Đại úy trợ lý mỗi lúc một bần thần thêm. Mặc dầu trước tình hình đang diễn biến anh đã gắng tỏ thái độ bình thản, phớt lạnh kiểu triết gia, nhưng vẫn không sao tự kìm mình được như ý muốn – cơn giận cố nén giấu bày lâu cứ dần dần tăng lên! Lúc thì anh đi đi lại lại, lúc thì anh ghé ngồi xuống một gốc cây vừa đốn đã được phủ lên một tờ báo, rít liên tiếp hết điều thuốc này tới điều thuốc khác (bao thuốc lá Kazbek, mà ông cụ thân sinh đã gửi làm quà cho anh hồi tháng bảy vừa qua). Anh rất muốn dành bao thuốc lá này để dùng trong buổi tối nay, dù chỉ độ chục điếu thôi cho có dáng bộ chững chạc một chút. Đôi ủng tuyệt đẹp, mới toanh mà trước đây chưa hề bao giờ anh có được, đã đẫm nước vì giẫm lên cỏ ướt và bắt đầu nặng nề. Anh băn khoăn nghĩ đến khi khô lại, đôi ủng sẽ cứng queo và suy tính xem nên lấy chất gì để bôi cho nó lại mềm mại, láng đẹp, không bị đanh dại mặt da.
Đại úy Alekhin, chỉ huy đội công tác đặc biệt, đang ngủ say như chết, đầu gối lên chiếc ba lô đựng thực phẩm. Phía bên đại úy là một thượng úy không rõ tên là gì, mình mặc chiếc áo quân phục nhem nhuốc có mấy mụn vá to tướng, vẫn cứ nằm ngáy nhè nhẹ đều đều như lúc nãy trên tấm bạt trải ngay dưới bóng mấy cây bạch dương. (Đại úy trợ lý không nhận ra mặt viên thượng úy này, nên không hề hồ nghi rằng, đó chính là người sĩ quan, khi bị giữ lại vì cái tội gặp anh ở trong thành phố đã giả bộ là một kẻ ngây ngô, ngốc nghếch không chịu giơ tay chào!) Chuẩn úy hiệu thính viên thì đang ngồi bên bộ điện đài, hai ông nghe úp chặt vào tai, chưa có việc gì làm, đang đọc một cuốn sách cáu bẩn ghê gớm, có những tờ sơ đồ dán kèm, chắc là sách về kỹ thuật vô tuyến điện. Và cuối cùng là viên trung úy nói lắp, bao súng ngắn cũng kéo lên tận bụng như kiểu đeo của Alekhin, đang lặng lẽ đi đi lại lại trên bãi cỏ và chăm chú suy nghĩ điều gì.
Có thể cứ như vậy mãi đến tận bao giờ? Đại úy trợ lý càng bóp óc tìm cho ra lẽ về cái sự thể đang diễn ra thì càng cảm thấy tất cả cái đó hoàn toàn vô lý.
Chỉ vì vẻn vẹn có ba hoặc bốn con người nào đó, người ta đã huy động không phải hàng trăm, mà thậm chí hàng nghìn bộ đội.
Trong những năm chiến tranh, vốn chỉ quen với mối quan hệ về so sánh lực lượng hoàn toàn khác hẳn nên anh không tài nào dung hòa, chấp nhận được điều đó.
Anh nhớ lại những trận chiến đấu cách đây hai năm – mùa hè năm bốn mươi hai, tại khu vực Kotelnikovo gần Gruzia. Đại đội của anh, mười chín người tất cả, đã bảo vệ một cái giếng. Một cái giếng bình thường. Tại đây, trên thảo nguyên, những cái giếng đúng là những của hiếm, rất quý giá, và chính vì những nguồn nước đó mà đã diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt, đẫm máu, một mất một còn.
Trụi lụi dưới ánh nắng thiêu đốt... Nóng bức... Bụi... Nghẹt thở... Để ép đơn vị anh phải rời bỏ vị trí và chiếm đoạt lấy giếng nước, bọn Đức đã đốt thảo nguyên... Lửa và những luồng khói đặc cay xè từ ba phía ùa vào các vị trí chiến đấu của đại đội. Và từ đằng sau màn khói và lửa đỏ, bọn Đức xông lên tấn công: một tiểu đoàn bộ binh đấy đủ quân số! Còn đại đội của anh thì chỉ có mười chín người, hai đại liên và một khẩu pháo chống tăng...
Đốt thảo nguyên từ hướng ngược lại thì đại đội anh cũng chưa thử làm: đang có gió tây thổi. Thế là cả khói và lửa lan nhanh khắp nơi đại đội bố trí. Bọn Đức không ngừng giã giò bằng súng cối và pháo bảy. Mảnh đạn cùng với chớp lửa rơi như mưa xuống các công sự. Khói cay đến nỗi các chiến sĩ phải lấy mặt nạ chống hơi ngạt đeo vào... Nhựa cao su cháy khét lẹt, bốc khói!.. Mắt người nào người nấy đỏ ngầu và sưng húp... Da thịt nổi từng mảng đỏ và phồng rộp lên. Có bốn chiến sĩ bị bỏng mắt, không nhìn thấy gì nữa... Quần áo đều cháy khét, bốc khói, nhưng mọi người trong đại đội vẫn giữ vững vị trí!.. Họ giữ vững không phải chỉ một, hai tiếng đồng hồ, mà là cả hơn một ngày đêm!
Đến rạng sáng ngày thứ hai bọn Đức cho xe tăng xông lên tấn công. Đại đội của anh đã bắn trúng ngay ba xe tăng Đức, nhưng chiếc thứ tư đã chọc thẳng được tới chiến hào phía tây, nơi có các chiến sĩ bị thương nặng, bị mù. Nhưng các chiến sĩ này đã phá nổ chiếc xe tăng đó... Xe tăng Đức lẫn cả bản thân họ... Cái anh chàng Alekhin này đã có bao giờ chính mắt nhìn thấy cái cảnh các chiến sĩ bị thương nặng sắp chết cùng với các chiến sĩ bị mù mắt, xông lên đón tiếng động cơ gầm rú, đã dùng lựu đạn chặn đứng xe tăng Đức lại chưa?!
Vào buổi sáng hôm đó, đại úy (thời gian ấy anh mới là trung úy) còn mất thêm sáu chiến sĩ nữa, nhưng cùng với quân số còn lại của đại đội, anh đã giữ vững được giếng nước. Khi có mệnh lệnh cho đơn vị rút lui thì cùng với anh đã hai lần bị thương, trong đội ngũ còn lại vẹn vẹn có ba chiến sĩ. Và chỉ đến khi đó, sau khi đã cho nổ tung cả giếng nước bằng một khối thuốc nổ của mấy quả đạn chống tăng bó chập lại với nhau, anh và mấy chiến sĩ còn lại mới chịu bỏ đi.
Và cũng chẳng có ai dạy bảo anh như kiểu dậy dỗ học trò ấy cả! Và cũng chẳng có ai phải lên lớp cho anh về chuyện cảnh giác!.. Còn cuộc chiến đấu rất đáng ghi nhớ ở nơi hai con đường cái lát nhựa chạy giao nhau ấy nữa!.. Và còn biết bao nhiêu trận chiến đấu như thế nữa chứ... Thật là khốc liệt, sống còn! Vô cùng hiểm nghèo, tàn nhẫn! Khi mà đối phương giữ ưu thế gấp năm, gấp mười, hoặc mười lăm lần thì phải chiến đấu không phải bằng số lượng, mà bằng cả trí tuệ, tài năng! Cái nguyên lý ấy, toàn thể quân đội đã được nghe, được biết ngay từ hồi đầu chiến tranh kia. Quân đội chứ không phải những kẻ làm công tác đặc biệt. Với những người này, người ta thường không dè xẻn phương tiện lẫn lực lượng, mà lại cứ như vậy được trong khi các đơn vị ngoài tiền tuyến đang thiếu quân số đến mức gần như một thảm trạng!..
Người ta đã giành giật mất hàng nghìn người, không để cho họ được thực hiện nghĩa vụ trực tiếp của mình là cầm súng giết giặc. Mà lần nào cũng khẩn cấp, kèm theo những yêu cầu nào là về tính cảnh giác, nào là về sự tuyệt mật và tầm quan trọng đặc biệt. Và còn những gì gì nữa chứ – không biết phải làm như vậy là để nhằm vào cái gì kia?.. Chẳng lẽ để lên vào trong rừng với nhau như thế này rồi đánh chén thật đầy bụng, lăn ra ngủ và rèn luyện cho – đôi má trợ chiến với cái gối, nói cho đúng hơn – vì không có cái gối thật sự – với cái ba lô. Và rồi cũng chỉ hết hút thuốc vặt với lại nửa ngủ nửa thức liên miên, chẳng ra làm sao cả.
Đại úy trợ lý sực nhớ lại một câu chuyện “tiếu lâm bộ đội” khá sâu cay: “Chiến sĩ công tác đặc biệt khác con gấu rừng ở cái gì nhỉ?... Khác ở chỗ gấu chỉ ngủ hết mùa đông thôi, còn chiến sĩ công tác đặc biệt thì ngủ hết cả một năm tròn...”
Mặc dầu đại úy trợ lý cố tự nén mình lại và giữ vẻ ngoài bình thản, song những ổ bánh mì trắng, ngon lành quả đã có sức tác động mạnh tới anh, chẳng khác nào mảnh vải đỏ khiêu khích con bò tót vậy. Anh phải chật vật lắm mới kìm nổi cơn nóng giận của mình cứ chực nổ bung ngay ra.
Bánh mì trắng và những thực phẩm tinh chế khác, trong thời chiến thường gọi các loại thức ăn có chất lượng kha khá như vậy, – đều là những thứ đã được quy định và cấp phát hạn chế theo tiêu chuẩn, mà ngoài bộ đội không quân ra thì chỉ còn cho các thương binh tại các quân y viện mà thôi. Chính bản thân anh khi bị thương cũng đã được phát loại thức ăn đặc biệt này, vì vậy, anh còn nhớ rất kỹ những khẩu phần được cân đi, cân lại từng lạng một cách cẩn thận như thế nào. Ấy thế mà những người trong đội công tác đặc biệt lại được sử dụng thỏa thuê loại thực phẩm rất hiếm quý đó – ai muốn ăn bao nhiêu cứ tùy ý! Riêng từ trong một ba lô, họ đã lôi ra hai ổ bánh mì lớn như cái khay con rồi đem cắt ra thành từng khoanh thật to để ăn, mặc dầu họ đều khỏe mạnh và cũng chẳng dính dáng, liên đới gì với ngành không quân nào cả.
Theo cái luật lệ nào?! Anh được biết một cách chính xác: các chiến sĩ công tác đặc biệt cũng hưởng chế độ quân trang và lương thực theo đúng các tiêu chuẩn y như các sĩ quan khác trong quân đội thường trực cả thôi, riêng đối với bộ đội không quân thì có áp dụng chế độ biệt lệ. Tuy vậy, đối với họ, những người công tác đặc biệt ấy, thật ra chẳng có thứ luật lệ nào thành văn bản chính thức cả, họ muốn gì cứ làm vậy. Và mọi người xung quanh đều lặng thinh, đều e ngại, nể sợ họ cả!
Nhưng riêng bản thân anh thì chưa hề bao giờ và cũng sẽ không bao giờ sợ họ cả. Để cho Alekhin có thể hiểu được điều này, anh đã không ngần ngại nói thẳng tuột, không úp mở, cho Alekhin rõ điều suy nghĩ của mình, mặc dầu anh cũng thừa biết rằng, cái lối nói chuyện như vậy ít gây tác động, thậm chí rất hạn chế đối với những con người mà bản tính vốn dĩ kiêu căng.
Trước lời nói gay gắt, châm chọc của anh, thái độ phản ứng không chút hằn học kể cũng lạ lùng của Alekhin cùng với cái tính dễ dãi xuề xòa vừa chân thật vừa dịu dàng của anh ta lại càng khiến anh phải cảnh giác hơn. Trong thâm tâm, anh cho rằng, người cán bộ công tác đặc biệt này không thể quá niềm nở và tỏ nhiều thiện ý như vậy mà lại không có một ý đồ ngầm nào đó được.
Những nhân viên khác trong đội công tác đặc biệt cũng thế, anh chẳng ưa họ chút nào.
Và cả cái viên trung úy nhóc ấy, con người đã bắt chuyện để làm quen: “Thưa đồng chí đại úy, đồng chí đã tình cờ ở Mátxcơva?.. Trông đồng chí giống một người!...” Cái đó vắt mũi chưa sạch mà cũng định ra oai khiến người khác phải sợ à? Thật là một mưu mô dọa nạt thảm hại!.. Đừng hòng!
Và viên chuẩn úy phụ trách điện đài nữa, hắn đã hấp tấp nhai ngấu nghiến, nghe cứ ròn rau râu, hết ngay một lúc cả một nửa ổ bánh mì trắng, to xụ và cả một hộp xúc xích thịt mềm, hạng ngon nhất của loại đồ hộp này.
Chính cái hộp xúc xích loại đó, ông cụ thân sinh đã gửi cho anh khi đang nằm ở quân y viện, và anh đã đem chia đều cho anh em cùng nằm viện thưởng thức. Nhưng cha anh là thủ trưởng phòng chính trị quân đoàn cận vệ, không kém gì một cấp tướng, và là một người đã từng tham gia cuộc cách mạng vô sản, tham gia cuộc nội chiến và cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, phục vụ trong Hồng quân một phần tư thế kỷ. Còn những con người trong đội công tác đặc biệt đó thì có thể có được những công trạng gì? Với viên thượng úy đang ngủ lăn lóc như chết dưới bóng mấy cây bạch dương kia, chỉ riêng về cái vẻ ngoài thôi, cũng đáng bị tống ngay vào trại giam rồi!
Cái áo quân phục cáu bẩn gớm ghiếc như vậy, thì chỉ có chiến sĩ tiểu đoàn công binh mới có thể mặc để làm công việc “thổ mộc”, chứ tuyệt đối không phải để cho một sĩ quan chỉ huy chiến đấu mặc vào người được. Một chiến sĩ bộ đội bình thường cũng không thể và cũng không dám, nhưng một chiến sĩ công tác đặc biệt lại được phép...
Nhưng kia, mình làm sao thế, có chuyện gì xảy ra giữa mình và bọn họ nào? Muốn bảo ban họ ư? Không biết là lần thứ mấy đại úy trợ lý thầm nhủ mình như vậy. Và anh cố gắng chuyển sang một trạng thái hoàn toàn khác hẳn và suy nghĩ về một điều nào đó thoải mái, dễ chịu hơn. Thời gian sao đi chậm vậy, mãi vẫn chẳng xê dịch. Và đại úy trợ lý chỉ còn lại mỗi một việc là kiên nhẫn chờ đợi cho tới khi sự kiện này chấm dứt.
Đã bốn giờ kém năm. Một giờ nữa thì ông già thợ may sẽ đi kiếm một bó hoa; đại úy trợ lý không hề hoài nghi việc ông già sẽ hoàn thành điều đã được giao phó và sẽ làm trọn mọi việc một cách toàn tâm, toàn ý nhất.
Vốn từ bé có tính ăn ở sạch sẽ, cẩn thận, nên đại úy trợ lý không chịu nổi sự cẩu thả, nhớp nhúa của mọi người ở xung quanh anh. Ông già người Do Thái đó, mũi lúc nào cũng chảy nước, tất nhiên không thể gây được cảm tình với anh. Nhưng anh là người biết quý trọng tài năng và sự điêu luyện trong mọi hoạt động của con người, trong bất kỳ hình thái biểu hiện nào, mà ông già lại chính là một chuyên gia lành nghề, một con người điêu luyện, điều ... đó không còn hồ nghi được nữa. Và anh nghĩ đến ông già với một tình cảm quý mến và biết ơn về công việc làm xuất sắc của ông. Một lần nữa, lòng trắc ẩn, xót thương ông già cô độc, bất hạnh, khốn quẫn vì chiến tranh ày lại đang dâng lên tràn ngập tâm hồn anh. Ngay khi đó, từ phía bên tay phải, từ nơi đặt bộ điện đài vô tuyến điện, vẳng lại giọng nói nhỏ, xúc động của chuẩn úy hiệu thính viên phụ trách điện đài.