Khi cùng với Alekhin từ sau hàng cây đi ra gặp ba người lạ mặt, anh đã có một điệu bộ rất nghiêm trang và dồn hết tâm trí vào việc thầm nhắc lại những hành động và nhiệm vụ sắp thực hiện của mình.
Trong suốt cả buổi, từ sáng tới trưa, với ba chỉ thị nhận được và qua những điều đã thấy tại sân bay, anh đã được chuẩn bị tư tưởng để đón nhận một cái gì đó thật là quan trọng, thật là đặc biệt, đòi hỏi một tinh thần trách nhiệm rất cao. Thế mà tất thảy hóa ra lại rất bình thường, thông lệ như chuyện hàng ngày vẫn xảy ra.
Nếu như những giấy tờ của ba viên sĩ quan bị xét hỏi đó, về khách quan mà nói, là hoàn toàn đầy đủ và hợp lệ, thì trong khi kiểm tra, do sự trùng hợp các tình huống đã phát hiện thấy những điểm khá quan trọng và thật đáng tin cậy đối với riêng bản thân anh, Anikushin. Đó là: tờ công lệnh, ngoài những dấu đặc biệt và bí mật – dấu chấm thay cho dấu phẩy – về điểm này, một cán bộ công tác đặc biệt tại một đơn vị đồn trú vừa mới báo cho biết ngày hôm qua – cũng còn có, ở mặt sau, những vạch tím khá quen thuộc cùng với những hình Sin, con dấu của các Ban quân quản ở Vilnius và Lida và cả chữ ký của chính tay anh – đại úy Anikushin; nếu như thậm chí cứ cho rằng, có thể nhầm lẫn, có thể đã bỏ sót không nhận ra một điều gì đó, thì trong các mệnh lệnh, Ban quân quản Vilnius của anh thường được biểu dương, được nêu gương cho các nơi khác noi theo do việc kiểm tra giấy tờ tiến hành có chất lượng cực tốt, do các sĩ quan và chiến sĩ đều có tính cảnh giác cao và đã bắt giữ được khá nhiều kẻ gian ở tại đó khó mà có thể có sai lầm được; chứng chỉ về thương tích, tình cờ thấy trong cuốn chứng minh thư sĩ quan của Elatomtsev, đã được chính cái y viện dã chiến nơi Anikushin từng nằm điều trị hồi mùa xuân vừa qua cấp. Khi ấy y viện đặt ở Vyazma, sau đó người ta đã chuyển nó về sau chiến tuyến ở Lida và các thương binh mới bình phục đã được đưa về y viện này. Họ thuộc diện những người được điều trị tiếp và bồi dưỡng tốt để có thể mau chóng trở về các đơn vị chiến đấu. Do đó, mà tất cả những gì nêu ra trong loại giấy tờ chứng chỉ đó đều hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế.
Anikushin được xuất viện vào trung tuần tháng sáu, còn Elatomtsev thì một tháng rưỡi sau đó. Cả hai người đều nằm ở các khoa điều trị khác nhau, nhưng giấy chứng chỉ thương tích của họ đều có cùng một chữ ký giống nhau của viện trưởng, trung tá quân y Kudinov, loại chữ ký rất đặc sắc, với đường nét ngoằn ngoèo rắc rối, chạy thông liền một mạch.
Do một sự trùng hợp các điều ngẫu nhiên mà ngay cả các vết thương của họ cũng khá giống nhau: ở cả hai người, phía lồng ngực bên phải đều bị xuyên thủng, cho nên đều phải làm ép phổi nhân tạo; có điều là Elatomtsev bị mảnh đạn cối, còn Anikushin thì xơi cả một loạt bốn viên đạn súng máy và một viên đạn đó gài lại ở phần phía trên cùng lá phổi, và người ta đã không thể hoặc do vì nó nằm ở quá sát gần động mạch chạy phía dưới xương bả vai, gắp lấy viên đạn ra, đành để nó nằm đấy vậy. Chính cái mẩu kim loại ác nghiệt này đã cản trở, hạn chế phạm vi hoạt động của anh ở quân đội.
Việc Anikushin không biết mặt Elatomtsev không có gì đáng ngạc nhiên: tổng cộng trong cả bốn khoa điều trị có đến bốn nghìn người tất cả, hơn nữa phòng giải phẫu số ba lại ở tách riêng biệt ra một nơi, trong một ngôi nhà khác.
Và bây giờ đây, nhân vật mà Elatomtsev gọi là trưởng khoa giải phẫu số ba, thiếu tá Lozovsky, thì Anikushin biết rõ lắm. Lozovsky vốn là một nhà giải phẫu nổi tiếng ở Leningrad và đồng thời cũng là một người rất say mê âm nhạc; như mọi người thường nói, thậm chí trong khi đang mổ, Lozovsky vẫn cứ ngâm nga câu hát trong miệng.
Hầu như cứ mỗi buổi tối, sau bữa ăn, Lozovsky lại tổ chức trong phòng ăn của khoa mình một giờ nhạc cổ điển. Đồng chí đưa đến một số đĩa nhạc lấy ở trong bộ sưu tập của mình để quay nghe, trong số đó có cả những lời ca của các nhân vật trong các vở nhạc kịch do Chaliapin, Sobinov và những danh ca khác biểu diễn.
Anikushin cứ hễ được phép ngồi dậy là nhất thiết phải đến nơi đó ngay; anh nhớ lại Lozovsky người hơi đẫy, tóc đen, chòm râu cằm nhọn vênh nhô ra, hai mảng da nhẵn nhụi không một sợi tóc phía trên hai bên thái dương, thường ngồi đâu đó ở một góc phòng và vừa nghe nhạc vừa lắc lư đầu đúng theo nhịp điệu.
Dĩ nhiên, việc nhắc đến cái tên họ Lozovsky và chữ ký đặc sắc đáng ghi nhớ của người viện trưởng là những chi tiết rất hiển nhiên, có thể tin cậy được đối với Anikushin, nhưng lại chẳng nói, mà còn chắc chắn là không thể nói lên được điều gì với Alekhin cả. Trong thời gian kiểm tra giấy tờ Anikushin đã nhìn nhận người cán bộ công tác đặc biệt này dường như theo một cách khác hẳn: đó là một người thiển cận, chậm hiểu đến xấu hổ, khi đọc thì thì thầm đánh vần từng chữ một và thậm chí cũng không biết che giấu cái vẻ đần độn ngu ngốc của mình nữa. Alekhin khi thì cầm lấy giấy tờ, khi thì chẳng xem xét gì cả mà bắt đầu đưa trả (đã hai lần trả lại không đúng người mà mình vừa nhận giấy) sau đó, hình như sực nhớ lại điều gì, lại cầm lấy rồi lại đưa trả lần nữa. Những câu nói mà Alekhin cứ nhắc đi nhắc lại luôn miệng theo mỗi động tác của mình như “đồng chí biết đấy”, “đồng chí hiểu đấy”, “như vậy”, “cái này”, “có nghĩa là”, càng nhấn mạnh tính chất nghèo nàn trong ngôn ngữ của mình và sự trì trệ của một trí tuệ quá kém cỏi: trong khi Alekhin phải chật vật tìm hiểu nội dung một loại giấy tờ thì Anikushin lại thừa sức quan sát một cách chăm chú, tỉ mỉ nhất tất cả giấy tờ của ba viên sĩ quan đó.
Trước khi xảy ra cuộc kiểm tra này mà không thấy Alekhin tỏ ra là một người quá thô thiển, cổ sơ như vậy, thì điều đó cũng dễ hiểu thôi. Trên suốt chặng đường đi từ cửa rừng và tại đây, tại lùm cây thưa này, Alekhin chủ yếu vẫn là ra lệnh, ra chỉ thị này nọ, nghĩa là vẫn chỉ lặp lại những câu nói rập khuôn sẵn, đã quen thuộc, chỉ nói cái điều mà anh ta đã từng phải nói ra, có lẽ đến hàng chục lần, nếu không muốn kể là nhiều hơn nữa. Thêm vào đó, Anikushin quá bận tâm về việc riêng – Lenochka và buổi tối sắp tới, – nên nghe Alekhin nói chẳng qua vì sự cần thiết, nhưng cũng chỉ thu hẹp trong việc cần sớm làm rõ thêm những nhiệm vụ của mình trong ngày hôm nay mà thôi. Do đó, Anikushin đương nhiên không cần phân tích ý tứ câu nói của Alekhin làm gì cả.
Còn giờ đây, khi phải suy nghĩ, đánh giá từng vấn đề, thì tất nhiên cái nghèo nàn trong tư tưởng Alekhin bộc lộ rõ ra ngay. Và cả cái tính bướng bỉnh vô lý đến lố bịch của anh ta cũng phơi bày hết cả. Anikushin biết rõ rằng, những con người như vậy không chịu thừa nhận những sai lầm và tính chất vô căn cứ trong những điều nghi ngờ của mình bao giờ cả.
Những giấy tờ loại thứ yếu – như số ghi quân trang quân dụng, số lương, phiếu cấp lương thực, giấy phép hành trình và các chứng chỉ khác thì khi ở Ban quân quản cũng như khi gặp đội tuần tiễu kiểm tra cũng bị người ta xét hỏi, nhưng chỉ trong những trường hợp các thứ giấy tờ chủ yếu đã gây ra những mối nghi ngờ nào đó mà thôi.
Còn tại đây, những tờ chứng minh thư cá nhân và giấy công lệnh không có gì có thể chê trách được, nên cũng chẳng có lý do gì đòi hỏi xuất trình những giấy tờ khác, theo như Anikushin nhận định. Chính vì thế mà Anikushin đã bỏ không làm cái việc đó và còn lấy làm sung sướng thấy rằng, không có mình tham gia, Alekhin cũng làm xong được các công việc kiểm tra thứ yếu ấy.
Những giấy tờ liên quan đến vấn đề đảng, theo quy định của ban quân quản, không nên xét hỏi; chỉ làm việc đó trong những trường hợp đặc biệt, khi đã có những căn cứ thật chắc chắn. Vì vậy, Anikushin thậm chí cũng chẳng chạm tay tới tấm thẻ đảng. Nhưng khi Alekhin bình thản mở một thẻ đảng ra xem, Anikushin cũng liếc mắt nhòm vào một loáng và phát hiện thấy, một điều cũng khá quan trọng: Elatomtsev gia nhập đảng vào tháng mười năm bốn mươi hai, đúng vào cái thời kỳ có lẽ là gay go, nghiêm trọng nhất đối với Tổ quốc Xô viết.
Thế mà đối với người sĩ quan ấy, một chiến sĩ ở tiền tuyến có nhiều thành tích, đã từng theo đúng nghĩa đen của từ ngữ – đem ngực mình ra để bảo vệ Tổ quốc, một người đã trực tiếp tham gia phòng thủ Mátxcơva, cái thành phố thân yêu nhất đối với Anikushin, Alekhin lại có thể vẫn cứ một mực nghi ngờ điều gì đó. Và như vậy, tất nhiên là còn có cả ý định tiến hành việc khám xét nữa. Tất cả những cái đó cuối cùng đã khiến cho Anikushin cứ mỗi lúc một cảm thấy bất bình; nỗi bất bình cứ tăng lên đối với những hành vi của người cán bộ công tác đặc biệt đó và càng có ý muốn hoặc càng thấy cần thiết phải, bằng một cách nào đấy, bày tỏ sự phản đối của mình, bộc lộ hẳn thái độ hoàn toàn phủ định của mình đối với những gì đang diễn ra.
Người cha thân yêu của anh, đã nhiều lần nói với chính anh và em trai nay không còn nữa của anh rằng, mỗi một người phải chịu trách nhiệm trước hết về chính bản thân mình và, do đó, cũng vừa là người thẩm phán có đầy đủ thẩm quyền nhất đối với chính bản thân mình. Cha anh lại còn giảng giải rằng, trong những tình thế phức tạp, đòi hỏi sự quyết định độc lập, một con người Xô viết phải hành động theo đúng lương tâm và lòng tin của mình.
Lời giáo huấn đó, Anikushin, trong chiến tranh, đã tuân theo một cách thật nghiêm ngặt, và trong mọi trường hợp, kết cục lại nó đã tỏ ra là đúng đắn.
Bản thân anh cũng đã thu nhận được một thí dụ gây ấn tượng mạnh mẽ nhất về tính đúng đắn và sự sáng suốt chứa đựng trong lời giáo huấn của cha mình. Đó là sự việc xảy ra cách đây đã hai năm, vào một thời đoạn hết sức nặng nề khi phương diện quân bị tổn thất hơn một nửa quân số qua các trận chiến đấu liên tục, nên vừa phải rút lui về sông Volga, vừa chống cự lại mãnh liệt và chiến đấu đến người lính cuối cùng để bảo vệ mỗi một vị trí của mình.
Bọn Đức thì đã chia cắt sư đoàn của họ ra từng bộ phận nhỏ, và Anikushin, cùng với số quân còn lại của tiểu đoàn gộp lại thành một lực lượng nhỏ có độ một trăm rưỡi chiến sĩ, bị vây chặt bốn phía, tại ngay địa điểm hai con đường đất trên thảo nguyên chạy giao nhau.
Về chức vụ đảm nhiệm và về cấp hiệu sĩ quan, anh là người chỉ huy thứ nhì của đơn vị. Anh đã cùng với một đại úy ở trung đoàn bạn khẩn cấp tổ chức ngay vị trí phòng thủ vòng tròn. Đại úy này là một sĩ quan dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, đã được tặng thưởng ngay trong năm đầu tiên của chiến tranh, lúc đấy chưa thấy có ai được khen tặng gì, hai huân chương Cờ Đỏ.
Mặc dầu bị hai vết thương vào đầu và vai, đại úy vẫn tỏ ra kiên cường trong chiến đấu và đã xác định hướng tác chiến và ra mệnh lệnh trong các tình huống chiến đấu một cách xuất sắc. Sự dũng cảm và thái độ điềm tĩnh đến độ lạ lùng của đại úy đã đủ bằng sức mạnh của hàng chục chiến sĩ. Sau vài giờ cùng phối hợp với nhau để chống trả quân thù, Anikushin hoàn toàn mến cầm đại úy và thầm cảm tạ số phận là trong giờ phút gay go này đã run rủi bản thân mình bắt gặp được một con người quý báu như vậy.
Hai người đã thề với nhau là chừng nào còn sống sẽ không chịu rút lui, không từ bỏ nơi đây. Còn các chiến sĩ ẩn nấp trong công sự thì nhận thức rõ rằng, đối với tuyệt đại đa số các chiến sĩ, đây là ranh giới cuối cùng trong cuộc đời rồi. Họ đang đào xẻ những đường hào chiến đấu phát triển theo cả hai đấu thì chiều tối hôm đó, qua điện đài, nhận được một mệnh lệnh hoàn toàn bất ngờ: toàn thể các đơn vị của sư đoàn phải bỏ lại tất cả các binh khí kỹ thuật lẫn quân trang quân dụng không thể mang theo được, xuyên qua phòng tuyến địch, không được ham tiếp chiến (để bảo toàn sinh lực), lập tức rút về hướng đông, về phía sông Volga.
Xem ra, tất cả thế là rõ ràng, không đòi hỏi phải suy nghĩ tìm hiểu gì nữa, nhưng Anikushin sau một lát suy tính đã tuyên bố với đại úy rằng, đã không có mệnh lệnh bằng văn bản có đóng dấu và các chữ ký của tư lệnh sư đoàn và tham mưu trưởng thì cả đồng chí lẫn những người trong đoàn của đồng chí sẽ không chịu rời bỏ nơi đây.
Đại úy đã tìm mọi cách thuyết phục, khuyên can, gọi anh là con người “hình thức chủ nghĩa”. Đại úy lên án Anikushin đã coi trọng mảnh giấy hơn việc bảo toàn sinh mạng cho hàng trăm con người; rằng anh có thể sẽ bị xử bắn vì việc cưỡng lại mệnh lệnh như vậy. Hai người ngồi ở đáy một hồ đạn pháo khoét thành hình phễu giữa đám bụi vẫn lên, cố không thét to để các chiến sĩ không nghe thấy, tranh cãi với nhau đến khản cả giọng, nhưng cuối cùng mỗi người vẫn khăng khăng với ý kiến riêng của mình, chẳng giải quyết được gì cả. Và đến quá nửa đêm, đại úy tập hợp số chiến sĩ của mình lại, giải thích và hạ lệnh, rồi lợi dụng bóng tối đen đặc để thực hiện cái mà Anikushin cho là không thể nào làm được. Đại úy đã dẫn tất cả năm chục người của mình đi lọt qua tuyến quân Đức bố trí, một cách lặng lẽ không tốn một phát đạn.
Còn Anikushin đã cùng với số quân của mình ở lại tiếp tục phòng ngự. Và vài giờ sau anh đã phải chịu đựng một cuộc tấn công ghê gớm nhất của bọn Đức trội mạnh hơn về quân số. Để tránh trước những thì thào, đồn đại nhằm bậy, anh đã báo cho các chiến sĩ biết số anh em cùng với đại úy ra đi là để thực hiện một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và nguy hiểm do bộ tư lệnh giao phó.
Vốn lớn lên trong một gia đình cán bộ quân sự và ngay trước khi gia nhập bộ đội đã biết rõ rằng, mệnh lệnh của thủ trưởng là một thứ luật pháp đối với các cấp dưới; mọi điều lệnh đều phải được thi hành vô điều kiện, thật chính xác và đúng hạn; vậy thì Anikushin đã để cho cái gì quyết định thái độ cố chấp ương bướng của mình, quyết định những hành động của mình mà xét về thực chất thì đó là những hành động tùy tiện?.. Trước hết là vì anh đã hiểu hết cái chân giá trị của chỗ ngã tư, nơi hai con đường quan trọng nhất chạy giao nhau này, trước sự tấn công của quân Đức. Tóm lại là anh đã có cái ý muốn da diết không chịu để cho quân thù thọc sâu vào trong lãnh thổ nước mình. Và lại, mệnh lệnh nhận được của ban tham mưu sư đoàn đã mâu thuẫn không chỉ riêng với niềm tin của anh, mà còn cả với mệnh lệnh số 227 nổi tiếng của Bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng. Một mệnh lệnh được coi như cái gốc, cái nền tảng nguyên lý trong thời kỳ gay go, mà trước đó không lâu, chính bản thân Anikushin cũng như tất cả các sĩ quan chỉ huy khác đã hai lần được biết, được đọc. Đó là lần tại đơn vị chiến đấu và lần ở hầm tránh đạn pháo của ban tham mưu; khi đọc xong phải ký và thừa nhận là: “đã được biết”. Một số câu của văn bản lịch sử có chữ ký của chính tay Stalin, cho đến bây giờ anh còn nhớ từng chữ: “... bảo vệ từng vị trí một đến giọt máu cuối cùng... bám chắc từng mảnh đất Xô viết và bảo toàn nó với khả năng cuối cùng...”
Mệnh lệnh số 227 mà nội dung có thể được diễn đạt một cách ngắn gọn nhất: “Không lùi một bước nào!” hoặc “Giữ vững đến chết!”. Mệnh lệnh đó đã ngăn cấm trên thực tế bất kỳ kiểu rút lui nào, điều đầy hoàn toàn phù hợp với niềm tin của Anikushin; và trong cuộc tranh cãi với đại úy, người đã hai lần được tặng thưởng huân chương Cờ Đỏ, anh đã nhấn mạnh nhiều nhất đến cái nguyên lý cơ bản đó. Tuy nhiên, để đáp lại, đại úy đã nói một cách xác đáng và chỉ lý rằng, trong quân đội cần phải chấp hành cái mệnh lệnh cụ thể cuối cùng, cho dù nó trái hẳn với tất cả các mệnh lệnh đã có trước đây. Công việc của hai người lúc này không phải là bàn luận, đã có các thủ trưởng các cấp lãnh đạo suy nghĩ thay cho họ rồi, còn họ thì chỉ là những người chấp hành, người thực hiện mà thôi.
Việc Anikushin cứ nằng nặc phải nhận được của sư đoàn một văn bản chính thức có hai chữ ký và hình con dấu đóng hẳn hoi, xét theo phía anh, trong hoàn cảnh hoàn toàn bị bao vây, thực ra không phải là cái gì khác hơn là một cái cớ, một thứ chiêu bài che đậy, vì anh biết rõ rằng, không thể nào làm được như vậy. Anh không phải là một kẻ quan liêu giấy tờ, cũng không phải là người ưa chuộng hình thức gì cho cam, nhưng chính cái cách thức truyền đạt một mệnh lệnh rút lui hết sức bí mật bằng điện đài, với một nguyên văn lộ liễu công khai ấy đã gây nên ở anh sự bất đồng và nhiều mối hoài nghi.
Đối lập lại với cái quan niệm này của Anikushin, đại úy đã nhận xét một cách hợp lệ và hoàn toàn có căn cứ rằng, trong trường hợp bị đối phương bao vây bằng một lực lượng mạnh hơn nhiều, thì phải hủy bỏ ngay các thứ mật mã đi và về cái điểm này ở ban tham mưu người ta cũng đã tính, đã cân nhắc và nhìn thấy rõ trước hết cả rồi.
Khi ấy, trong những giây phút qua đi rất mau để cho Anikushin đi tới cái quyết định rất có trách nhiệm đó, anh ít suy nghĩ đến bản thân và số phận của mình nhất, mà chỉ suy tính tìm cho ra một giải pháp nào đó thật là hợp lý hơn, thật là hữu ích hơn, trong tình hình cụ thể của anh và các chiến sĩ trong đơn vị đối với Tổ quốc. Rút lui không chiến đấu, đồng thời bỏ lại hoặc hủy bỏ một phần vũ khí và quân trang quân dụng, theo anh, là một hành động ngốc nghếch đến ngây thơ, nếu không phải là một tội lỗi; cho nên, anh không thể nào hiểu nổi tại sao ở sư đoàn người ta đã suy tính đi tới cái hành động quả là vô lý như vậy được. Rút lui nhanh chóng về phía sông Volga để đạt tới cái gì kia chứ! Để bố phòng tại một vị trí quá về phía đông hàng trăm cây số, rồi sau đó lại đánh chiếm lại chính cái mảnh đất này ư? Có thể ẩn dấu trong sự việc đó một ý nghĩ nào đây chăng? Không hề có!.. Sẽ là một sự thể khác hẳn, nếu như bọn họ sẽ ở lại, đem sinh mạng của họ ra mà ngăn chặn bước tiến của quân thù, dù chỉ là trong một thời gian thôi, – theo ý Anikushin cũng chỉ có làm như vậy trong tình hình nguy biến này mới có thể là hoàn thành thật sự nhiệm vụ chiến đấu của họ.
Với một lực lượng dưới một trăm binh sĩ và hai súng cối, một khẩu tiểu pháo đã bị gãy tan mắt thước ngắm, Anikushin đã chống trả được với quân thù hơn một ngày đêm, không cho chúng tràn qua, chia cắt vị trí bố phòng của mình cho đến khi lữ đoàn cơ giới cận vệ đến ứng cứu chi viện; lữ đoàn này đã đánh thọc sườn, xuyên qua đội hình quân Đức và rồi thay thế, tiếp quản vị trí chiến đấu của họ.
Về sau mới vỡ lẽ là cái mệnh lệnh cho rút lui đó là do chính tên phó trưởng phòng tác chiến của ban tham mưu sư đoàn, một kẻ đã bị quân Đức bắt làm tù binh và dụ dỗ đến đầu hàng phản bội, truyền đạt đi bằng điện đài. Giọng nói của y, các chiến sĩ điện đài tại các trung đoàn đều quen biết, vì vậy mà cái mệnh lệnh giả mạo đó đã được ba trong năm đơn vị thi hành ngay lập tức. Kết quả là mặt trận đã bị hở và đứt đoạn tại hai khu vực không lớn lắm, và những cán bộ chỉ huy chịu trách nhiệm về sự kiện tai hại đó cũng như viên đại úy dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, do đã rút lui về hậu tuyến, đều đã bị xử bắn ngay sau một cuộc điều tra, xét hỏi khẩn trương.
Còn Anikushin thì trong sự tự ý riêng của mình, đã tỏ ra là đúng đắn và được khen thưởng huân chương Chiến tranh Vệ quốc vì sự dũng cảm và phẩm chất anh hùng, biểu hiện ra trong khi giữ vững vị trí quan trọng có tầm chiến lược. Cái sự kiện đã xảy ra này càng đặc biệt khẳng định, cùng có trong anh sự cần thiết không bao giờ được biến bản thân mình thành một con vẹt, một kẻ thừa hành vô ý thức, mà là trong những tình huống phức tạp phải hành động thật phù hợp với những gì lương tâm và niềm tin tưởng của con người đã mách bảo. Cũng nhân thể nói thêm, là hồi bấy giờ, vào dạo tháng bảy năm bốn mươi hai đầy những tai biến tưởng như có thể làm tiêu vong hết thảy, đã xảy ra một chuyện, hầu như làm bột phát ra cái thái độ ác cảm của Anikushin đối với những chiến sĩ công tác đặc biệt. Trong một cuộc chiến đấu tự phát ban đêm, gần như không có sự chỉ huy gì cả, có tính cách như một ý đồ táo bạo về sử dụng lực lượng nhỏ để đánh bật quân Đức ra khỏi vùng ven Tsimlyanskaya, người ta thấy biến mất, không còn một tăm tích nào, cả ba chiến sĩ trong đại đội của Anikushin.
Một tuần lễ sau đó, cũng vào một đêm tồi tệ như đêm chiến đấu vừa rồi của vùng đất miền Nam, Anikushin đã được đặc ủy viên phòng công tác đặc biệt Kamalov triệu gọi tới căn hầm riêng. Là một trung úy trẻ măng, người thấp nhỏ, Kamalov suốt đêm tới sáng, bên ngọn đèn dầu, đã gạn hỏi cặn kẽ Anikushin xung quanh vấn đề anh đã dựa vào cơ sở nào mà hạ lệnh cho viên thư ký đơn vị ghi vào các tờ phiếu kiểm tra quân số lời nhận xét này về mới người mất tích đó: “mất biệt tăm”. Kamalov còn gọi Anikushin tới vài lần nữa, Mà không hiểu sao cứ nhất thiết lần nào cũng cách hai đêm lại gọi, và về sau, trong một lần lui tới căn hầm đặc biệt đó, vấn đề mới trở nên sáng tỏ: người cán bộ công tác đặc biệt nghi ngờ rằng, lời nhận xét mất biệt tăm được ghi vào theo chỉ thị riêng của Anikushin để... che dấu và... ngụy trang cho sự việc ba người chiến sĩ đó đã chạy sang đầu hàng quân Đức.
Một sự nghi ngờ nào vô nghĩa hơn, phi lý hơn, chính bản thân Anikushin cũng chưa thể tưởng tượng ra nổi. Cả ba người chiến sĩ đó là quân bổ sung cho đơn vị anh và họ đã được thu nhận ngay trước lúc trận đánh bắt đầu. Anikushin không những đã không biết họ, mà thậm chí còn, sự thể đúng là như vậy, chẳng nhìn thấy rõ mặt mũi họ nữa. Anh không chút hoài nghi về việc những kẻ biến mất đã hy sinh trong cuộc tấn công không có kết quả đó, nhưng ngay nếu như cứ cho rằng, họ đã sống sót, còn nguyên vẹn cả và đã thực sự chạy sang hàng ngũ quân Đức thì bản thân Anikushin có quan hệ gì đến chuyện đó kia chứ?!
Cái cơ sở duy nhất của những mối hoài nghi của Kamalov là sự việc ba người đó đã từng sống tại vùng quân địch tạm chiếm đóng. Nhưng anh, Anikushin, thì không từng sống ở đó! Và cũng không hề đã bị bắt làm tù binh hoặc bị bao vây một thời gian nào! Và cũng chẳng có họ hàng bà con nào, dù là họ hàng xa đi nữa, bị can án tù đấy hoặc đang ở nước ngoài!
Cả trong đời sống thực tế, cả qua tất cả các bản tự khai, Anikushin là người không có điều gì đáng phải chê trách; và anh thật là trong sạch, tinh khiết như pha lê ấy. Thế nhưng, người cán bộ công tác đặc biệt đó lần nào cũng quan tâm đến những vấn đề về tiểu sử của anh, đặt ra những câu hỏi hoàn toàn giống nhau về ông bố và bà mẹ anh, ngoài ra, còn cứ cần mẫn ghi vào những mảnh giấy một số câu trả lời giống nhau của Anikushin.
Cứ mỗi lần bị triệu gọi tới vào ban đêm, Anikushin lại cảm thấy nỗi giận hờn tăng lên và sau đó đã chuyển thành nỗi căm ghét đối với người cán bộ công tác đặc biệt đó. Anh chẳng hề sợ Kamalov; ngược lại, sự nghi ngờ và tính bảo thủ khăng khăng thật vô lý của con người đó, con người mà đêm thứ ba của mỗi lần gặp gỡ đã làm cho anh mất ngủ, những giấc ngủ tối cần thiết trong điều kiện chiến đấu ở tiền tuyến và con người đã giày vò anh bằng những câu hỏi vô nghĩa lý nhất, chỉ càng tổ gây cho anh lòng khinh bỉ và sự điên giận ngầm ngầm. Anh phải cố kìm chế lại một cách miễn cưỡng.
Qua một ngày đã mệt nhừ đến không còn hơi mà thở nữa, Anikushin phải ráng sức lắm mới chịu đựng nổi những cuộc thức đêm chẳng ăn nhập gì cả; đã bắt đầu trả lời Kamalov như cái máy và với một cảm giác đầy căm ghét, vì cứ vẫn bị mãi một nỗi khổ tâm không thể dung thứ làm cho mệt mỏi, sắp sáng đèn nơi rối, sắp chấm dứt tất cả cái chuyện này rối.
Một lần, không còn tự chủ được, Anikushin đã thiu thiu đi, lưng tựa vào vách căn hầm. Thật khó mà nói được rằng, sự tình đó đã kéo dài ra bao lâu, bất kỳ thế nào, Kamalov cũng đã không phá giấc mơ màng đó của anh, đã không đánh thức mà còn kiên nhẫn chờ đợi. Khi bừng tỉnh, dưới ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn giong đêm, Anikushin lại trông thấy, cách trước mặt mình một mét, cái bộ mặt lạnh lùng, gò má cao kiểu người phương Đông, trông thấy vẫn cái nhìn chăm chăm, soi mói như muốn xoáy sâu vào mọi thứ, của cặp mắt lẻ không hề chớp của người cán bộ công tác đặc biệt đó, và đúng một giây sau đó lại nghe thấy – không biết là lần thứ bao nhiêu rồi! – cái câu nói nhỏ nhẹ và điềm đạm:
- Nghĩa là ông cụ thân sinh ra đồng chí xuất thân từ công nhân, còn bà cụ, như đồng chí khẳng định, thì thuộc tầng lớp tiểu viên chức... Có đúng vậy không, đồng chí?
Câu chuyện hoang đường nặng nề về con bò tót lông trắng, chẳng khác nào một cơn ác mộng, một trò ảo thuật ma quái ấy, vẫn cứ tiếp tục cho tới khi anh bị thương và chỉ nhờ được đưa đến y viện để điều trị mà anh đã được giải thoát.
Với bộ mặt gần như bất động, đôi gò má cao và trước hết là với tính cảnh giác và sự cố chấp khăng khăng một mực của mình, những đức tính tất nhiên là rất bản chất đời với cái nghề nghiệp này, Alekhin quả đã gợi cho Anikushin nhớ tới Kamalov. Nhưng cho dù lòng hoài nghi, thiếu tin tưởng và tính ương bướng của những chiến sĩ công tác đặc biệt có to lớn đến thế nào đi nữa, họ tuyệt nhiên không thể và không có quyền làm ảnh hưởng đến quan điểm và tư cách xử sự của Anikushin.
Trong trường hợp cụ thể này, sau việc tìm hiểu cả loại giấy tờ thứ yếu của những kẻ bị kiểm tra, bị xét hỏi, ở Anikushin đã hình thành chín muồi những ý kiến vững chắc riêng của mình. Anh đã không còn hoài nghi chút nào đối với tính chất xác thực của Elatomtsev, Chubarov và Vasin, đối với anh, tư cách cá nhân của họ là hoàn toàn rõ ràng, tuyệt nhiên không gây nên mối nghi ngờ nào nữa, và bất kỳ hành động tiếp diễn thêm nữa của những chiến sĩ công tác đặc biệt đối với các sĩ quan dày dạn chiến đấu này, chỉ có thể được giải thích bằng thứ căn bệnh đa nghi rất nghề nghiệp, bằng tính ương bướng ngoan cố và đầu óc hẹp hòi, thiển cận của Alekhin mà thôi.
Khi anh định đem đối chiếu tất cả những điều đã chuẩn bị và dự phòng của các chiến sĩ công tác đặc biệt với những gì đã gặp phải trong thực tế, anh liền cảm thấy tất cả chuyện đó thật là khôi hài, là bịch.
“Ê, những anh hề!.. Những con chuột chũi đồng lầy! - vừa hân hoan suy nghĩ, anh vừa cố kìm giữ nụ cười mỉa mai, kháy độc và sự da diết thèm muốn hướng cái nhìn diễu cợt của mình về phía bụi cây, nơi những cấp dưới của Alekhin đang ẩn nấp. - Họ đã dựng đứng nên những chuyện gì, có ma quyết được mà thôi!.. Họ đang dùng đại bác để tiêu diệt... chim sẻ kia đấy!.. Đúng là một tấn hài kịch!...”
Gương mặt thông minh, kiên nghị của Elatomtsev, cặp mắt trong sáng, màu ngọc lam, thỉnh thoảng chớp chớp, nheo lại và cung cách ăn nói, xử sự cùng tất cả các giấy tờ của anh ta không gây nên cái gì khác, ngoài mỗi thiện cảm và sự kính trọng. Cả hai người sĩ quan kia cũng vậy: sau việc kiểm tra giấy tờ, họ cũng chẳng làm cho cảm thấy điều gì khác ngoài sự kính trọng, và Alekhin đang chờ đợi một cách uổng công. Khi không tán thành việc khám xét tiếp các ba lô, Anikushin im lặng, nhất quyết đứng tránh xa ra một phía.
Không có Anikushin, Alekhin rồi sẽ cứ việc mà hoàn thành lấy công việc, cũng như trước đó Alekhin cũng đã từng làm xong nhiệm vụ khi tự ý mình đòi hỏi kiểm tra các thứ giấy tờ phụ, không quan trọng khác nữa. Còn nếu vì lý do mà Anikushin, trong trường hợp này không chịu tham gia hành động và có sự bắt bẻ sẽ được người nào đó báo cáo, phản ánh thì Anikushin sẽ không chịu câm lặng đâu. Anh sẽ viết báo cáo gửi cho trưởng Ban quân quản thành phố hoặc thậm chí gửi cả cho thủ trưởng cấp cao hơn nữa, và sẽ trình bày thẳng thắn quan điểm của mình. Điều đó hoặc sẽ làm vừa lòng hay không làm vừa lòng những người công tác đặc biệt, nhưng anh đã mang cái đầu của mình trên vai thì đã và sẽ không cho phép mình trở thành một kẻ thừa hành mù quáng, vô ý thức bất kỳ những mệnh lệnh chỉ thị nào, trong đó kể cả những chỉ thị, mệnh lệnh thật vô nghĩa lý nữa!..