Tháng Tám Năm Bốn Tư

Lượt đọc: 854 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
52. ALEKHIN

❊ ❊ ❊

Điều đó giống như một sự mất mát đau đớn, giống như bị chôn đi những cái gì quý nhất: bạn đang làm việc với một tinh thần hết sức phấn khởi, tất cả có vẻ như đâu vào đấy, đã ngửi thấy mùi vị thật sự của sự thành công rồi, bỗng nhiên, cái giả thuyết cơ bản nhất bỗng tan biến đi như bọt xà phòng.

Và bạn lại hoàn toàn tay trắng.

Về phía chúng tôi, những người đang cày trên sa mạc, có thể từ hôm qua, đã cảm thấy điều đó ngay sau cuộc nói chuyện với Okulich và, dẫu sao, chiều nay khi gọi điện thoại từ Bialystok tới Lida, rồi khi nghe Polyakov thông báo kết quả điều tra, thì tôi hoàn toàn bị hẫng thật sự.

Gần ba ngày đêm, chúng tôi đã kiên trì lần theo, mà như giờ đây đã rõ, những đối tượng không đúng. Vấn đề càng trở nên quan trọng hơn vì Tổng hành dinh đang kiểm tra kết quả và có lẽ chỉ độ vài ba giờ nữa, trên đó sẽ phát hiện được rằng, về thực chất, chúng tôi chả làm được gì cả.

“Các anh đã bám lấy họ, vì không có đối tượng nào tốt hơn, – trung tướng đã nói với tôi như vậy khi tôi về tới Lida, – và đã bám lấy cái mà các anh cho là có triển vọng nhất”. Giọng ông đầy vẻ trách móc, tuy nhiên, ông không thèm lớn tiếng nữa; ông nói với vẻ mệt mỏi và buồn rầu.

Giờ đây thì mọi sự về Nikolaev và Sentsov đều đã quá rõ ràng. Tuy nhiên, mấy giây trước khi nhận được những tin tức trả lời kia, không một ai trong chúng tôi, kể cả trung tướng, có ý kiến gì và có quyết định đặt ngược hoặc đoạn tuyệt với cái giả thuyết ấy, vì những bằng chứng đáng nghi trùng hợp quá nhiều.

Suốt ngày nay tôi làm việc ở Grodno và Bialystok. Ngay từ sáng sớm, tôi đã được quyền sử dụng một máy bay liên lạc, ngoài sân bay ở đó và nhiều nhóm công tác đặc biệt đang chờ sẵn. Nếu như hôm qua, chỉ có ba chúng tôi và sau có thêm trung tá Polyakov nữa, theo dõi vụ “Neman”, nếu như mới hôm qua thôi, tôi còn phải vất vả lắm mới xin được một người giúp việc, thì trái lại hôm nay tôi đã được dành ưu tiên đủ thứ: bộ máy truy lùng khẩn cấp có hiệu lực.

Còn ở Grodno và ở Bialystok đã có các sĩ quan truy lùng, không phải như Fomchenko và Luzhnov, chờ sẵn. Họ là những tay thực sự có khả năng, là những sĩ quan truy lùng ở các Ban phản gián của năm tập đoàn quân của mặt trận chúng ta và mặt trận bên cạnh. Những sĩ quan này chỉ cần nói nửa lời đã hiểu tất cả. Đối với họ không cần giải thích nhiều, người ta chỉ đòi hỏi ở tôi việc biết phối hợp và cử họ đi hành động.

Căn cứ theo nội dung các bức điện đã bắt được, thì việc theo dõi các đoàn tàu tiến hành không phải đang trên đường đi mà ngay ở các nhà ga.

Giống như mọi khi, lần này Polyakov đã tỏ ra đúng: tiểu đoàn số 473 xe lội nước không hành quân qua Grodno hoặc Bialystok, thế có nghĩa là việc quan sát đã được phối hợp giữa bọn trà trộn ở ngay nhà ga với bọn gián điệp lưu động trên các tuyến đường, cải trang là bộ đội Hồng quân.

Về thực chất, đối với các vùng hậu phương tác chiến của mặt trận thì những trường hợp này rất phổ biến và rất khó phát hiện. Bọn địch trá hình khá giỏi vì chúng được trang bị những bộ quân phục Hồng quân không chê vào đâu được, những giấy tờ thật và dựa vào đó, chúng khéo léo tìm cách quanh quẩn hằng tuần lễ ở các ga đường sắt quan trọng nhất. Hơn thế nữa, những giấy tờ, phiếu cung cấp lương thực, thực phẩm của chúng thỉnh thoảng lại được đổi mới đúng như thật với đầy đủ chữ ký, con dấu của Ban chỉ huy các cấp. Những giấy tờ, trang bị đó đã đánh lừa được nhiều đội kiểm tra của chúng ta.

Bộ quân phục hiển nhiên là một sự cải trang tuyệt diệu đối với các tình báo viên tác chiến hậu phương, tuy nhiên, trên những tuyến đường sắt này, nó lại càng là một thứ ngụy trang phức tạp và độc đáo nữa. Trong trí nhớ của tôi còn ghi lại trường hợp không thể nào quên được ở Smolensk vào hồi mùa xuân vừa qua.

Sáng sớm, chúng tôi được khẩn báo và đổ đến đấy: qua bức điện mật mã đã giải mã được vào hồi nửa đêm, chúng tôi đã xác định được một điệp viên lành nghề đang hoạt động ở ga để theo dõi các cuộc vận chuyển người và vũ khí.

Ngay ngày đầu chúng tôi đã chú ý tới một người đàn bà đứng tuổi hay đi lại, lượn lờ gần các đoàn tàu. Bà ta đi chân đất, chân nứt nẻ rớm máu, khuôn mặt trông có vẻ mất trí được trùm kín trong chiếc khăn vuông, để lộ mớ tóc hoa râm lòa xòa. Bà ta đi lang thang, mắt như chả nhìn gì cả, chỉ nghe lẩm bẩm:

- Con thân yêu của mẹ!.. Volodinka... Giọt máu của mẹ.

Ở nhà ga này người ta đã quen mặt và đã nhiều lần kiểm tra bà ta: cả cảnh sát, cả quân cảnh và nhân viên an ninh đường sắt.

Ngay chiều hôm đó tôi đến gần bà ta.

- Chào mẹ!..

- Bà ta không dừng lại và thậm chí cũng không ngoái lại. Còn tôi, tôi đi nhanh, đuổi kịp bà ta và cầm lấy tay.

- Bà làm gì ở đây?.. Bà có giấy tờ gì không?..

Mãi sau khi thấy tôi rút trong túi áo tờ chứng minh thư giơ ra trước mặt, bà ta mới phản ứng lại: bà ta cũng rút trong áo ra một chiếc bọc vải bẩn thỉu, làm lem dầu mỡ, ấn vào tay tôi một cách bực dọc rồi bỏ đi thẳng. Tôi lại đuổi theo và giữ bà ta lại.

Trong bọc vải, ngoài giấy chứng minh thư mang tên Ivasheva Anna Kuzminichna, cấp từ trước chiến tranh ở Orsha, giấy chứng nhận sơ tán khỏi thành phố và tấm thẻ công đoàn ngoài ra còn hai tờ giấy báo tử hai người con trai lớn và một lá thư gấp chéo ba cạnh đã nhàu nát của người con thứ ba tên là Vladimir (chính bà ta vừa đi vừa gọi tên cậu ta lúc sáng), có đóng dấu quân bưu và một tờ sao bệnh án của bệnh viện tâm thần nơi bà ta điều trị. Chả có gì đáng nghi ngờ cả.

Ở nhà ga này nhiều người biết bà ta và mọi người sẵn lòng giúp đỡ, cho bà ta ăn uống ở trạm cung cấp thực phẩm quân đội.

Tối hôm đó, trong khi báo cáo cho Polyakov qua máy bộ đàm cao tần, tôi có nhắc đến trường hợp Ivaseva.

- Phải đưa bà ta đi bệnh viện, – trung tá nhắc tôi. – Nói với tư lệnh hay sĩ quan trường ga. Không nên để bà ta lang thang ở ga như vậy.

Ngày hôm sau chúng tôi mời bác sĩ thần kinh của bệnh viện thành phố – một vị thầy thuốc già, dáng mệt mỏi, đeo đôi kính mắt tròn, gọng thép mạ trắng.

Ông xem các giấy tờ về bệnh tình bà Ivaseva và khám bệnh cho bà ta gần một giờ đồng hồ, tìm mọi lời nhẹ nhàng, dịu dàng nói chuyện với bà ta. Mọi triệu chứng, hội chứng và phản xạ của bà ta đều không có gì nghi vấn.

Trong lúc đó, từ phòng bên cạnh, tôi xem kỹ một lần nữa mọi thứ giấy tờ của bà ta, đọc kỹ lá thư của con trai. Đây quả là những dòng đầy xúc động của một người con trai, trung sĩ trẻ tuổi ở chiến trường gửi cho người mẹ bị bệnh thần kinh. Tôi xem kỹ cả những thứ lặt vặt của Ivaseva: mẩu bánh mì, chiếc khăn tay bẩn đen cáu lại, chả khác gì chiếc dẻ lau, mấy cái váy áo cũ và vài mẫu đường vụn. Tất cả đều để hỗn độn trong túi vải và tôi nghĩ rằng một con người khỏe mạnh, bình thường không thể nào sống như vậy được.

- Trường hợp này quá rõ ràng rồi, – ông bác sĩ già nói với tôi khi Ivaseva ra khỏi phòng. – Nhưng chả có chỗ để giữ bà ta lại đâu. Vì bọn Đức đốt hết các công sở rồi. Hiện nay toàn tỉnh chỉ có một bệnh viện sáu mươi giường. Hàng trăm người bệnh đang chờ đến lượt mình, ông ta vừa nói vừa lấy khăn lau kính, ngay cả những bệnh nhân nặng cũng không có chỗ nằm... Bệnh của bà ta thì chưa đến nỗi nguy hiểm gì. Đồng chí cũng biết đấy, khi bà ta lên cơn điên chính là lúc bà ta hy vọng gặp con nhất và nếu ta cứ tống vào phòng cách ly thì thật là thật nhẫn tâm. Bà ta đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ... Mất một lúc hai con trai... Chả nói gì bà ta là một người mẹ, ngay như chúng ta đây, tôi khó mà tưởng tượng được rằng, sẽ chịu đựng ra sao...

Ông bác sĩ thật đáng thương hại... Và kinh nghiệm bốn mươi năm trong nghề của ông đã tỏ ra bất lực. Ông không biết và nếu như người ta nói cho ông biết thì ông cũng không tin rằng tất cả những triệu chứng phản xạ mà cái bà Ivaseva đáng thương này biểu hiện, được hoàn thiện và sắp đặt trong bệnh viện ở Koenigsberg của giáo sư người Đức Gassen.

Tamantsev đã nghi ngờ mụ.

Sau đó chính cậu ta đã tự thú nhận với tôi rằng, cũng là tình cờ thôi, cậu ta trông thấy mụ ta và đã cho mụ ta khẩu phần đường của mình, cậu ta thương quá đến nỗi suýt rớm nước mắt.

Nhưng đến lần thứ tư, thứ năm gì đó, anh ấy mới phát hiện được là mỗi khi đi qua sân ga đầy người, mồm mụ ta tuy cứ lẩm bẩm gọi tên con nhưng mắt thì lại đảo nhìn vào đồng kho súng đạn xếp ở cuối sân ga và, hình như mụ đếm thì phải. Lúc gần tối, Tamantsev bám sát theo mụ vào thành phố, khi đến một đường phố đổ nát, anh ta vừa kịp nấp vào một bức tường thì kịp phát hiện ra mụ ta đưa tay lên ngang mắt, nhìn vào mảnh gương giấu kín trong lòng bàn tay, vừa đi vừa kiểm tra xem có ai theo dõi phía sau không. Độ nửa giờ sau, mụ ta lại dẫn anh tới một căn nhà gỗ, ngoài đường phố vắng và chính ở đây chúng tôi đã khám và bắt được trong hầm bí mật tên hiệu thính viên và một máy phát. Nhưng phải nói rằng, ngay từ phút phát hiện ra chiếc gương kiểm tra đó, Tamantsev liền lần vào đồng đổ nát, thì số phận của mụ điệp viên giả điên mang tên Anna Ivaseva (tên thật của mụ ta, lý lịch ra sao, chúng tôi không thể xác định được), đã được quyết định.

Một tuần lễ sau, tôi gặp mụ trong cuộc hỏi cung: mụ ta đã hoàn toàn khác hẳn, nét mặt gian giảo, cái nhìn lạnh lùng, môi mím chặt, thái độ khinh khỉnh và căm thù. Mụ ta không trả lời tất cả các câu hỏi, im lặng từ đầu đến cuối, tuy nhiên, cuối cùng trước những chứng cớ và lời khai của tên hiệu thính viên mụ đã bị vạch trần và đã bị kết án tử hình.

Đội lốt người đàn bà bị điên dại sau cái chết của hai người con ngoài mặt trận cùng với sự lợi dụng tình cảm thiêng liêng mà tất cả những con người bình thường đều phải có, tình thương đối với mẹ, thật là một sự ngụy trang tuyệt diệu và lý tưởng.

“Ivaseva” hoạt động trên các đầu mối đường sắt trong vùng hậu phương của chúng ta được tròn bốn tuần lễ. Thật là đáng sợ biết bao khi ta nghĩ rằng, quân đội chúng ta đã phải trả bằng bao nhiêu tính mạng của các chiến sĩ trong vòng một tháng qua vì hoạt động gián điệp của nó...

Trước khi bay khỏi Lida, tôi và Polyakov đã thảo luận kỹ các vấn đề và đã kết luận tóm tắt như sau:

việc theo dõi hoạt động của các đoàn tàu được thực hiện ở Bialystok hoặc chắc chắn là cả ở Grodno. Việc theo dõi này do bọn điệp viên nằm vùng tiến hành, vì bọn điệp viên lưu động không thể quan sát trên các ga với chế độ bảo vệ nghiêm ngặt hơn một ngày đêm được;

việc theo dõi này không phải chỉ có từng tên một mà ít nhất cũng phải hai điệp viên thực hiện.

Khi chúng ta chuyên chở loại pháo “Katyushas”, trên mỗi toa tàu đều có một lính gác, pháo được phủ kín vải bạt và dưới bạt là những bộ khung gỗ vuông trông như những hòm gỗ lớn. Vì thế cho nên, nếu ai xác định được đó là loại Katyushas và hơn thế nữa, lại còn phân biệt được loại M.13 với loại M.31, thì chỉ có thể là một chuyên gia vũ khí hết sức lành nghề, có đôi mắt tinh đời hoặc là một con người được đào tạo kỹ càng, với những kiến thức tình báo quân sự xuất sắc. Hơn nữa những kiến thức đó phải được đào tạo khoảng hơn một năm trở lại đây, tức là phải biết được kỹ thuật quân sự mới.

Chúng tôi bắt đầu tìm hiểu chế độ kiểm tra các tuyến đường sắt cả ở Grodno và Bialystok. Có thể nói rằng, không một người lạ mặt nào có thể la cà lâu ở các sân ga, ở các xưởng đêpô và các nhà phục vụ khác lại không bị phát hiện. Từng cặp tuần tiểu đi kiểm tra rất đúng quy định và hết sức cảnh giác; hai chúng tôi mới xuất hiện ở gần các đoàn tàu một lúc mà đã bị hỏi giấy. Phòng chờ của hành khách dân sự, các sân ga tàu khách đều có cảnh sát giao thông đường sắt và nhân viên cơ quan an ninh quan sát, theo dõi suốt ngày đêm. Chế độ kiểm soát và bảo vệ nghiêm ngặt đó được thi hành ở Grodno và Bialystok từ sau ngày giải phóng.

Cả ở hai nhà ga lớn này, sau khi quan sát kỹ tôi cảm thấy mình phần nào có lỗi, nhất là ở Grodno cảm giác này càng rõ hơn. Trên các đường sắt trong khu vực ga lúc nào cũng có tới trên mười đoàn tàu quân sự, đoàn thì mới đến, đoàn thì đang chuẩn bị chạy, và cái cảnh huyên náo, lộn xộn đó diễn ra không ngừng suốt hai tháng nay. Bộ đội và các phương tiện kỹ thuật quân sự không ngừng chuyển ra mặt trận, nhưng trước khi ra được đến mặt trận thì bọn địch đã biết rõ khu vực tập trung và bốc dỡ.

Ngắm nhìn những chiến sĩ và sĩ quan chạy đi chạy lại quanh các đoàn tàu, vui tươi, hớn hở chả để ý gì đến xung quanh, tôi nhớ đến bọn điệp viên đang bị truy lùng đã hoạt động trong vùng hậu phương gần một tháng nay rồi và, bất giác tôi cảm thấy râm ran như kiến bò khắp người.

Sau khi tìm hiểu kỹ các chế độ tuần tra, bảo vệ ở hai khu ga lớn, tôi khẳng định trong ý nghĩ rằng, việc theo dõi quan sát không phải chỉ có bọn điệp viên di động làm mà còn có cả bọn nằm vùng ở đây, hay nói một cách cụ thể hơn bọn cải trang nhân viên đường sắt.

Theo kinh nghiệm, tôi biết rằng, khi chính quyền Xô-viết được khôi phục ở các vùng mới giải phóng, bọn tình báo địch đã cố trà trộn vào hệ thống đường sắt, nhưng chúng tuyệt nhiên không muốn chui vào các chức vụ lãnh đạo. Chúng sẵn sàng làm những nhân viên bình thường nhất như: nồi toa, tra dầu, bẻ ghi, vì đó là những công việc cho phép tự do đi lại khắp nơi trong khu ga, dễ dàng tiếp xúc với số lớn nhân viên đường sắt khác, với các sĩ quan qua lại và nói chung chủ yếu là các quân nhân bình thường.

Và tất nhiên là ở những nhà ga này không phải chỉ có bọn điệp viên địch hoạt động, mà còn có những người dân bình thường, những người muốn giữ chỗ để khỏi ra mặt trận, đồng thời để được nhận khẩu phần và chất đốt cho mùa đông cao hơn mức của công nhân thành phố.

Ở Grodno và Bialystok có hơn sáu trăm người làm việc trong tất cả các khâu phục vụ, điều vận, lái tàu.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ của mấy trăm con người đó, đến gần tối, chúng tôi chọn ra được mười ba người trong mấy năm gần đây, lý lịch chưa rõ ràng lắm. Tất cả những người này đã ở trong các vùng Đức chiếm đóng và không phải sống ở quê họ, mà cũng không ai xác định được trong những năm đó họ sống ở đâu, làm gì. Trong hồ sơ của hai người còn phát hiện được những mâu thuẫn trong lời khai và khi hỏi kỹ thì cán bộ phòng nhân sự cũng không xác minh được.

Cuối cùng, trong số mười ba người này, tôi nhặt ra được bốn người, theo quan điểm của tôi, đáng chú ý nhất:

1. Ignacy Tarkovsky, nhân viên lập tàu ở ga Bialystok. Nghề nghiệp chính: nhân viên quân khí. Mùa thu 1941 bị bắt sang Đức với một nhóm kỹ sư và nhân viên kỹ thuật khác, ở đó hình như được đưa đến làm việc ở nhà máy sản xuất máy bay tại Bremen. Tháng sáu năm 1944 được trở về nhà, với lý do ghi trong lý lịch: thiếu sức khỏe. Thế nhưng theo giấy chứng nhận y tế hai tuần trước đây thì anh ta có đủ điều kiện làm việc ở đường sắt không hạn chế điều kiện gì cả, người ta không phát hiện được anh ta có bệnh gì. Không một người nào trong nhóm kỹ sư và kỹ thuật viên bị bắt với Tarkovsky được trở về Bialystok và nói chung không có tin tức gì về họ.

2. Czeslaw Komarnitsky, nhân viên lập tàu nhà ga Grodno. Là cựu sĩ quan quân đội Ba-lan, trước chiến tranh đã tốt nghiệp học viện quân sự. Tháng chín năm 1939 bị bắt làm tù binh Đức nhưng đã trốn khỏi trại tập trung, trốn về miền Nam Ba-lan và hình như từ đây có tham gia phong trào kháng chiến, là trung đội trưởng rồi chỉ huy đại đội trong quân đội của Đội cận vệ “Ludovo”.

3. Wincent Komarnitsky, em trai Czeslaw Komarnitsky, nhân viên tra dầu mỡ. Từ 1937 đến 1942 – nếu như bản khai lý lịch là đúng – là chuyên gia về đường sá và sau đó chạy về miền Nam Ba-lan và hình như cùng tham gia du kích với Czeslaw.

Nhưng trong bức thư nhận được hôm kia ở hòm thư nhà ga, đã khẳng định rằng, Wincent Komarnitsky trước chiến tranh và trong những năm đầu chiến tranh, nói chung không phải là chuyên gia gì về đường sá cả mà là cảnh sát giao thông, ở đơn vị gọi là đại đội giao thông, hình như do sốt sắng phục vụ bọn chiếm đóng nên đã được thưởng hai huy chương đồng và thư cảm ơn cá nhân của tên Kuchera, tư lệnh cảnh sát Đức ở Ba-lan, một tên đao phủ và hiến binh khét tiếng đã bị du kích Ba-lan trừng trị. Mùa xuân năm 1943, Wincent Komarnitsky, hình như từ Ba-lan được gửi tới Berlin để học tập. Bức thư này gửi cho trường ga không có tên, địa chỉ người gửi, nhưng không phải là bức thư tố giác chung chung mà nêu lên những chứng cớ, sự việc cụ thể, chứa đựng những chi tiết khá rõ, chính xác đến nỗi không thể coi thường và thờ ơ với nó mà không kiểm tra lại.

Chỉ mới xuất hiện ở Grodno một tuần lễ sau ngày giải phóng, và ở đây, họ không có nhà cửa, bà con thân thích nào cả. Đọc xong thư, tôi nghĩ ngay hai vấn đề chính: tại sao họ lại ra khỏi các đội du kích cho đến nay vẫn hoạt động trong vùng sau lưng quân Đức ở Nam Krakov, và họ đã vượt được sang phía mặt trận này trong hoàn cảnh nào?

4. Nikolai Stankevich, nhân viên bẻ ghi ga Grodno. Năm 1941 là chiến sĩ Hồng quân, sau đó vào tháng bảy là tù binh Đức.

Trong thời gian này, bọn Đức sử dụng làm lao công vặt, sau đó cho lái xe tải. Mùa hè 1942 bị bắt vì hình như liên lạc với du kích và bị đày đi trại tập trung hành hình ở Treblinka. Tháng tư năm 1944 trốn khỏi trại tập trung, lang thang, lẩn tránh trong rừng hai tháng để tìm đường về phía đông và cuối tháng sáu đã đến được Grodno vì nơi đây có bố mẹ và nhà cửa; bố làm nghề lái tàu.

Tại sao chúng tôi chú ý tới Stankevich?.. Vấn đề là ở chỗ Treblinka không phải chỉ là một trại tập trung trừng phạt mà là một nhà máy liên hợp giết người, ở đây không những chỉ có những người bị đưa từ Ba Lan tới mà còn từ khắp châu Âu và những người này sẽ bị thủ tiêu ngay sau mấy tiếng đồng hồ. Chỉ còn lại một số ít những người nào được thoát chết thì sẽ bị làm những công việc kinh khủng khác và họ cũng sẽ bị giết sau vài tuần hoặc thậm chí có thể sau một tháng là cùng, và họ sẽ phải đóng dấu vào tay. Tôi hôm đó chúng tôi lại xác định được rằng Stankevich, cựu tù binh, nạn nhân của trại Treblinka đã ở đấy với một thời hạn không bình thường, gần hai năm, nhưng trên tay lại không có dấu kiểm tra cá nhân gì cả.

Khi vào làm việc ở đây, những người mà chúng tôi nghi ngờ đã đưa trình những giấy tờ, chứng minh thư cá nhân, phần lớn những thứ đó là do các cơ quan quân sự Đức cấp cho nhân dân vùng bị chiếm đóng. Những giấy tờ đó không có gì làm căn cứ để tin được. Chúng tôi buộc lòng phải xác định xem trong vòng hai ba năm nay, bọn họ ở đâu, làm gì.

Trong số mười ba người cần xác minh rõ hơn, chúng tôi chỉ làm được có tám người. Chúng tôi đã có hình ảnh, đặc điểm của họ để đối chiếu, so sánh với hình dáng những tên đang bị truy lùng và đã chất vấn các hồ sơ của tất cả tám người để xác định những vấn đề cần thiết. Thật đáng tiếc vì hai phần ba lãnh thổ Ba Lan còn nằm trong vùng bị Đức chiếm đóng, do đó đã gặp nhiều khó khăn cho nhiệm vụ của chúng tôi.

Tôi trở về Lida khi trời đã tối. Trong một ngày mà phải chịu bốn chuyến bay, bốn lần hạ và cất cánh và hơn nữa, những đợt xóc kinh người – quả là quá sức chịu đựng đối với một sĩ quan mặt đất như tôi. Nhất là chuyến bay về, người tôi nôn nao khi máy bay bị chao đảo, lắc lư tới hàng trăm mét, tôi cảm thấy ruột gan bị chao lộn. Do đó khi máy bay vừa hạ cánh, tôi cảm thấy khoan khoái lâng lâng, bước ra sân bay Lida, đi trên mặt đất cứng cáp, vào thẳng ban phản gián quân đoàn không quân; tôi lảo đảo như anh say rượu và, lúc bấy giờ tôi chả thiết gì hơn là được nằm nghỉ hoặc lăn ngay ra bãi cỏ xanh mát mà hít thở mùi thơm nóng của đất đai và cỏ xanh.

Cạnh ngôi nhà của ban phản gián có các tay súng tiểu liên canh gác, thấy có gần chục chiếc xe ô tô và hai mô tô ba bánh với các lái xe sẵn sàng.

Ngay bên thềm nhà, ba sĩ quan khoác áo mưa đang thì thầm nói chuyện, nhưng khi thấy tôi đến gần, họ liền im lặng. Khi tôi vừa lên đến bậc thềm cửa phòng bật mở, và từ trong nhà, một quân nhân ria mép đen rậm, mặc áo khoác da, đội mũ lưỡi trai cùng màu bước vội ra, đi gần như chạy.

- Đồng chí thiếu tướng, chúng tôi ở đây! – một người trong nhóm đứng chờ, lên tiếng gọi vị thiếu tướng.

Tôi đoán ra ngay, đây là tướng Lobov, cục trưởng cục bảo vệ hậu phương mặt trận.

Khu nhà lớn gần lối vào bên phải đầy các sĩ quan mới đến, họ đứng, ngồi trên các dãy ghế, thì thầm trò chuyện, uống nước chè và cũng ngay trên những chiếc bàn lớn cạnh đấy, người thì cạo râu, người lau súng và thậm chí có người ngủ ngay trên sàn nhà.

Ngoài hành lang có hai quân nhân khoác áo choàng, đội mũ biên phòng, một người đang lúi húi ghi chép gì đó vào sổ tay, còn người thứ hai, khi đi ngang tôi thoáng nghe anh ta nói với bạn:

- Còn vấn đề nữa, cậu hỏi rõ thêm là, chó nhốt ở đâu và ai cho chúng ăn uống? Có lệnh tăng thêm khẩu phần cho chúng chưa?

Egorov và Polyakov đang đứng trong phòng làm việc của trưởng ban phản gián. Trung tướng đang báo cáo bằng “VT” với Mátxcơva về biện pháp truy lùng vụ “Neman”.

Tôi muốn khép ngay cửa lại, nhưng trung tá đang nói chuyện điện thoại với ai đó theo đường dây địa phương, vừa trông thấy tôi liền ra hiệu gọi lại và chỉ tôi ngồi xuống ghế.

- Tôi không thể giúp đỡ gì được đâu, trung tá tiếp tục nói, – đồng chí đại tá cận vệ, đây là lệnh của tham mưu trưởng mặt trận đấy... Các chiến sĩ mới đến tốt hơn phi công của đồng chí điểm gì thì đồng chí cứ hỏi trực tiếp tham mưu trưởng... Sao? Hãy để các sĩ quan trực nhật ở lại, còn hai trại lính kia phải giải phóng ngay, tôi xin nhắc lại, phải giải phóng ngay!.. Tôi đã nói xong!..

Qua câu nói của Egorov và nét mặt nghiêm trang, giọng nói kiên quyết của ông, tôi hiểu ngay tình hình ở đây đang rất khẩn trương. Trung tướng có vẻ như đang suy nghĩ; ông trả lời dứt khoát, rõ ràng, những giọng nói lại có vẻ biện hộ nhiều hơn. Cuối cùng, ông để ống nghe sát miệng hơn, nói vẻ tin tưởng:

- Hãy hứa và khẳng định với thượng tướng và Tổng hành dinh rằng, chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể được và tôi hy vọng ngày mai hoặc cùng lắm là ngày kia, chúng tôi phải bắt được chúng.

Đặt ống nói xuống, ông đứng lên, đi lại cửa lớn và có lẽ bây giờ mới nhìn thấy tôi, ông liền hỏi ngay theo thói quen:

- Anh đấy ư? Có gì mới không?

Tôi chưa kịp lời, chỉ vừa kịp đứng lên giơ tay chào thì ông có vẻ như đã hiểu rằng, tôi cũng chả có tin gì mới hơn, cứ đi thẳng qua cửa, với tay đóng cửa lại, nhưng không đi hẳn mà bỗng quay phắt lại nói với tôi rằng, sở dĩ tôi bám lấy Nikolaev và Sentsov là vì không có mục tiêu nào tốt hơn, rằng đáng lẽ ra phải xác minh ngay từ trước, đừng để phí tới ba hôm vì họ.

Ngay lúc đó, hình như sực nhớ, ông hỏi luôn:

- Có tìm thấy chiếc xẻng không?

- Anh ấy vừa ở Grodno và Bialystok về và không tham gia vào việc này... – trung tá vội đáp thay tôi. – Việc tìm chiếc xẻng do trung úy Blinov phụ trách.

Trung tướng liền đóng mạnh cửa, quay đi.

Tôi báo cáo với Polyakov về những kết quả của công việc ở Grodno và Bialystok, báo cáo về những người mà chúng tôi cần chú ý – và trong số đó, trung tá chú ý nhất đến hai anh em Komarnitsky.

Theo ông cho biết thì vẫn chưa có tin tức gì mới. Mátxcơva đề nghị dùng bộ đội lớn để lùng sục, nhưng trung tướng và trung tá Polyakov nhận định không thể thực hiện được việc đó và cũng chưa chắc đã có kết quả lắm nên đã đề nghị bỏ kế hoạch đó. Nhưng dầu sao thì cũng cứ phải chuẩn bị tích cực hơn cho khả năng đó. Ở Lida và Vilnius đã điều động tới chín trung đoàn biên phòng và các đơn vị công binh. Làm sao để đến tảng sáng ở cả hai khu vực này sẽ có khoảng bảy ngàn bộ đội, khoảng ba trăm xe tải và ít nhất cũng phải một trăm tám mươi chó săn.

Polyakov đang định đến gặp các sĩ quan mới được điều động đến để phổ biến các chỉ thị cần thiết. Ông thấy hết sức cần thiết phải hướng dẫn, dặn dò kỹ càng những người mới đến, nhất là các sĩ quan bộ binh và ông đề nghị cho tôi đi cùng.

- Blinov giờ ở đâu? - Nhìn đồng hồ, ông hỏi. - Đáng lẽ cậu ấy phải về rồi. Ta chờ cậu ấy rồi cùng đi vậy...

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vladimir Bogomolov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.