Tháng Tám Năm Bốn Tư

Lượt đọc: 915 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
56. Ở TỔNG HÀNH DINH BỘ TỔNG TƯ LỆNH TỐI CAO

❊ ❊ ❊

Đúng là Mátxcơva đang sốt ruột và rất căng thẳng. Trong thông báo tình hình hoạt động phản gián quân sự trong ngày đêm 17 tháng tám gửi cho Tổng hành dinh vào sau nửa đêm gồm trên một trang rưỡi, vụ “Neman” chiếm có chín dòng chữ: tóm tắt rằng tại vùng hậu phương của các Mặt trận Belarus III và vùng ven biển Baltic I có một nhóm chỉ huy tình báo địch rất mạnh và dày dạn kinh nghiệm đang hoạt động và đang bị truy lùng tích cực.

Những dòng chữ này chẳng gợi lên một ý nghĩa gì đặc biệt cả, vì hàng ngày, Tổng hành dinh vẫn nhận được những thông báo về hoạt động của các nhóm tình báo địch và thậm chí còn biết được cả những tên gián điệp nguy hiểm nhất.

Nhưng vấn đề ở đây lại động chạm đến một mặt trận mà chỉ còn ngót một tháng nữa sẽ nổ ra chiến dịch có tầm quan trọng về chiến lược. Do đó, sau khi đọc kỹ bản thông báo, Tổng tư lệnh tối cao đã ghi đậm nét bằng bút chì xanh vào góc lề những chỉ thị vắn tắt: Phải chú ý theo dõi và báo cáo tỉ mỉ hơn.

Những ghi chú đó là cơ sở để cơ quan Tổng hành dinh trực tiếp kiểm tra công việc vụ “Nemans” và ngay trưa hôm sau, Tổng tư lệnh tối cao đã nhận được báo cáo đúng hai trang về vụ này. Nhưng mãi tới khuya, đồng chí mới đọc được và đã phát hiện ra hoạt động của những tên đang bị truy lùng này có thể gây cho Mặt trận vùng ven biển Baltic I nguy cơ bị phát hiện địa điểm tập kết bộ đội và các binh đoàn nắm đấm mạnh, do đó, vấn đề này liên quan trực tiếp đến vận mệnh của một chiến dịch có tầm cỡ quan trọng về chiến lược. Tổng tư lệnh tối cao hết sức lo lắng và suy nghĩ về vấn đề này.

Có thể nói rằng, từ nhiều tháng nay chưa lần nào đồng chí lại có trạng thái lo lắng như trong những giờ phút này.

Qua những kinh nghiệm đau xót tháng sáu năm bốn mốt[1] đồng chí đã đánh giá ý nghĩa to lớn của nghệ thuật đánh lừa kẻ địch, đặc biệt là trong lúc chuẩn bị các cuộc tấn công và mở những chiến dịch lớn.

Ngay từ những tuần lễ đầu của chiến tranh, giữa thời kỳ hết sức căng thẳng đó, đồng chí vẫn dành được thời gian chăm chú đọc tác phẩm của các nhà chỉ huy quân sự xuất sắc và các nhà lý luận quân sự nổi tiếng, đặc biệt chú ý đến vấn đề giấu quân và bảo đảm tính bất ngờ trong nghệ thuật quân sự.

Đồng chí đã nhiều lần đưa các vấn đề này ra tranh luận, phân tích với các tướng lĩnh cao cấp.

Có thể rút ra ba thành công chính của tính bất ngờ:

Bất ngờ buộc quân địch phải chịu những quả đấm trong điều kiện không có sự chuẩn bị trước: quân đội và phương tiện quân sự của nó là mục tiêu tốt nhất của những quả đấm này.

Tính bất ngờ buộc quân địch phải vội vàng thay đổi kế hoạch mới, quân địch sẽ mất hẳn tính chủ động, sự sáng suốt và buộc phải hành động bị động để đối phó với hành động của đối phương.

Và cuối cùng, tính bất ngờ đạt được sẽ làm cho kẻ địch giảm lòng tin vào cấp chỉ huy và bọn chỉ huy giảm lòng tin vào bộ tham mưu của chúng và không tin ngay ở chính mình.

Từ đây cần phải nhớ rằng, kết quả của bất cứ chiến dịch nào, phá hoại lớn đều phụ thuộc vào sự bí mật và những hành động nghi binh. Từ đây, cần phải nhớ rằng, sự chiến thắng, mà người ta dành được không phải do yếu tố bất ngờ mà là do yếu tố áp đảo về quân số, đều không mang dấu ấn tài năng của người chỉ huy và, đôi khi nó lại quá đắt. Từ đây cần phải nhớ rằng, phải hết sức tìm mọi cách đánh lạc hướng ý đồ của mình, tạo nên sức ép cùng một lúc trên một số địa điểm khác nhau để buộc kẻ địch phải phân tán lực lượng. Từ đây cần nhớ rằng, cần phải có kế hoạch đánh lừa, làm ra vẻ đang chuẩn bị tấn công vào một nơi nào đó, nhưng thực sự lại đang hết sức bí mật chuẩn bị đánh nơi khác, hết sức cố gắng đẩy quân địch vào tình thế hoàn toàn bất ngờ, bị động.

Từ bài học chua xót của những ngày đầu chiến tranh, những kết luận cần thiết đã được kịp thời rút ra, và ngay từ nửa năm đầu của cuộc chiến tranh này, Hồng quân cũng đã sử dụng những yếu tố bất ngờ một cách thành thạo không kém gì kẻ địch.

Như trong cuộc tấn công gần Mátxcơva chẳng hạn, bộ đội đã được bí mật chuẩn bị và đến giờ phút quyết định, chúng ta đã tung vào trận chiến đầu này những lực lượng dự bị lớn, nói riêng là hai tập đoàn quân mới thành lập được tập kết hết sức tài tình ở phía bắc thành phố, đó là điều bất ngờ hoàn toàn đối với bọn Đức.

Thắng lợi của chiến dịch Stalingrad và những trận đánh lớn ở vùng vòng cung Kursk cũng nhờ vào việc tập kết hết sức bí mật các đơn vị bộ đội tham chiến với nghệ thuật và những biện pháp nghi binh, tung tin tình báo đánh lừa quân địch.

Trong chiến dịch Belarus, chiến dịch vào loại lớn nhất của cuộc chiến tranh này, cũng dành được sự bất ngờ lớn. Thật ra, bảo đảm hoàn toàn kín đáo việc tập trung lớn đạo quân hỗn hợp gồm nửa triệu người với 6.500 xe tăng và pháo tự hành, gần 25.000 súng lớn các loại và hơn 6.000 máy bay, là điều không thể được. Và, như các tướng Đức bị bắt làm tù binh khai rõ, trước lúc tấn công ít lâu, trong các cơ quan tình báo và tham mưu cụm tập đoàn quân Trung tâm Đức đã có những ý kiến hoài nghi. Tuy ý kiến có khác nhau – còn sự nghi ngờ thì vẫn là sự nghi ngờ mà thôi. Bộ đội Xô-viết đã hết sức nghiêm chỉnh chấp hành việc bảo mật, còn những tin tức giả vẫn được tung ra với những chi tiết cụ thể, nhỏ nhặt nhất trên khắp các mặt trận và bảo đảm hoàn toàn đèn nổi kẻ thù dù đã biết được có những sự tập trung quân đội lớn nhưng vẫn cho là sự tập trung giả nhằm mục đích đánh lừa. Bộ tham mưu bộ binh Đức và Tổng hành dinh Hitler cho đến phút cuối cùng vẫn tin rằng, mùa hè năm 1944, các quả đấm chính của Hồng quân không phải là ở Belarus mà có lẽ sâu hơn về phía nam, tức là ở Ukraine. Và bộ chỉ huy Liên xô đã làm cho bọn Đức nghĩ sai về ý đồ của mình nên kết quả của nó là nhóm tập đoàn quân Trung tâm đã bị đánh tơi bời.

Tổng tư lệnh tối cao hết sức tự hào về nghệ thuật đánh lừa, nghi binh kẻ địch và, tại Tehran[2], đồng chí đã vui lòng kể lại với Roosevelt và Churchill[3] việc làm này và Churchill đã nhận định rằng phải dùng cách giả để bảo vệ sự thật.

Còn giờ đây, dù chưa đọc hết bản báo cáo về vụ “Neman”, Stalin đã đánh giá được mọi nguy cơ do hành động của những kẻ đang bị truy lùng sẽ gây ra cho việc chuẩn bị quả đấm chiến lược này, ở vùng ven biển Baltic. Tổng hành dinh và bản thân Tổng tư lệnh tối cao đã hết sức chú ý đến vùng này. Chiến dịch có tầm cỡ chiến lược lớn này, dự định bắt đầu vào tháng chín, sẽ giải phóng phần lớn đất đai Estonia và Latvia với các hải cảng quan trọng cùng thủ đô của hai nước cộng hòa là Riga và Tallinn và nhóm tập đoàn quân Phương bắc của Đức, gồm trên bảy trăm ngàn binh lính, sĩ quan và tướng tá sẽ bị cắt khỏi lực lượng còn lại, sẽ mất liên lạc với nước Đức, đúng hơn là, với miền Đông Phổ và hoàn toàn bị bao vây ở Courland, vùng bán đảo Zemland.

Nhưng, trong ngày cuối cùng của tháng bảy, những đơn vị cơ giới mạnh của Mặt trận vùng ven biển Baltic thứ I dùng những lực lượng không lớn lắm chọc thủng vào biển Baltic, khu vực Klapkalns, cắt đứt mọi tuyến đường bộ miền duyên hải Baltic đến Đông Phổ. Theo lệnh của Tổng tư lệnh tối cao, các đơn vị đã được tặng thưởng nhiều huân chương vì lòng dũng cảm và tinh thần hăng hái, tuy nhiên, bộ chỉ huy mặt trận cũng được chỉ thị là phải rút quân đội xuống trận tuyến Ielgava-Dobele với tổn thất tối thiểu, nếu bọn Đức có ý đồ phá vây cho cụm quân này.

Vấn đề là ở chỗ để tăng cường và mở rộng cái chốt đã được đóng chặt này, trong tình hình trước mắt, đã không đủ lực lượng dự trữ; trong khi đó thì nhóm tập đoàn quân Phương bắc bị cắt đứt ở phía tây quả là có sức hấp dẫn. Như vậy là, trong cái lòng chảo vùng ven biển Baltic có tới hơn mười sư đoàn quân Đức, còn tuyến bao vây vòng ngoài của mặt trận, thực tế, kéo dài từ cửa sông Neman dọc theo biên giới Đông Phổ.

Đây là ý đồ của Tổng tư lệnh tối cao. Đã là trung tuần tháng tám, mặc dầu hiện nay các Mặt trận Ukraine về cơ bản đã được củng cố và triển khai, tại hậu phương của Mặt trận vùng ven biển Baltic I, là mặt trận đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chiến dịch đã được vạch ra, quân đội đã áp dụng mọi biện pháp để bảo đảm tập kết bí mật. Đêm qua, tại khu vực bắc Siauliai, các đơn vị đầu tiên của tập đoàn quân cận vệ xe tăng số 5 đã bắt đầu tập kết, đây là đơn vị tạo nên quả đấm chủ lực trong các cuộc chiến đấu sắp tới ở vùng ven biển Baltic.

Vừa đọc báo cáo gửi cho Tổng hành dinh về vụ “Neman”, Tổng tư lệnh tối cao vừa ra lệnh mời thủ trưởng Tổng cục phản gián cũng như các bộ trưởng bộ dân ủy an ninh Nhà nước và Nội vụ đến Tổng hành dinh.

Tổng tư lệnh đề nghị với vị đại tướng Tổng tham mưu trưởng đang có mặt tại Tổng hành dinh để báo cáo tình hình ở lại, khi Người cho rằng nếu tình hình bắt buộc thì có thể thay đổi về cơ bản kế hoạch chiến lược hoặc hoãn toàn bộ chiến dịch này lại một thời gian.

Sau đó đồng chí hạ lệnh nói chuyện trực tiếp qua vô tuyến điện thoại “VT” với tư lệnh Mặt trận vùng ven biển Baltic I. Tư lệnh Mặt trận, đại tướng Bagramyan, lúc đó lại đang đi kiểm tra các đơn vị quân đoàn; nên tiếp chuyện tổng tư lệnh chỉ có tham mưu trưởng là thượng tướng Kurasov.

Tổng tư lệnh tối cao chỉ thị cho thượng tướng báo cáo những biện pháp bảo đảm bí mật và nghi binh việc chuẩn bị chiến dịch và nói riêng, các biện pháp đánh lừa quân địch.

Cuộc tấn công của ba Mặt trận vùng ven biển Baltic được kế hoạch của bộ Tổng tham mưu dự định vào đầu tháng chín về hướng Riga. Rõ ràng là cần phải tính đến khả năng quân Đức sẽ kiên quyết làm tất cả những gì có thể để giữ cho được thành phố và hải cảng quan trọng này và hút vào đấy những lực lượng chính. Có lúc nào đấy, đã có kế hoạch đề nghị, cứ vừa tiếp tục duy trì sức ép ở các khu vực của hai Mặt trận vùng ven biển Baltic II và III, vừa thực hiện việc chuyển quân nghi binh quy mô lớn: bí mật chuyển, trong thời hạn ngắn nhất, những lực lượng chủ lực của Mặt trận vùng ven biển Baltic I từ sườn phải sang sườn trái rồi từ đây, bất ngờ giáng một đòn chia cắt từ vùng Siauliai vào hướng Memel (Klaipeda) - Palanga ra tới biển. Trong dự thảo kế hoạch, chiến dịch này được gọi mật danh là Memel.

Đọc những báo cáo của Bộ tổng tham mưu, Stalin biết rõ rằng, để chuẩn bị chiến dịch Memel, cần phải tập trung ở khu vực Siauliai và chệch về phía bắc ít nhất cũng phải 8 tập đoàn quân hỗn hợp và một tập đoàn quân xe tăng, một số binh đoàn độc lập, một số lớn pháo binh và các phương tiện quân sự khác. Như vậy là, dọc theo các tuyến của mặt trận không xa tuyến phòng thủ của quân thù lắm, chúng ta phải thực hiện bí mật và nhanh chóng việc bố trí binh lực trên phạm vi từ 60 đến 240 kilômét một lực lượng trên 500 ngàn người, trên 9 ngàn đại bác và súng cối hạng nặng, gần một nghìn rưỡi xe tăng và xe bọc thép gắn súng máy. Nhìn qua những con số đó, Stalin suy nghĩ một lần nữa và thấy rằng, quy mô chiến dịch càng lớn bao nhiêu thì việc bảo đảm bí mật càng khó bấy nhiêu và do đó càng phải suy nghĩ thật tỷ mỷ các biện pháp nhằm bảo đảm bí mật và hoàn toàn bất ngờ của nó.

Hồi chuông bất ngờ và những câu hỏi của Tổng tư lệnh tối cao không làm cho tham mưu trưởng lúng túng. Kurasov vốn nổi tiếng là một vị tướng có trình độ tư duy cao, có đầu óc tổng hợp sâu sắc, đã trả lời một cách bình tĩnh, gọn, rõ và chính xác hầu như ông đã chuẩn bị sẵn để đón hồi chuông này từ lâu rồi. Mặc dầu trong những giờ phút đó, Stalin rất bực mình, nhưng đối với Kurasov, đồng chí lại không có lý do nào để tỏ rõ sự bực dọc của mình cả.

Kurasov báo cáo:

Việc chuyển các đơn vị và binh đoàn ra vị trí tập kết mới, chiếm lĩnh các tuyến xuất phát tấn công chỉ được tiến hành vào ban đêm với những biện pháp ngụy trang và bảo mật nghiêm ngặt nhất. Tất cả các khu rừng có thể trú quân được đều được bố trí cho các sư đoàn và trung đoàn. Các đơn vị “đuôi”, nếu đến sáng sớm mà không đến được vị trí tập kết quy định sẽ bị chặt lại và phải trú quân ở các giải rừng dọc tuyến hành quân và phải áp dụng những biện pháp ngụy trang cần thiết.

Dọc hai bên các tuyến đường di chuyển bộ đội và phương tiện kỹ thuật đều được trinh sát kỹ và có các đội tuần tiễu giám sát suốt ngày đêm. Các dấu vết người, xe đều được xóa trước khi trời sáng.

Sẽ sử dụng một số lớn các đường chuyển quân và khống chế chặt chẽ bầu trời để bảo đảm bí mật.

Trên các địa điểm bốc dỡ xe tăng và đường hành quân của xe tăng và pháo tự hành, để át tiếng động cơ, sẽ dùng máy bay tuần tiễu gây tiếng động đặc biệt.

Sẽ di chuyển nhân dân địa phương ra khỏi các khu tập kết các đơn vị cơ giới, lực lượng cơ động mạnh của mặt trận.

“Lực lượng xe tăng vừa bổ sung....” - Stalin nhớ lại khi nghe Kurasov báo cáo việc dùng máy bay tuần tiễu, gây tiếng động trên các khu vực tập kết xe tăng và pháo tự hành. Đồng chí chuyển ống nghe sang tay trái, vừa lắng nghe vừa rút một cặp đựng tài liệu để dòng chữ: “Những hàng vận chuyển quan trọng nhất. Các đoàn tàu đợt “K”. Đặt giấy trước mặt, đồng chí đọc tài liệu báo cáo về tình hình vận chuyển mấy ngày gần đây.

Đây rồi. Hôm qua, theo lệnh của Bộ Tổng tham mưu, đã bắt đầu chuyển thẳng từ các nhà máy tới Mặt trận vùng ven biển Baltic I các khí tài quân sự gồm 530 xe tăng mới và 280 pháo tự hành, trước hết, số xe tăng này sẽ bổ sung ngay cho tập đoàn cận vệ xe tăng số 5 để bù vào mấy trăm chiếc bị mất trong hai tháng chiến đấu nặng nề vừa qua.

Trong khi đó, Kurasov vẫn tiếp tục báo cáo:

Nhằm mục đích đánh lừa quân địch, trên một phạm vi dài nằm sâu trong vùng hậu phương của tập đoàn quân (trên một trăm kilômét cách hướng chính của chiến dịch) đã cho tập hợp từ tám tới chín sư đoàn cơ động, một số lớn xe tăng và pháo binh. Cũng ngần ấy lực lượng sẽ được sử dụng để phục vụ các biện pháp đánh lừa dọc theo hành lang mặt trận bên cạnh.

Trong các khu rừng dọc theo hai bên sườn các khu tập kết giả này, chúng tôi đã cho bố trí hơn một ngàn xe tăng giả và khoảng bốn trăm máy bay giả trên các sân bay giả. Các cuộc vận chuyển những đơn vị nghi binh và hoạt động của các xe pháo giả này sẽ thực hiện ban ngày, đúng vào giờ hoạt động của máy bay trinh sát địch; đồng thời cho chạy một số động cơ có máy khuyếch đại tiếng động trong các khu rừng. Tất cả các mục tiêu giả này sẽ được kiểm tra có hệ thống bằng cách theo dõi và chụp ảnh từ trên không.

Trong các khu vực giả này sẽ dần dần tăng cường khoảng hai trăm máy thu phát vô tuyến lưu động của tập đoàn quân và suốt ngày đêm sẽ phát đi những bức điện báo cáo, điều động, những mệnh lệnh của các cấp, trên toàn khu vực mặt trận. Đồng thời tại khu vực chính tập kết bộ đội, các điện đài sẽ phải im lặng cho đến giờ cuối cùng trước khi tấn công: niêm phong tất cả các máy phát thanh lại.

Một tuần trước khi tấn công giả sẽ cử các đoàn tiến trạm về các vùng đông dân tìm nhà, bố trí các đơn vị, các ban tham mưu: trên các nhà và cửa ra vào sẽ cho đóng các biển ghi số hiệu đơn vị bằng phấn và đề nghị chủ nhà dọn dẹp nhà ở gọn gàng, rộng rãi để đón bộ đội đến. Cũng khoảng một tuần trước lúc tấn công sẽ tập trung một số sĩ quan và nữ quân nhân đến ở các nhà được bố trí sẵn, và theo một kế hoạch thống nhất, sẽ cho họ bàn tán nói chuyện trong nhân dân về những tin giả về tình hình tập kết quân đội và những trận đánh sắp tới.

Những yếu tố nghi binh chiến dịch khác cũng được thi hành như: trong các đơn vị sẽ tiến hành việc hoàn thiện trận địa phòng ngự trong điều kiện mùa đông. Các báo chí của tập đoàn quân, quân đoàn và sư đoàn sẽ đăng nhiều bài chỉ nói về việc hoàn thiện hệ thống phòng ngự. Tất cả các cơ quan và hệ thống truyền thanh sẽ tung ra các tin hướng vào việc giữ vững những vị trí và những vùng đã chiếm được.

Về những biện pháp thuần túy bảo vệ, có: ở vùng hậu phương chiến dịch của các mặt trận sẽ tăng cường công tác tuần tra và bảo vệ; các khu vực đóng quân của đơn vị phải thực hiện các biện pháp tuần tiễu, kiểm tra và hạn chế đi lại; tăng cường kiểm tra trên các đường sắt, nhà ga và khu đông dân suốt ngày đêm; tất cả những người bị tình nghi đều phải bắt giữ cho đến lúc xác minh đầy đủ lý lịch.

Về biện pháp giáo dục chính trị, thì tất cả các đơn vị hàng tuần đều tổ chức nói chuyện về những thủ đoạn, hành động độc ác của bọn tình báo địch và sự cần thiết phải hết sức để cao cảnh giác. Hạn chế đến mức thấp nhất sự giao thiệp, gặp gỡ giữa các quân nhân với nhân dân địa phương. Tất cả sự liên lạc thư từ cá nhân trong khu vực tập kết sẽ đình chỉ đến ngày mở đầu cuộc tấn công.

Cuối cùng, Kurasov, tất nhiên là sau khi cảm thấy Tổng tư lệnh tối cao đã có vẻ lo lắng, khẳng định rằng, ngoài ông ra, toàn bộ mặt trận chỉ có hai người được biết ý đồ của chiến dịch sắp tới. Đó là tư lệnh Mặt trận và ủy viên thứ nhất Hội đồng quân sự. Ông nói tiếp, với vẻ tin tưởng:

- Các biện pháp nghi binh chiến dịch đã được nghiên cứu một cách cẩn thận, kỹ càng và toàn diện đến mức bọn Đức chỉ có thể thấy được những gì chúng tôi cho chúng thấy.

Stalin trầm ngâm im lặng một lúc. Cả Kurasov, cả tư lệnh Mặt trận, cho đến lúc này, đều chưa hề biết gì về nhóm “Neman” và, tư lệnh Mặt trận Belarus III – nơi đã phát hiện ra làn sóng lạ trên không phận khu vực họ, cũng chưa biết gì về nhóm này. Nhưng đối với các vị tướng không nên phàn nàn gì với họ về chuyện này, vì đấu tranh với bọn gián điệp không phải là nhiệm vụ trực tiếp của họ. Còn đối với cơ quan phản gián quân sự và các địa phương thì cần phải đòi hỏi ở họ những yêu cầu nghiêm khắc nhất.

Tổng tư lệnh tối cao không thể không công nhận những điều báo cáo của Kurasov đều không được chuẩn bị trước, nhưng hầu như không có điều gì thừa.

Đồng chí cũng nhận định rằng, viên tướng tham mưu trưởng này đã không hề nói đến Riga hoặc Memel một lần nào, hai thành phố này sẽ chịu những quả đấm chính, và cũng không hề nói một lời nào về địa điểm tập trung quân. Tổng tư lệnh tối cao cũng tỏ ý nghi ngờ tới cả đường dây liên lạc cao tần, mặc dầu đã nhiều lần đồng chí được các chuyên gia có trách nhiệm khẳng định rằng, không thể nghe hoặc ghi các cuộc nói chuyện theo máy bộ đàm cao tần được.

Stalin cũng biết rõ những điều mà hiện nay vị tham mưu trưởng và cả vị tư lệnh Mặt trận vẫn chưa biết được là: tính chất bí mật và bất ngờ của chiến dịch có tầm quan trọng chiến lược sắp nổ ra vào tháng chín này đã được các cơ quan phản gián và an ninh bảo đảm theo đường riêng, phối hợp không phải riêng ở vùng ven biển Baltic mà còn được tung ra cả ở Belarus và ở Ukraine nữa, bằng cách phát thanh những tin tức giả dối.

Báo cáo của Kurasov vẫn không làm cho đồng chí yên tâm hơn và tâm tư đồng chí cũng không nhẹ nhõm hơn chút nào. “Họ chỉ tính toán trên giấy tờ mà thường lại hay quên những ngóc ngách có khi cần phải đi vào đó!” Đồng chí bực dọc thầm nghĩ như vậy và đặt ống nghe xuống sau khi đã chào tạm biệt một cách khô khan.

Vấn đề vận chuyển xe tăng làm Tổng tư lệnh tối cao lo lắng nhất. Nếu như ở các đơn vị đều có bộ tư lệnh và có đại diện Cục phản gián chịu trách nhiệm vấn đề bảo mật và bảo vệ khi di chuyển; nếu như bộ máy của nó có tới hàng trăm người từ chiến sĩ đến hạ sĩ quan, đều có khả năng thực hiện ngay những biện pháp cần thiết để ngụy trang, nghi binh đánh lừa địch, thì ở các đoàn tàu vận chuyển này chỉ có một đội nhỏ đi áp tải mà thôi – tất cả chỉ có thế. Theo kinh nghiệm ba năm chiến tranh, Stalin biết rõ rằng, các đoàn tàu chở xe tăng này rất dễ bị bọn gián điệp mặt đất và bọn trinh sát không quân phát hiện ngay ở các ga bốc dỡ trước khi xuất phát đến vị trí tập kết. Việc tập trung xe tăng ở một vùng nào đó, như ta thường thấy, chính là dấu hiệu chắc chắn chuẩn bị một cuộc tấn công trong khu vực hoặc hướng cụ thể nào đó.

Đồng chí hình dung rất rõ từng đoàn tàu quân sự dài, xuất phát từ Sverdlovsk, Chelyabinsk và Gorky hoặc đang đỗ để nhận hàng ở ngay các nhà máy. Các đoàn tàu quân sự mang ký hiệu “K” là những đoàn tàu đặt dưới sự kiểm soát đặc biệt của Bộ Tổng tham mưu. Chúng sẽ chạy tốc hành suốt ngày đêm không dừng lại bắt cứ ga nào trên con đường xanh từ Ural thẳng tới vùng ven biển Baltic. Ở những nhà ga quy định dừng đều phải chuẩn bị sẵn sàng những cặp đầu máy mạnh nhất, tốt nhất để thay. Không ai được biết điểm đỗ cuối cùng của những đoàn tàu này, kể cả các tư lệnh thành phố, và chỉ huy các đơn vị vận tải quân sự trên các tuyến đường, chứ đừng nói gì đến các đội áp tải. Áp dụng tất cả những cái đó để làm gì? Thi hành tất cả những biện pháp thận trọng đó để làm gì? Chả lẽ làm như vậy để rồi cho tên Kravtsov hay Matilda nào đó biết được và báo ngay về cho bọn Đức những tin tức về các đoàn tàu này, chả lẽ để cho chúng phát hiện được những ý đồ bí mật mà cả ở Tổng hành dinh và bộ tư lệnh Mặt trận, số người được biết có thể đếm trên đầu ngón tay – chỉ có hai nguyên soái, năm đại tướng và đồng chí Tổng tư lệnh tối cao.

“Giữ lại...”

Giữ lại, đình chỉ các đoàn tàu lại, tất nhiên là điều rất dễ dàng... nhưng cuộc chiến tranh không thể dừng lại được!.. Vậy thì những biện pháp cụ thể nào có thể áp dụng ngay được? Tất cả cố gắng và biện pháp đã được hàng ngàn người suy nghĩ, chuẩn bị và vạch ra một cách tỉ mỉ nhằm bảo đảm tính bất ngờ và bí mật của chiến dịch có thể dễ dàng bị phá sản.

Với một cảm giác quen thuộc trội hơn hẳn những người chung quanh, đồng chí là người đầu tiên và có thể là người duy nhất, cho đến giờ phút này đã hiểu được mọi nguy cơ do nhóm gián điệp “Neman” gây nên cho việc chuẩn bị chiến dịch.

Thủ trưởng Tổng cục phản gián và các bộ trưởng Bộ dân ủy an ninh nhà nước và nội vụ được triệu tập khẩn cấp hầu như cùng đến Tổng hành dinh một lúc. Cả ba người cùng đi vào phòng sau khi báo cáo có mặt và cùng khẽ cất tiếng chào; Stalin khẽ gật đầu đáp lại, nhưng cũng không mời ngồi, nên họ, cả ba vị, đều đứng nghiêm, cách cửa ra vào của căn phòng làm việc rộng lớn, mấy bước. Họ đứng im, băn khoăn không hiểu tại sao được triệu tập gấp đến bất ngờ như vậy và họ cũng đều chờ đợi một điều gì đó không tốt lành đối với mình.

Đại tướng quyền Tổng tham mưu trưởng, sau khi báo cáo công việc xong với Tổng tư lệnh tối cao, đang chăm chú làm việc, cắm cúi trên những tấm bản đồ và tài liệu trải phẳng trên mặt bàn họp, vừa dài vừa rộng, phủ nỉ xanh.

Stalin trong bộ quân phục nguyên soái màu ghi nhạt, hai tay chấp sau lưng, đang bước những bước dài khác thường, nhưng nhẹ nhàng trên tấm thảm đỏ phủ sàn nhà. Mọi người đã biết, đấy là dấu hiệu đồng chí đang có điều bực mình và cáu giận.

Khi đồng chí đi về phía cuối căn phòng, nơi kê chiếc bàn làm việc của mình đang chất đầy giấy tờ, sách vở và những cặp tài liệu; cạnh chiếc bàn đó là một cái giá để một loạt máy điện thoại, khi đó ba đồng chí được mời đến đang đứng ở gần cửa ra vào. Họ nhìn rõ cái lưng hơi gù, cái gáy phẳng rộng hơi điểm bạc đang vừa đi vừa cúi xuống. Đi đến gần bức tường phía cuối, Stalin quay lại đi về phía giữa phòng làm việc. Ba đồng chí vừa được mời đến nhìn rõ khuôn mặt của Stalin, nhưng không thấy rõ đôi mắt của đồng chí ấy, vì theo thói quen, Stalin thường vừa đi đi lại lại trong phòng, vừa suy nghĩ, do vậy đầu bao giờ cũng hơi cúi xuống.

Cả ba người được mời đến đều là những người được Tổng tư lệnh tối cao tin tưởng và kính trọng, nhưng cả ba đều hiểu rõ rằng, điều cảm tình đó không phải lúc nào cũng có thường xuyên ở đồng chí.

Vừa quay lại, Stalin vừa nhìn vào cặp tài liệu màu xanh nhạt bên trong đựng bản báo cáo vụ “Neman” để ở góc bàn và lắc lắc đầu. Cái cổ áo khoác ngoài không lót cứng như áo các nguyên soái khác mà đặc biệt để mềm theo yêu cầu riêng của đồng chí, lúc này lại làm cho Stalin cảm thấy khó chịu và do đó lại càng bực bội hơn.

Đồng chí phải chính thức thường xuyên mặc bộ quân phục nguyên soái này mới gắn năm nay, kể từ dạo có hội nghị Tehran, nhưng quả thật vẫn cảm thấy gò bó thế nào ấy. Đã bao nhiêu lần đồng chí vẫn thấy tiếc khi nhớ đến bộ quân phục vải dạ mỏng, cổ bẻ và chiếc quần bỏ trong đôi ủng da mềm vùng Caucasus thật gọn và thoải mái. Đó là kiểu quần áo quen thuộc mà đồng chí rất thích và có lẽ toàn thế giới đều biết. Đồng chí nghĩ rằng, với cái tuổi trên sáu mươi nhăm này, mà phải thay đổi một thói quen, một kiểu mặc đã quen thuộc đến gần nửa thế kỷ nay, thì thật là khó khăn. Bộ quân phục nguyên soái này nặng hơn và làm đồng chí lúng túng hơn, đặc biệt là những lúc tâm thần nặng trĩu.

Đồng chí không chịu nổi các kiểu trang trí trên quân phục, không thích đeo các huân chương cũng như những người làm việc xung quanh đồng chí cũng ít khi đeo, trừ một số tướng lĩnh cao cấp; thậm chí cả những quân hàm nguyên soái bằng vàng chỉ đính nhẹ trên cầu vai và cả những đường viền kim tuyến đỏ trên chiếc quần nguyên soái cũng làm đồng chí rất khó chịu. Đồng chí cũng không quen đi cái kiểu giày giả da, được gọi đùa là “giày bottin”, như người ta gọi chúng trước cách mạng.

Mặc dầu không hề nhìn thêm lần nào những người đang đứng nghiêm gần cửa phòng, đồng chí cũng hiểu rằng, họ vẫn không rời mắt khỏi mình, đồng chí cũng không cần phải suy nghĩ gì nhiều cũng biết rằng, họ đang sốt ruột và có thể cũng đang lo lắng, nếu như không nói rằng, đang sợ hãi, chờ đồng chí lên tiếng.

Đồng chí cho rằng, sự lo lắng và thậm chí sợ hãi của họ là hợp lý, là điều tự nhiên và hơn thế nữa, là có lợi cho công việc, vì đồng chí thường vẫn tin rằng, những người lãnh đạo cũng như bất cứ người chỉ huy nào đều không những phải có uy tín để cho cấp dưới kính trọng mà còn phải nghiêm khắc để họ phải nể sợ; vì như vậy họ mới có thể thi hành bất cứ mệnh lệnh nào một cách nhanh chóng, thận trọng và hết lòng. Vấn đề này không phải là không có cơ sở để khẳng định.

Năm phút trước khi những người được mời đến đây – Stalin có nhớ đến một ý kiến đồng chí đã nêu lên từ thời kỳ trước chiến tranh và giờ đây đã trở thành một bài học lịch sử là: để chiến thắng bất cứ trận đánh nào trong chiến tranh, chúng ta phải cần đến hàng trăm, hàng ngàn và có khi hàng vạn chiến sĩ Hồng quân; nhưng để làm thất bại trận đánh có khi chỉ cần tung ra một số tình báo hoặc gián điệp ít ỏi nào đó thôi.

Như vậy là, đồng chí đã từng nói tới mối nguy cơ này ngay từ những năm trước chiến tranh. Đã bao nhiêu lần đồng chí ra chỉ thị, kêu gọi mọi người phải thận trọng và đòi hỏi mọi người phải luôn luôn cảnh giác, nhưng họ đã không chịu rút ra được những kết luận cần thiết. Quả vậy, nếu họ đã rút được kết luận thì họ đã không chịu tuân theo những kết luận đó.

Đúng lúc hai bộ trưởng dân ủy và thủ trưởng Tổng cục phản gián quân sự đến, Tổng tư lệnh tối cao đã nén trạng thái bực bội của mình khi nhớ lại những điều đồng chí đã từng căn dặn, chỉ thị và thậm chí cảnh cáo trước lúc chiến tranh. Và đồng chí vừa đi đi lại lại trong phòng vừa suy nghĩ về những hành động quân sự sắp tới ở vùng ven biển Baltic.

Không cần nghe thêm báo cáo về vụ “Neman” không phải vì đồng chí đã được đọc các báo cáo trước đây và vẫn còn nhớ kỹ. Còn nghe những người thừa hành thì cũng chỉ biết được những điều cần thiết đang diễn ra, biết được những biện pháp đang thi hành chứ thực ra chưa có kết quả cụ thể, vì còn có nhiều nguyên nhân và tình hình khách quan. Trong khi đó thì những thuật ngữ chính thức: tình báo và phản tình báo vẫn cứ tồn tại. Đó là sự hòa hợp đầy đủ nhất khoa học và nghệ thuật, sự kết hợp phức tạp nhất, với mọi nghĩa đầy đủ nhất, của thuật ngữ đó được thể hiện ở những nhân viên chuyên nghiệp có tài năng và kinh nghiệm nhất. Và nếu như trong các vấn đề quân sự, Tổng tư lệnh tối cao dễ dàng đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu những chi tiết cụ thể nhất thì ở đây đồng chí chỉ có thể hạn chế trong những nhiệm vụ và mục tiêu chung nhất. Với cảm giác xấu hổ và không hài lòng ngay với chính mình, đồng chí nhớ lại ý nghĩ của mình trước đây đã không đánh giá đầy đủ ý nghĩa của trò chơi tin giả và do đó, giờ đây đang lâm vào tình thế khó xử. Stalin sẽ không tha thứ cho bất cứ ai phạm vào những sai lầm như vậy và kể cả bản thân mình. Nhưng đồng thời, đồng chí cũng không cần phải do dự gì khi hiểu rằng, đối với bất cứ vấn đề nào, đồng chí cũng có thể nắm nhanh và cần phải hiểu sâu hơn so với bất cứ người thừa hành nào.

Tại sao lại gọi là vụ “Neman”? – bỗng nhiên Tổng tư lệnh tối cao dừng lại trước ba vị tướng đang đứng gần cửa ra vào và đột ngột hỏi, với giọng Gruzia nặng và vang. Đồng chí hơi ngẩng đầu, lim dim đôi mắt nghiêm khắc, nhưng thoáng vẻ mệt mỏi, nhìn thẳng vào mắt thủ trưởng Tổng cục phản gián.

Lập tức cả hai bộ trưởng dân ủy cảm thấy lòng nhẹ nhõm: như vậy là vấn đề liên quan trước hết tới cơ quan phản gián quân sự chứ không phải thuộc ngành họ.

- Thưa đồng chí Stalin, đây là một tên gọi có tính chất quy ước, – thủ trưởng Tổng cục phản gián nói. Ông là một thượng tướng có vẻ trẻ so với hàm của mình, một người được Stalin tin tưởng và chính đồng chí đã đề nghị để bạt ông giữ chức vụ quan trọng này.

Với vóc dáng cân đối, mái tóc sáng, đôi mắt và khuôn mặt Nga rất thông minh, ông đứng nghiêm và cũng nhìn thẳng vào mắt Stalin.

- Quy ước?.. – Tổng tư lệnh tối cao hỏi lại lần nữa, giọng có vẻ chưa tin lắm. Nó có liên quan gì tới dòng sông Neman không?

- Báo cáo, không, - thượng tướng hơi do dự một thoáng rồi trả lời và trong khoảnh khắc đó ông nhớ và hình dung được rằng, chiếc điện đài mật đang bị truy lùng kia đã có lần phát sóng tại khu vực Stolbtsy gần thượng nguồn sông Neman và, có thể, do đó nên có tên gọi này. Nhưng ông không muốn nói điều suy nghĩ muộn mằn này ra, vì ông hiểu rằng: Tổng tư lệnh tối cao rất ghét những sĩ quan cấp dưới nào nói không chính xác và không hiểu hết những gì liên quan trực tiếp tới hoạt động của họ.

- Đồng chí nghĩ sao, thế có nghĩa là các đồng chí lấy hú họa cái tên đó à? – Stalin thoáng vẻ ngạc nhiên, rồi đột ngột cao giọng hỏi lại và có lẽ đồng chí cảm thấy vẻ ngập ngừng trong câu trả lời hoặc trên nét mặt của thượng tướng.

- Đây luôn luôn chỉ là những tên quy ước, – thượng tướng thủ trưởng Tổng cục phản gián đáp một cách tin tưởng, vững vàng. – Cái tên đó, theo tôi, không có một ý nghĩa gì đối với công việc cũng như đối với việc truy tìm của ta. Nó có thể là “Neman”, cũng có thể là “Sông Đông” hoặc cũng có thể là “Vistulas”!

- Thế còn Matilda là cái gì, có phải tên phụ nữ không? - Sau một lát im lặng, Stalin hỏi tiếp.

- Matilda?.. Đây là bí danh một tên điệp viên.

- Tức là tên để làm việc, – Tổng tư lệnh tối cao lẩm bẩm như tự nói với mình, ngước mắt nhìn ba người, khẽ lắc lắc đầu, quay sang trái, thong thả bước mấy bước. - Chúng nó hoạt động không đến nỗi tồi!

Mấy giây sau, đồng chí đã đi đến cuối góc đối diện của căn phòng và cả ba người vẫn đưa mắt nhìn theo bóng dáng cao lớn, cân đối – hay đúng hơn là nhìn theo tấm lưng không rộng, hơi gù gù và cái gáy bằng, điểm bạc. Đến giáp tường, đồng chí quay lại giữa phòng, im lặng suy nghĩ rồi nói tiếp:

- Các đồng chí có nhận thức được rằng đây là vấn đề thắng hay bại của chiến dịch có tầm chiến lược lớn, là vấn đề quyết định số phận của trên nửa triệu quân Đức ở vùng ven biển Baltic hay không?

- Có, tôi nhận thức được như vậy, – thủ trưởng Tổng cục phản gián đáp.

Stalin dừng ngay trước mặt và nhìn thẳng vào mắt ông.

- Đồng chí có biết rằng, trong lúc chuẩn bị và tiến hành chiến dịch lớn như vậy thì nhiệm vụ phản gián là phải nhanh chóng diệt ngay bất cứ làn sóng nào, bất cứ hoạt động thu thập tin mật của bọn điệp viên địch hay không?

- Có, tôi hiểu điều đó.

Stalin lại bước đi mấy bước rồi đột nhiên quay lại, hỏi tiếp:

- Hiện chúng có bao nhiêu nhóm tất cả? – vừa chỉ vào tập hồ sơ “Neman” trên góc bàn, đồng chí vừa hỏi.

- Về số lượng cụ thể của các nhóm này, báo cáo đồng chí, rất khó xác định, thưa trưởng Tổng cục phản gián, nhìn Stalin, nói, – nhưng hạt nhân chỉ huy của chúng, chỉ có thể là ba hoặc bốn tên.

Ngay trong khoảnh khắc đó, Stalin lại vụt nhớ đến lời nhận định sáng suốt có tính chất lịch sử của mình rằng: với những hành động phá hoại chỉ của mấy điệp viên thôi cũng đủ làm thất bại cả một chiến dịch lớn. Cho đến bây giờ đồng chí còn nhớ rất rõ câu châm ngôn: Trong tất cả mọi sự tiết kiệm cho phép, thì sự tiết kiệm trong cuộc đấu tranh với bọn tình báo là một sự tiết kiệm có giá trị nhất và cũng là nguy hiểm nhất đối với một Quốc gia. Phải chăng họ đang tiết kiệm? Hay là vì họ coi thường nguy hiểm?

Cố kìm cơn giận, đồng chí quay lại và đi tới giữa phòng, nơi đối diện với tướng Tổng tham mưu trưởng đang ngồi làm việc bên kia chiếc bàn dài. Đồng chí dừng lại, và nhìn nhanh vị Tổng tham mưu trưởng của mình, trầm ngâm hỏi, như tự nói với mình:

- Chúng ta có bao nhiêu cơ quan thế mà không bắt nổi ba tên đó. Tại sao vậy?

Đối với những người đang đứng ở gần cửa thì mấy tiếng “Tại sao vậy” vang lên thật nặng nề. Hai người trong số họ, đã hiểu câu hỏi đó như sau: “Không bắt được hay không muốn?”

Đại tướng Tổng tham mưu trưởng đang cầm củi trên bàn ngẩng đầu nhìn Tổng tư lệnh tối cao với vẻ thông cảm. Cái nhìn của ông hầu như ngụ ý nói rằng: “Đồng chí Stalin, đồng chí luôn luôn nói rất đúng. Chúng ta đang buộc đội quân hàng triệu tên Đức phải chạy dài, thế mà ở đây chỉ có ba tên mà người ta không bắt nổi. Tôi hoàn toàn chia sẻ sự băn khoăn và phật lòng của đồng chí. Nhưng vấn đề này không thuộc thẩm quyền của tôi, và thật rất tiếc, tôi không thể làm gì để giúp đỡ họ được, xin phép đồng chí tốt nhất là cho tôi cứ làm những việc trực thuộc thẩm quyền của tôi.”

Và Tổng tư lệnh tối cao, hình như đã đọc được tất cả những ý nghĩ trong cái nhìn của Tổng tham mưu trưởng, lại tiếp tục bước đi trong phòng.

Cánh cửa lớn bỗng nhẹ mở, và bí thư riêng của Stalin bước vào, đứng nghiêm khẽ báo cáo:

- Nguyên soái Rokossovsky xin nói chuyện...

Tổng tư lệnh tối cao vẫn không quay lại và không tỏ vẻ gì là đã nghe được lời báo cáo đó. Viên bí thư rõ ràng coi sự im lặng đó là biểu hiện của sự đồng ý, nên đã đi ra khỏi phòng, cũng lặng lẽ như khi bước vào vậy.

- Gần một tháng nay, những tên điệp viên nguy hiểm nhất hoạt động ngay trước mắt các đồng chí mà không hề bị trừng phạt, – Tổng tư lệnh tối cao vẫn tiếp tục ý nghĩ của mình khi bước cách xa những người đứng ở gần cửa. – Có thể hỏi một cách tự nhiên rằng: cơ quan phản gián chúng ta có hoạt động hay không?!.. Đó là cái gì, sự chậm chạp do nhận thức vấn đề chưa đầy đủ hay thái độ lơ là đầy tội lỗi? Dù thế nào chăng nữa, cũng là thiếu trách nhiệm!..

Lời buộc tội mà Tổng tư lệnh tối cao vừa đưa ra, trong thực tế, quả có phần chưa đúng vì: ngay từ đầu, cơ quan phản gián quân sự đã làm tất cả những gì có thể làm được. Tuy nhiên, họ vẫn im lặng đứng nghiêm sau lưng Stalin mà không ai có ý kiến thanh minh hoặc trình bày lại.

Nét mặt biến sắc vì cáu giận, đồng chí quay lại và trông thấy chiếc máy điện thoại cao tần đặt trên giá đặc biệt cạnh bàn làm việc, ngay lúc đó, những suy nghĩ về cuộc khởi nghĩa Varsaw và những suy nghĩ về Ba-lan là những vấn đề phức tạp nhất so với những chuyện khác, lóe lên trong đầu óc đồng chí. Bước vội đến bàn, đồng chí nhắc ống nghe lên và ngay lập tức trong ống nghe cực nhạy vang lên tiếng nói của Tư lệnh Mặt trận Belarus I, nguyên soái Rokossovsky, từ miền Ba-lan xa xôi vọng tới. Nhưng đồng chí lại cảm thấy rằng, trong lúc này không thể bình tâm, thư thái để nói chuyện một cách tốt đẹp với vị tư lệnh Mặt trận được. Rokossovsky, do biểu hiện xuất sắc trong chiến dịch Belarus và ngay trong quá trình chiến dịch đang tiến hành, theo đề nghị của Tổng tư lệnh tối cao Stalin, ông đã được phong Nguyên soái và danh hiệu Anh hùng. Cầm ống nghe một lát, Stalin không nói gì cả và cũng không thể nghe được gì cả, liền đặt xuống. Và, đồng chí lại bước tiếp quanh phòng.

- Các cơ quan địa phương có tham gia vào cuộc truy lùng này không? – Đi lại gần những người đứng cạnh cửa, đồng chí đưa mắt nhìn từ thủ trưởng Tổng cục phản gián sang hai vị bộ trưởng dân ủy, lên tiếng hỏi.

Các cơ quan nội vụ và an ninh nhà nước chỉ phối hợp tham gia truy lùng có mức độ, với khả năng có thể của họ ở vùng hậu phương, chỉ ở những nơi nào có dấu vết của nhóm “Neman” và tất nhiên có khả năng, tham gia ít hơn so với cơ quan phản gián quân sự. Nhưng Tổng tư lệnh tối cao không chịu được sự thanh minh, giải thích dài dòng. Còn thủ trưởng Tổng cục phản gián quân sự cũng không muốn làm cho các bạn đồng nghiệp đẩy uy tín của ông ở vào tình thế khó xử.

- Báo cáo... Có tham gia, ông nói, và biết rằng, câu trả lời như vậy rõ ràng làm cho tình thế của ông thêm phức tạp hơn.

- Đồng chí có cần sự giúp đỡ của quân đội không?

- Tổng tham mưu cũng đã có chỉ thị cho các đơn vị, – thủ trưởng Tổng cục phản gián nói và đưa mắt nhìn vị đại tướng đang ngồi ở bàn và khi nghe nói Tổng tham mưu, ông liền ngẩng đầu nhìn lại.

- Xin lỗi, đồng chí Stalin, – ông đứng dậy nói từ sau lưng Tổng tư lệnh tối cao, và để biểu thị sự kính trọng và tin tưởng vị tướng này, Stalin liền quay ngay lại, nhìn thẳng vào ông. - Nếu như nói đến các Mặt trận vùng ven biển Baltic I và Belarus III, thì, tôi xin báo cáo rằng các tư lệnh đơn vị này đã dành mọi sự giúp đỡ cần thiết về người và kỹ thuật cho các cơ quan phản gián từ tối hôm qua.

Chắp tay sau lưng, Stalin lại tiếp tục đi đến cuối phòng. Chưa đến chỗ chiếc bàn của Tổng tham mưu trưởng, đồng chí lẩm bẩm như tự nói với mình:

- Vậy điều đó nghĩa là gì?.. Tất cả đều tham gia, đều giúp đỡ, hầu như tất cả đều đang hành động, còn những tên điệp viên nguy hiểm nhất thì vẫn bình thản hoạt động gần một tháng nay trong vùng hậu phương mặt trận!.. Thật là thiếu trách nhiệm! – bỗng nhiên đồng chí nổi giận, nói như quát lên. - Chúng tôi không thể chịu được điều đó.

Không thể thanh minh gì hơn, tuy vậy, thủ trưởng Tổng cục phản gián vẫn không kìm được, mạnh dạn lên tiếng:

- Thưa đồng chí Stalin, đồng chí hãy tin rằng, chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được.

- Tôi không tin! - Vừa dừng lại, Tổng tư lệnh tối cao vừa quay nhanh ra sau, mắt vẫn nhìn vào tấm thảm dưới sàn nhà. - Và sau đây là gì? Đã làm tất cả ư?.. Chúng tôi không cần biết quá trình truy lùng diễn biến ra sao. Chúng tôi cần kết quả cụ thể!.. Tôi, thậm chí, có thể khẳng định rằng: chúng tôi không hạn chế các đồng chí điều gì cả, hãy làm cả những điều không thể làm được...

Im lặng một lát, đồng chí lại nhìn với vẻ không hài lòng những người đứng trước mặt và nghiêm khắc hỏi:

- Các đồng chí cần bao nhiêu thời gian nữa để kết liễu bọn này? Rồi đồng chí lại bước tiếp, sâu vào góc phòng.

Trong phòng im lặng nặng nề. Thủ trưởng phản gián nhìn hai đồng nghiệp của mình và, hai người này cũng liếc mắt nhìn lại ông. Im lặng.

- Tôi hỏi, các đồng chí cần bao nhiêu thời gian nữa để kết liễu bọn này? – Vừa quay lại trước bức tường trước mặt, Tổng tư lệnh tối cao, vẻ sốt ruột, cao giọng hỏi lại. – Thời gian tối thiểu!.. Cần phải diệt được bọn chúng trước lúc bộ đội xe tăng và các đơn vị kỹ thuật cơ giới khác đến khu tập kết ở vùng sau lưng mặt trận. Hiện nay những đơn vị đó đã bắt đầu lên đường!

- Thời gian tối thiểu?.. Thưa đồng chí Stalin, đồng chí cho chúng tôi một ngày đêm, sau một lúc im lặng, bộ trưởng nội vụ, ngập ngừng nói.

Trong số ba người được mời đến, ông là người có uy tín nhất đối với Tổng tư lệnh tối cao, hơn nữa ông không phải chịu trách nhiệm trực tiếp về vụ “Neman”. Ông hiểu rằng, có thể hứa với Stalin một thời hạn ngắn hơn, thí dụ như mấy giờ. Nhưng mấy giờ đó là không thực tế và Stalin rất ghét những lời hứa hão huyền, không thực tế như vậy.

Đối với vị bộ trưởng nội vụ thì cái thời hạn một ngày đêm này là câu trả lời hợp lý nhất, nhưng vừa nêu lên thời hạn như vậy, ông vừa lo lắng chờ đợi phản ứng của Stalin, vì ông biết rằng, sự phản ứng đó đôi khi thật rất bất ngờ. Lần này phản ứng đó cũng như vậy.

- Gần một tháng nay đã không thể bắt được, thế mà giờ đây chỉ cần một ngày đêm là bắt được... - Stalin nhận xét với nụ cười hơi có vẻ châm biếm, ngạc nhiên. – Thế, nếu như...

Và mặc dầu không phải chuyên nghiệp như ba người đang đứng đây, đồng chí cũng hiểu được rằng, cái thời hạn nêu lên quả là rất không thực tế: và không thể có được một chứng cớ tối thiểu nào xác định rằng, trong một ngày đêm những tên đang bị truy lùng kia sẽ bị bắt và cũng có thể là trong một tuần nữa chưa chắc đã bắt được chúng. Tuy nhiên, cái thời hạn một ngày đêm không thực tế đó cũng hợp lý với ý của Tổng tư lệnh tối cao; thời hạn này đáp ứng được lợi ích của công việc, lợi ích của việc chuẩn bị chiến dịch có tầm chiến lược hết sức quan trọng này và vì vậy tất cả những lý do còn lại chỉ là thứ yếu.

Từ góc cuối của căn phòng, đồng chí quay lại, đứng trước thủ trưởng Tổng cục phản gián quân sự, nhìn thẳng vào ông với đôi mắt nghiêm khắc, lạnh lùng, đôi mắt mà với cái nhìn đôi khi làm những vị tướng, nguyên soái phải toát cả mồ hôi và hầu như quên hết những điều định nói, rồi lạnh lùng hỏi:

- Đồng chí hiểu rõ chứ?

- Hiểu rõ...

- Hãy xem và nhớ lấy... - Stalin quay nhìn chiếc đồng hồ lớn treo trên tường. - Trong tay đồng chí còn đủ một ngày đêm... Nếu như trong thời hạn đó mà không kết thúc được, đồng chí chỉ vào tập báo cáo vụ “Neman”, đang nằm trong cặp hồ sơ để ở góc bàn rộng phủ nỉ xanh, – nếu như sau thời hạn này mà vẫn không diệt được làn sóng truyền đi những tin tức tuyệt mật... thì tất cả những người phạm tội – trong đó có đồng chí! – sẽ bị kỷ luật thích đáng!

Đồng chí nhìn sang hai vị bộ trưởng dân ủy như muốn nói: kể cả các ông nữa! Khuôn mặt họ biểu lộ vẻ tuyệt đối tin tưởng và trung thành, nhưng cũng có vẻ nhận lỗi nữa. Họ hiểu rõ rằng, sẽ bị kỷ luật thích đáng, trong câu nói của Tổng tư lệnh tối cao không có nghĩa là chỉ bị cách chức mà thôi... Thật ra, đôi lúc những câu nói này chỉ làm người ta lo lắng thôi, nhưng họ không thể đoán trước được một cách chính xác xem, trong trường hợp cụ thể này nó sẽ là kỷ luật gì?

Nhưng ngay lúc đó, Stalin đã quay sang thủ trưởng Tổng cục phản gián quân sự, nhìn ông từ chân lên đầu rồi nói:

- Đồng chí sẽ được giúp đỡ bắt cứ những gì cần thiết, nhưng trách nhiệm chính là do cá nhân đồng chí chịu!.. Thi hành ngay đi.

Cái lệnh “Thi hành ngay đi” và lời cảnh cáo phải chịu trách nhiệm cá nhân chỉ nói riêng với vị chủ nhiệm Tổng cục phản gián quân sự, nhưng còn có nghĩa đối với cả hai vị bộ trưởng dân ủy nữa, cho nên hai ông cũng vội vã quay ra theo thủ trưởng Tổng cục phản gián quân sự. Họ hiểu rõ rằng, Tổng tư lệnh tối cao rất thích mọi mệnh lệnh, chỉ thị và thậm chí cả những lời khuyên răn đều phải được thi hành ngay tức khắc, không bị cản trở bởi bất cứ sự chậm trễ nào.

Và quả thật chả có cách hành động nào khác hơn được.

❀ ❀ ❀

[1] 22 tháng 6 năm 1941, ngày quân phát xít Đức bất ngờ tấn công xâm lược Liên Xô (Chú thích của người dịch.)

[2] Thủ đô Iran ngày nay. Nơi đây, năm 1944 đã diễn ra hội nghị cấp cao nhất của các nước Đồng minh. (Chủ thích của người dịch.)

[3] Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh. (Chủ thích của người dịch.)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vladimir Bogomolov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.