi quá khu làng Shilovychi và đã đến chỗ mà ba ngày trước đây chiếc xe này đã chở Fomchenko và Luzhnov đến. Chính ở đây, cạnh chiếc cầu bắc qua con sông nhỏ, anh đã hẹn gặp Tamantsev ở đây.
- Được, dừng lại.
Cầm tiểu liên, anh bước ra khỏi xe.
Và khi Tamantsev đến, trông nét mặt, nhìn vết máu trên áo và bọc áo mưa anh xách theo mình, Alekhin hiểu ngay rằng: đã có chuyện gì xảy ra rồi. Trong nháy mắt, anh để ý ngay đến chiếc xẻng, cầm lên xem, quay đi, lật lại và khi đã nhìn thấy vết khắc trên cán, anh liền nghĩ rằng, có thể đây là chiếc xẻng của anh lái xe Gusev chăng!.. Nó ở đâu ra thế này?
Câu hỏi đó, sự phỏng đoán đó và có lẽ sự đòi hỏi phải xác định ngay vấn đề, đã làm anh thoát ngay khỏi tình trạng suy nghĩ nặng nề dày vò sau khi nhận được thư. Anh nhớ rõ Gusev đã ký phiếu lĩnh chiếc xẻng ở kho một ngày trước khi đi công tác và chưa kịp dùng, còn chiếc xẻng này thì đã được dùng rồi. Alekhin vội cạo cạo ít đất bám vào rãnh cán và lưỡi xẻng.
Đất sét pha cát không có gì lẫn được. Đúng, hoàn toàn một loại đất pha cát màu vàng nhạt, xốp. Việc chiếc xẻng biến khỏi chiếc xe “Dodge” càng khẳng định thêm giả thuyết của Polyakov là trong vùng này có thể có hầm bí mật giấu chiếc điện đài đang bị truy lùng, và nếu đúng đây là xẻng của Gusev thì... Loại đất pha cát, xốp, màu vàng nhạt này Alekhin đã gặp ở một khu lùm cây rất hẹp trong giải rừng Shilovychi, anh còn nhớ rõ ở đây chỉ có một loài thảo mộc mọc mà thôi.
Nếu xẻng này là của Gusev thì có thể tin chắc, chiếc hầm bí mật sẽ bị phát hiện hôm nay, cùng lắm là ngày mai... Và nếu điện đài còn đấy...
Nếu đây là chiếc xẻng của Gusev thì việc tìm thấy nó tại nhà Yulia sẽ chứng minh rằng, Pavlovsky thuộc nhóm điệp viên đang bị truy lùng. Điều này cũng rất quan trọng, và Alekhin bất giác nghĩ rằng, Polyakov và trung tướng sẽ vui mừng xiết bao khi biết điều này.
Vừa vo vo viên đất trong tay, anh vừa liếc nhìn bọc áo vải bạt mà Tamantsev vừa mở ra. Sau khi suy nghĩ kỹ những thứ vật dụng quân sự gói trong đó và khái quát lại anh hiểu ngay rằng, có một ý định bắt giữ chủ nhân những thứ này, nhưng đã không thành công và có thể là ngoài những thứ ở đây ra, đang còn một xác chết nữa... Nếu như thế thật thì khó mà hình dung được hậu quả tai hại của sai lầm đau xót này.
- Cái gì thế này? – vừa chỉ vào áo mưa, anh vừa ngồi xổm xuống bên cạnh Tamantsev.
Sự im lặng và thái độ buồn rầu của Tamantsev đã xác minh điều suy nghĩ của anh.
Alekhin cầm hai tấm chứng minh thư lên, giơ ra xem hai bức ảnh và nói ngay:
- Pavlovsky...
Tamantsev vẫn im lặng, Alekhin ngẩng lên và nhìn thấy hộp thuốc lá bằng nhôm trong tay Tamantsev, anh vội giằng lấy và xem qua một lát, liền nói:
- Phải xác định ngay, cái này là của Gusev... và, cái xẻng, rõ ràng cũng là của Gusev...
- Gusev nào? - Tamantsev khẽ hỏi.
Ngay lúc đó Alekhin mới nhớ ra rằng, do đã phục kích ở đây ba ngày liền nên Tamantsev không biết gì cả về Gusev, cả về việc Tổng hành dinh đã bắt đầu trực tiếp kiểm tra vụ “Neman” và không biết gì về vụ truy lùng với quy mô chưa từng có trong vùng hậu phương rộng lớn của hai mặt trận đang diễn ra từ hai ngày nay.
“Khớp xương đau buốt và tim thất lại!” – Bỗng nhiên ý nghĩ đó lại lóe lên trong đầu óc Alekhin, nhưng nhìn kỹ Tamantsev, anh bỗng hỏi một cách buồn rầu:
- Sao các cậu lại để nó sổng được?
Nhìn một cách thiếu thiện cảm hai sĩ quan đến phối hợp, Tamantsev quay lại và bỗng rít lên, nói với giọng giận dữ:
- Vì lơ là, chính là vì lơ là, Pavel Vasilyevich ạ... Đáng lẽ tôi phải lao đến và để y giết tôi, nhưng xin lỗi, không kịp, không thể ngờ được!