Nhóm công tác đặc biệt do tướng Mokhov chỉ huy đáp máy bay từ Mátxcơva đến Lida đã gặp trắc trở: lúc bay đến Orsha, chiếc máy bay vận tải của họ bị hai máy bay Đức bất ngờ tấn công và bị thương nên đã buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống cánh đồng.
Mátxcơva yêu cầu phải xác định ngay chỗ họ hạ cánh, nhưng chả ai biết được là hiện họ đang ở đâu. Cuối cùng rồi cũng có một bức điện khẩn báo là họ đang sửa chữa máy bay và yêu cầu giúp đỡ. Từ lúc Egorov liên lạc với tư lệnh lực lượng không quân của mặt trận đưa máy bay đến giúp, cho đến khi họ về đến Lida thì đã chậm đến hơn năm giờ.
Egorov rất hài lòng vì lãnh đạo nhóm công tác đặc biệt này lại là thiếu tướng Mokhov, một quân nhân trầm tĩnh, có nghị lực và kinh nghiệm, một người bạn chiến đấu cũ đã cùng ông phục vụ ở Viễn Đông, (cả hai gia đình chơi với nhau rất thân) và trong những năm chiến tranh này cũng đã đôi, ba lần gặp nhau trong công tác.
Họ gặp nhau ngay cạnh máy bay, ôm chầm lấy nhau thắm thiết đúng như những bạn cũ lâu ngày không thấy nhau. Egorov đề nghị, trước hết hãy đi ăn đã, nhưng tướng Mokhov liền từ chối.
- Cứ để cho các đồng chí trong nhóm đi ăn. – Mokhov nói và hất đầu về phía các sĩ quan đang xuống thang máy bay. – Còn tôi với anh, ta bàn ngay vào công việc thôi.
Trên đường về Ban phản gián, ông kể cho Egorov nghe chuyện máy bay bất ngờ bị tấn công ra sao, viên phi công đã khéo léo lái chiếc máy bay bị mất thăng bằng lướt trên rừng như thế nào và sau khi đã khó khăn lắm mới hạ cánh được thì lại bị hai máy bay Đức lượn quanh, săn tìm mồi, bắn phá liên hồi hòng đốt cháy nó.
Cùng với Egorov và Polyakov ở trong phòng làm việc của trưởng Ban tình báo quân đoàn không quân, ngoài tướng Mokhov ra, trong số những người mới đến còn có hai sĩ quan nữa là: đại tá kỹ sư Nikolsky, chuyên viên về kỹ thuật vô tuyến và một sĩ quan mới đề bạt, thiếu tá Kirilyuk, chuyên viên tổng hợp Cục phản gián mặt trận.
Trước đây, công tác này do một trung tá phụ trách trong một thời gian dài, nhưng một tháng trước đây, trong một chuyến đi công tác đến gặp Egorov, trung tá mong muốn được tham gia vào việc thu lượm các tài liệu tình báo của kẻ thù ở vùng Vilnius bị bao vây, ông đã bị thương nặng trong một trận phục kích, ba ngày sau ông chết và được chôn cất trong nghĩa trang thành phố vừa được giải phóng.
Kirilyuk là một sĩ quan có khuôn mặt hơi dài, tóc hung hung vàng, vầng trán thẳng và cao, có cặp mắt màu da trời. Lần đầu tiên Egorov và Polyakov gặp thiếu tá Kirilyuk.
Họ ngồi làm hai nhóm: Egorov và Polyakov ngồi một bên còn những phái viên mới đến thì ngồi cuối bàn – nơi Polyakov đã đặt hồ sơ báo cáo diễn biến của cuộc truy lùng. Tại đây, ông đã đặt sẵn mấy chiếc bút chì và giấy trắng.
- Các cháu gái nhà anh ra sao? - Vừa ngồi Egorov vừa hỏi Mokhov.
- Cảm ơn, khỏe cả, – Mokhov cười. - Học giỏi, làm việc nhà khá, giúp đỡ mẹ nhiều. Tất nhiên, hai cháu tham gia vào việc bốc dỡ hàng chở ra mặt trận, rồi thu hoạch mùa màng, vào rừng lấy củi... - ông nói với một vẻ hài lòng của người bố. - Sang năm Olga sẽ tốt nghiệp, nó lớn lắm rồi... Còn Katka thì có thể lập gia đình được rồi!..
Ông ngừng lại, thoáng nghĩ đến mấy cậu con trai của Egorov, nghĩ đến Olga con gái ông – có lúc cả nhà đã nói đùa ghép cô với một trong hai cậu con sinh đôi của Egorov. Và ông định nói đùa, nhưng không tiện, liền đề nghị:
- Ta bắt đầu chứ!
- Đồng chí Nikolai Fedorovich... - Egorov quay gọi Polyakov.
- Chúng tôi đã tìm hiểu vụ này ở Mátxcơva và cả trong lúc đi đường... – Mokhov thông báo trước. – Chúng tôi cần thêm những tin tức xảy ra sau nửa đêm hôm qua và hiển nhiên là cần biết những suy nghĩ, dự kiến cụ thể của các đồng chí trong khi thực hiện... Nói ngắn, vắn tắt thôi!..
Polyakov đứng dậy, cầm bút chì và bước đến trước bản đồ.
- Nhóm tình báo địch mà chúng tôi đang truy lùng là một nhóm mạnh, có kinh nghiệm và lành nghề. Chúng hoạt động nhằm thu thập tình báo chiến dịch ở vùng sau lưng mặt trận chúng tôi và các mặt trận bên cạnh. Bọn này có mối liên hệ rõ ràng với bọn gián điệp hoặc với những tên điệp viên được cài sẵn rất thông thạo ở vùng sau lưng Mặt trận vùng ven biển Baltic thứ nhất, và đồng thời chúng cũng trực tiếp quan sát các nhà ga, các đường sắt ở Grodno hoặc ở Bialystok và các đoàn vận tải trên các tuyến giao thông ở Siauliai – Vilnius – Grodno – Bialystok.
Vừa nêu tên các vùng mà bọn tình báo địch hoạt động, Polyakov vừa chỉ vào bản đồ.
- Tình hình rất phức tạp, - ông tiếp tục nói, - đài phát lưu động, chúng sử dụng cả ô tô và dĩ nhiên là luôn luôn thay đổi tần số, khóa mật mã. Chúng tôi đã gặp phải những tên hết sức thận trọng, khôn khéo và giàu kinh nghiệm... Đồng chí yêu cầu nói ngắn, vắn tắt nên tôi sẽ không báo cáo tỉ mỉ quá trình diễn biến cuộc truy lùng và viện cớ này nọ mà xin nói ngay đến những suy nghĩ và dự kiến của chúng tôi... Sau khi phân tích tất cả các số liệu thu thập được tới nay, chúng tôi có một ý kiến chắc chắn là có thể có một hầm bí mật mà bọn bị truy lùng đang sử dụng để truyền tin ở đâu đó trong vùng phía bắc khu rừng Shilovychi.
- Diện tích vùng phía bắc này bao nhiêu? - Tướng Mokhov liền hỏi.
- Từ mười lăm đến mười bảy kilômét vuông...
- Đồng chí Kolybanov đã tỏ ý lo ngại là các đồng chí chú ý đến rừng Shilovychi quá nhiều, như thể là các đồng chí lấy một vùng hẹp quá.
- Nào, chúng ta cùng xem cụ thể.
Polyakov lanh lẹn trải rộng tấm bản đồ tỷ lệ trung bình vùng nam Latvia và tây Belarus lên bàn. Các sĩ quan Mátxcơva tới và Egorov đều đứng dậy bước đến cạnh bàn.
- Ngày bảy tháng tám bọn bị truy lùng ở vùng Ozera, đây, chỗ này, đánh cướp chiếc xe Dodge của trung sĩ Gusev và chạy về Stolbtsy... Đây, chỗ này có lẽ là nơi đầu điện đài của chúng. Sau đó chúng liền đánh điện và quay ngay về đây, cũng ở vùng này về phía tây. Các đồng chí hãy lưu ý, đường cái từ Ozera đến Stolbtsy và ngược lại về Zabolotye, nơi đã phát hiện ra chiếc Dodge đều gắn khu rừng Shilovychi. Ngày mười ba chúng nó lại đánh điện từ vùng phía bắc khu rừng. Và ngày mười sáu chúng nó đánh điện với mật hiệu KAO ở phía đông cách khu rừng Shilovychi từ ba mươi đến bốn mươi kilômét. Lần này chúng vừa di động vừa đánh điện, có lẽ là từ trên ô tô được phủ bằng vải bạt đi trên đường đất gập ghềnh. Tôi đã cử người đến đây và họ đã lùng sục một khu vực lớn, nhưng thật đáng tiếc là tối hôm ấy ở vùng này lại có dông lớn nên chả còn dấu vết gì ở hiện trường cả. Rất ít có khả năng là vừa di động vừa thực hiện chuyển điện như vậy mà sau đó chúng lại đi theo hướng cũ. Theo như kinh nghiệm mà chúng tôi có thì, thường thường, chúng hay đi ngược lại với hướng cũ hoặc đi chệch sang các phía khác. Chúng tôi cho rằng tối hôm mười sáu đó chúng đã chở đài phát này trở lại hầm bí mật ở phía bắc khu rừng Shilovychi... Các đồng chí cần chú ý một điều: mặc dầu hoạt động của nhóm điệp viên này có liên quan đến cả các vùng của mặt trận bạn, nhưng vành đai hoạt động của điện đài này cũng chỉ ven quanh khu vực chúng tôi... Điều này chứng tỏ chúng không muốn mang điện đài đi theo mình nếu không thật cần thiết – vì như vậy rất mạo hiểm... Rõ ràng là có quy định chu kỳ hoạt động do các hạt nhân của nhóm này phụ trách: bọn chúng chỉ nhận tin của bọn điệp viên cài sẵn trong các khu vực của Mặt trận Baltic I ở vùng Grodno và Bialystok, và tự chúng thu thập bằng cách trực tiếp quan sát hoạt động trên các tuyến giao thông trong khu vực chúng phụ trách, sau đó trở về nơi quy định ở vùng thuộc mặt trận chúng tôi và dùng điện đài chuyển những tin tức đó về trung tâm cho bọn Đức.
Polyakov im lặng một lát và sau đó lại chỉ lên vùng bắc Shilovychi trên bản đồ, nói tiếp:
- Từ đây, bọn điệp viên đã đánh điện vào lúc chập tối hoặc đã tối hẳn vì chúng có hai bạn đồng minh tin cậy là khu rừng rậm rất rộng này và bóng đêm. Tính toán của chúng rất đúng vì nếu thậm chí có bị phát hiện chăng nữa thì từ khi chuẩn bị cho đến khi vượt mấy chục kilômét đường rừng để đến đây trời đã tối rồi. Việc tìm kiếm trong bóng đêm quả là vô ích. Hơn nữa, muốn tìm kiếm cho chắc chắn trong khu rừng rậm như vậy phải dùng tới hàng trăm người và chả phải trong một vài giờ có thể kiểm xong được... Đề nghị đồng chí đọc lại nội dung những bức điện đã bắt được và suy nghĩ thực chất công việc, ta thấy: phạm vi hoạt động của chúng thật rộng lớn!.. Đây là các vùng Siauliai, Vilnius, Grodno, Bialystok, Lida, Shilovychi hai lần và trước đó, trước khi cuộc tấn công tạm ngừng, là Iasunu và Stolbtsy... Giờ chúng ta thử đặt mình vào vị trí của tên nhóm trưởng nhóm này và nhìn nhận vấn đề thật kỹ càng: khu vực nào có thể là nơi lý tưởng nhất để đặt hầm bí mật cùng với điện đài, trong khi chúng ta đã biết rõ tình hình sự việc và hình thể hiện nay của tuyến mặt trận?.. Chúng tôi đã phân tích, suy luận kỹ và đã đi đến kết luận, - đó là khu rừng rậm Shilovychi!
- Thế còn khu rừng hoang Rudnitskaya Pushcha thì sao? - Sau một lúc suy nghĩ, Mokhov hỏi lại, ông cùng với Egorov và những phái viên trong đoàn đều đứng ngay cạnh Polyakov và chăm chú nhìn kỹ tấm bản đồ trước mặt.
- Thứ nhất, khu rừng Shilovychi được một mạng lưới giao thông bao bọc và nếu không tấp nập lắm thì cũng khá nhiều xe cộ đi lại, do đó, tạo nên khả năng là nếu cần thiết thì có thể chạy lên xe và trốn khỏi khu vực này ngay... Ngay cạnh đây là khu rừng hoang Rudnitskaya Pushcha, nhưng gần đây chỉ có một con đường ô tô, tuy nhiên, cần biết rõ khái niệm cạnh đây cũng còn cách tới trên bốn kilômét... Thứ hai và cũng không kém quan trọng là ở Shilovychi ít có phỉ hoạt động, còn ở Rudnitskaya Pushcha có nhiều toán phỉ lớn của bọn AK hoạt động... Tôi còn có nhận xét rằng, có khả năng tên Pavlovsky cũng có liên quan đến bọn “Neman” này. Có chứng cứ khẳng định thêm suy nghĩ này của chúng tôi, vì trước chiến tranh hắn đã làm việc giúp bố hắn ở đây nên đã biết rõ đường đi, lối lại, đường ngang lối tắt ở khu rừng này. Và đứng ở góc độ của bọn tình báo đang bị truy lùng này mà xét, nếu trong hoạt động của chúng lại không biết lợi dụng sự am hiểu này thì quả là rất không thông minh tý nào... Cũng cần phải nhấn mạnh thêm một điểm nữa, về vị trí và ưu thế mà nói thì khu rừng Shilovychi này, theo ý kiến của chúng tôi, có nhiều nơi có thể dùng làm địa điểm tiếp nhận hàng tiếp tế từ máy bay mà theo như chúng tôi biết, chúng nó đang chờ đợi. Việc tiếp nhận này có thể là tối mai – thứ bảy hoặc ngày kia – chủ nhật.
- Thế đấy... – tướng Mokhov ngồi xuống ghế, với tay cầm quyển sổ công tác, giờ giờ mấy trang ghi đặc chữ. – Thế có tin tức gì mới về Nikolaev và Sentsov không?
- Quả thật là chúng tôi cũng có nghi ngờ nhiều giả thuyết về hai người này. - Polyakov nói. - Về Nikolaev và Sentsov tôi đề nghị hãy tạm gác lại sau: vì chúng tôi đang từng phút từng giây chờ trả lời khẩn cấp của đơn vị hai người này gửi tới... Còn bây giờ tôi muốn báo cáo ý kiến của chúng tôi về bước thực hiện tiếp theo.
- Được, đồng ý. - Mokhov gật đầu ưng thuận.
- Bọn bị truy lùng buộc phải có cái gì đó để chuyển và những tin tức mà chúng thu lượm được đã và sẽ là chỗ dựa của chúng, và do đó chúng rất thận trọng, chỉ phát một tuần hai lần. Đồng thời chúng tôi biết rằng nguồn pin của chúng đã gần cạn, chúng cần được cấp tốc cung cấp pin mới. Qua hai bức điện gần đây, các tín hiệu truyền đi rất yếu. Theo như chúng tôi đã phát hiện được trong bức điện gần đây nhất thì vào ngày mai, – thứ bảy hoặc ngày kia – chủ nhật, chúng sẽ có hàng gửi đến. Chúng cần phải xác nhận được nơi thả dù sắp tới trước đó mấy giờ. Hành động của chúng sẽ diễn ra hoặc có thể diễn ra như thế nào? Nếu điện đài được giấu ở hầm bí mật nào đó, như chúng ta tin tưởng, thì đến thứ bảy này tức là ngày mai, chúng nhất định sẽ phải đến đấy vào khoảng quá trưa để mang đi một nơi nào đó khoảng mấy kilômét để khỏi bị lộ nơi giấu – nhưng cũng chỉ trong phạm vi khu rừng này thôi – và thực hiện trao đổi tin tức để xác định địa điểm và thời gian nhận hàng. Trong trường hợp này, thậm chí nếu như sự xác định đó vào chủ nhật, tức là ngày kia, điều đó không chắc chắn lắm thì bọn Đức này sẽ gặp phải hoàn cảnh không thuận lợi, chúng phải mang theo điện đài này suốt hơn một ngày đêm không hoạt động nên chúng tôi cũng đã có một phương án cụ thể để bắt chúng vào thứ bảy, tức là ngày mai. Và nếu chúng xuất hiện trong khu rừng Shilovychi vào chủ nhật, ngày kia thì khả năng thực tế để bắt chúng cũng sẽ phải lùi lại một ngày đêm nữa... Trong bất cứ trường hợp nào chúng cũng đều phải xuất hiện vào khoảng từ mười lăm đến sát, để chúng biểu lộ thực chất của mình. Đó sẽ là sự bảo đảm hoặc là tiến để có được cho việc khám phá nhanh chóng toàn bộ đội điệp viên. – Polyakov kết luận và mỉm cười. – Và lúc đó chúng ta sẽ tự tay đốt các đống lửa tín hiệu.
Đặt mình vào chỗ đứng của bọn bị truy lùng – đó là điều thông minh, Mokhov nhận xét. – Nhưng các anh có nghĩ rằng bọn chúng, về phần mình, cũng sẽ tự đặt mình vào cương vị của chúng ta và cố gắng suy nghĩ, phân tích hành động của các anh và đề ra các hành động chồng lại không?
- Có, chúng tôi có nghĩ tới! Hôm nay tôi đã cùng đồng chí Cục trưởng thảo luận với nhau hơn một giờ rưỡi chuyên về vấn đề này, – Polyakov cười đáp. - Chúng tôi đã đề ra mọi dự kiến và khả năng có thể xảy ra. Dĩ nhiên là chúng tôi không đếm xỉa hay nói cho đúng hơn là loại trừ ưu thế của chúng ta. Bởi vì chúng chưa hề biết chúng ta đã bốn lần bắt được sóng của chúng, chúng ta có đủ các bản dịch mật mã các bức điện đó và đã xác định được những khu vực điện đài của chúng hoạt động, chúng ta đã tìm được chiếc “Dodge” và Gusev đang sống. Chúng nó không biết chúng ta đã nắm được những tin tức nhất định về chúng, và nếu chúng nó có biết được điều đó chăng nữa thì chúng cũng không thể xác định được rõ ràng những tin tức gì.
- Tôi xin hỏi một điều... – kỹ sư, đại tá Nikolsky bỗng hỏi, – các đồng chí tin tưởng và khẳng định rằng, tới ngày mười sáu vừa qua, sau khi đánh điện xong chúng nó đã đưa máy về giấu ở hầm bí mật trong khu rừng Shilovychi. Thế các đồng chí có dự kiến khả năng là hai ngày nay chúng có thể đã mang đi giấu ở một nơi nào khác rồi chăng?
- Chúng tôi đã nghĩ đến trường hợp đó. Và chúng tôi đi đến kết luận, nếu có xảy ra như vậy thì cũng chỉ có thể sau khi đã tiếp nhận hàng xong. Chúng tôi tin rằng, chúng nó có định lấy điện đài đi hẳn nơi khác thì cũng không thể làm trước ngày mai được.
- Tôi xin phép... – thiếu tá Kirilyuk xin phép nói và đưa mắt nhìn từ Polyakov sang Mokhov. - Các đồng chí có xem xét đến vấn đề dùng lực lượng bộ đội để lùng sục khu rừng Shilovychi này không?
- Không. - Polyakov nhấn dài giọng. Trong hai ngày sắp tới đây, dù trong trường hợp nào cũng vậy, không cần phải lùng vào khu rừng này làm gì cả.
- Sao lại như vậy?
- Dùng bộ đội lùng sục sẽ đem lại cho chúng ta cái gì? - Egorov hỏi lại.
- Chiếc hầm bí mật mà theo như các đồng chí nói, có giấu điện đài là gì.
- Tôi chưa tin chắc lắm! – Egorov cau mày nói. - Đi lùng sục, tìm kiếm hầm bí mật trong khu rừng rộng như ở Shilovychi này không phải là việc đơn giản!.. Và bản thân cái hầm bí mật kia cũng chả có ý nghĩa gì lắm. Chúng ta cần con người, cần bắt tại chỗ khi chúng đang hoạt động – còn nếu như chỉ phát hiện hầm với máy móc thì chả có ý nghĩa gì lắm! Chúng tôi muốn lợi dụng căn hầm – trong trường hợp phát hiện ra nó – để làm cái bẫy bắt hạt nhân của nhóm gián điệp và ngày mai hoặc ngày kia là cùng, chúng tôi sẽ có được cơ hội thực sự để làm việc đó. Chúng ta cần bắt tại chỗ hành động để nắm được toàn bộ hoạt động của nhóm điệp viên này, chứ dùng bộ đội lùng sục như ý đồng chí, thường chỉ vô ích thôi! Do đó, nếu vẫn để ý ra đây, trong lúc này là không thực tế. Đồng chí thiếu tá nên dẹp các ý kiến đó lại, – Egorov nói với Kirilyuk bằng một vẻ coi thường và quay lưng lại, hai ngón tay gõ nhịp trên mép bàn. – Xin lỗi đồng chí, tôi không muốn chúng ta tốn thì giờ vô ích để thảo luận ý kiến này và thậm chí không muốn nghe nói đến nó nữa!
- Rất tiếc, thưa trung tướng, đây không phải là ý kiến của riêng tôi, – Kirilyuk vẫn điềm tĩnh nói, mắt nhìn thẳng vào Egorov, – ý kiến này chính do tướng Kolybanov đưa ra.
- Đồng chí ấy nói sao? Anh nói cụ thể hơn!
- Alexey Nikolaevich ạ, - Mokhov can thiệp vào câu chuyện. – Các đồng chí đừng nóng nảy... Kolybanov và thượng tướng có nói điều này khi tôi đến bàn công việc với các đồng chí ấy trước khi bay đến đây. Họ có đề nghị là khi tới đây, thử nêu vấn đề này lên nghiên cứu xem sao. Nói một cách cụ thể hơn thì chính ý kiến này này sinh ra sau khi họ biết được ý kiến của các anh là có thể trong khu rừng Shilovychi có hầm bí mật.
- Chúng ta không nên nhầm lẫn! Việc dùng bộ đội lùng sục hoặc nghiên cứu ý kiến dùng bộ đội lùng sục là hai vấn đề khác nhau! – Egorov đầy ghế ra sau, từ từ đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng và nói. – Tôi có thể nói cho các đồng chí biết rằng ý kiến dùng bộ đội lùng sục để đạt được ý đó là tạo cho Tổng hành dinh biết rằng chúng ta rất tích cực hành động đây!.. Nếu như chỉ báo cáo rằng, trong cuộc truy lùng này chỉ có vài chục người thì với con mắt của Bộ chỉ huy tối cao quả là không có nghĩa lý gì và thậm chí có thể còn bị phê phán là không biết đánh giá tình hình, hơn thế nữa có thể bị khiển trách là lơ là, trễ nải, coi thường công việc! Còn nếu như báo cáo rằng, chỉ với một khu rừng bé như vậy mà đã dùng hàng ngàn quân bao vây lùng sục thì sẽ gây được ấn tượng ngay! Nhưng đó chỉ là ấn tượng đối với những người không thực tế, chứ chúng tôi và các đồng chí, chúng ta là những người không háo danh! Vậy chúng ta cần khẳng định và phân tích rõ thêm đối với chúng ta, cái gì quan trọng hơn: kết quả cụ thể tại chỗ hay là gây ấn tượng tích cực hoạt động?.. Nhưng dầu sao thì, Nikolai Fedorovich, – Egorov vừa nói vừa quay lại nhìn Polyakov, đồng chí thử tính xem chúng ta cần bao nhiêu bộ đội để tổ chức cuộc truy lùng như vậy.
- Để tổ chức được một cái lược đầy đủ để chải khu rừng Shilovychi và để hình thành một chuỗi xích như vậy ít ra cũng phải cần tới bốn ngàn người... – Polyakov nói với một giọng thong thả, trầm tĩnh và luôn luôn khịt mũi. – Để tổ chức bao vây chặt và nhanh khu rừng thì số bộ đội này phải dùng ô tô. Ít nhất cũng phải trên hai trăm xe tải... Và cũng cần ít nhất trên hai trăm chó săn và một trăm rưỡi đến một trăm bảy mươi người dò mìn.
- Chỉ một chiếc lược mỏng như vậy chưa đủ để chải được khu rừng này, Egorov vừa đi lại gần những người ngồi quanh bàn vừa nói. Phải tính đến những khu vực rậm rạp, tức là những nơi tầm nhìn bị hạn chế. Đây không phải là đi tìm người mà là tìm một hầm bí mật. Vậy làm sao mà tìm thấy được.
- Toàn khu rừng rộng bao nhiêu? - tướng Mokhov hỏi.
- Khoảng trên sáu chục kilômét vuông.
- Chu vi và chiều dài của rừng?
- Gần bốn mươi.
- Chà, đây không phải là một trò đùa!
Tướng Mokhov cau mày, ghi ý gì đó vào sổ tay.
- Các đồng chí đã nghe rõ, một cuộc lùng sục như vậy cần bao nhiêu người rồi chứ? – Tướng Egorov hỏi và dừng lại trước mặt thiếu tá Kirilyuk. – Đồng chí có bảo đảm cung cấp được cho chúng tôi không?
- Ô, thưa trung tướng, – Kirilyuk mỉm cười vẻ hiểu biết. – Vấn đề này Tổng hành dinh rất quan tâm. Đồng chí vừa nói tất cả chạy bấn lên! Nếu cần thì người ta sẽ điều cả một sư đoàn ở tiền tuyến cho các đồng chí!
- Chà, chà thiếu tá... - Egorov lắc đầu, đi lại cửa sổ. - Hình như đối với anh mọi sự đều rất đơn giản!.. Tôi ngạc nhiên về anh đấy!..
Ông im lặng ngắm nhìn sân bay qua bức màn che cửa một lát, rồi bỗng quay phắt lại nhìn vào mặt Kirilyuk với một vẻ hết sức bực bội, cao giọng nói:
- Tôi không cần một sư đoàn. Mà ngay cả một đại đội ở ngoài mặt trận về tôi cũng không yêu cầu. Nếu như thiếu tá có tình quên thì tôi xin nhắc lại cho rõ: nhiệm vụ quân đội là chiến đấu! Còn chuyện bao vây, bắt bọn gián điệp là nhiệm vụ của tôi! Và của những người trực thuộc tôi. Và cả của anh nữa!!! -
Egorov tức giận thật sự, ông nói như quát và chỉ thẳng tay vào Kirilyuk.
- Tôi muốn hỏi rằng, tại sao chúng ta, những quân nhân chuyên nghiệp lại có thể tìm cách trút cái bất lực, cái gánh nặng của chúng ta lên vai quân đội! Chúng ta có quyền gì!
Ông lại rảo bước trong phòng, lúc sau ông nói tiếp, nhưng giọng đã dịu hơn:
- Đây lại còn là một vấn đề thuộc về yếu tố đạo đức nữa mà có người thực sự không hiểu, còn người khác thì thường hay quên đi... Do đó chúng ta cần phải biết và phải nhớ! Trong trường hợp nếu có tổ chức bộ đội truy lùng thì mỗi người trong số hàng ngàn chiến sĩ được lôi cuốn vào công việc này cần phải được nhắc nhở: đây không phải như tuyến của anh; và thậm chí nếu chúng có bắn vào anh, kể cả khả năng chúng có giết anh, nhưng anh cứ phải bắt sống cho được chúng chứ không được bắn lại!.. Một sự nhắc nhở như vậy trong thực tế là mệnh lệnh rồi. Có thể nào nêu một yêu cầu như vậy với mỗi quân nhân hoặc ngay cả đối với bộ đội biên phòng bảo vệ vùng sau mặt trận được không? – Egorov dừng lại quay nhìn những người đang ngồi sau bàn. – Riêng tôi cho rằng, không thể được... Điều đòi hỏi đó chỉ có thể để ra với những cán bộ tình báo chuyên nghiệp. Đó là đặc quyền của họ, là số phận của họ...
Ông ngừng một lúc, đến cạnh cửa sổ, đưa mắt ngắm nhìn chiếc máy bay đang cất cánh phía xa.
- Tôi đã biết nhiều chiến dịch tảo thanh và theo kinh nghiệm riêng, tôi có thể nói rằng: phần lớn bộ đội đều đưa xác bọn gián điệp trở về. Và anh cũng hiểu rằng họ đã thề chỉ bắn vào chân tay thôi, nhưng rồi họ vẫn đưa các xác chết về cho anh. Xin lỗi, tôi không phải là một chuyên gia về khoa giải phẫu! Và anh, tôi hy vọng rằng, cũng vậy chứ gì? – Egorov vẫn nhìn Kirilyuk với vẻ mỉa mai, rồi quay sang nhìn Mokhov tiếp tục nói: - Hơn thế nữa, cứ mỗi tên điệp viên bị giết còn kèm theo mấy người của ta bị chết và bị thương... Tôi hy vọng các đồng chí sẽ hiểu rõ điều này. Tất nhiên cũng có những lúc nếu không dùng bộ đội lùng sục thì không được, nhưng đó là trong trường hợp hết sức cần thiết. Còn trong trường hợp này, nhất là hai ngày sắp tới đây, biện pháp này, theo tôi, là vô ích!.. Chúng tôi tin tưởng rằng, bọn điệp viên này có nhiều liên quan với khu rừng này và nhất định chúng sẽ xuất hiện ở đây... Tổ chức lùng sục sẽ làm cho chúng giật mình và do đó, chúng tôi không tán thành biện pháp này... Và thậm chí, nếu chúng bị vây trong vòng xích của ta, thì khả năng bắt sống chúng, nếu có, vẫn hết sức mỏng manh... Do đó tôi xin nói thẳng là: nếu không có mệnh lệnh bằng văn bản chính thức thì chúng tôi sẽ không thi hành và chúng tôi cũng không có ý định chuẩn bị cho biện pháp này.
Sau khi tuyên bố dứt khoát như vậy, Egorov liền về ghế ngồi.
- Biết làm sao được, các đồng chí ở đây đã có cơ sở lý luận rõ ràng và đầy đủ... – sau một lúc suy nghĩ, tướng Mokhov phát biểu. – Tôi chỉ yêu cầu một điều là đồng chí không nên thề trước như vậy... – Ông cười vang và nhìn vào sổ tay, hỏi tiếp: – Ở đây có bao nhiêu khu đất thuận tiện cho việc tổ chức bãi đón hàng?
- Nếu đứng về phía bọn bị truy lùng mà nhận định với tất cả sự thận trọng của chúng thì trong khu rừng này có thể chọn bốn bãi tiếp hàng.
- Tất cả các lối vào có thể tổ chức chín nhóm phục kích để khóa chặt lại, - Egorov nhận xét. - Để thực hiện việc này,chúng tôi cần ba mươi nhân viên truy lùng, mười sĩ quan của Ban quân quản, khoảng tám mươi người để quan sát các ngả cửa rừng từ xa và năm mươi nhân viên điện đài cùng với máy “Phương Bắc”. So với yêu cầu dùng bộ đội lớn thì tất cả lực lượng này chúng tôi đã có và có thể sử dụng ngay được.
- Đồng chí bố trí cứ như trên bàn cờ! – Mokhov mỉm cười, nói. Tôi rất hài lòng về sự tin tưởng của đồng chí. Thế đồng chí có bảo đảm rằng, ngày mai và cùng lắm là ngày kia, chúng ta sẽ tóm cổ được bọn chúng không?
- Ồ, đồng chí thiếu tướng, ai dám có sự bảo đảm chắc chắn được? - Lần này lại đến lượt Polyakov cười. – Thiếu gì điều bất ngờ có thể xảy ra! Các đồng nghiệp láng giềng vùng ven biển Baltic, anh em địa phương[1] có thể bắt chúng trước chúng tôi và cũng có thể bọn chúng đã bị bọn phỉ thịt hoặc vấp phải mìn rải rác trong rừng. Thiếu gì điều bất ngờ có thể xảy ra! Không, tôi không thể khẳng định sự bảo đảm nào cả và thật ra cũng không thể đặt ra một sự bảo đảm như vậy!..
- Tôi cũng nghĩ rằng chả có sự bảo đảm nào cả... – Mokhov nói, nét mặt đăm chiêu không cười nữa. Chính vì vậy mà vấn đề dùng bộ đội lùng sục chưa phải là đã được loại trừ. Các đồng chí chưa tính đến một điều rất quan trọng. Có thể có những điều nào đó quan trọng hơn, cấp bách hơn là những điều mà chúng ta kết luận ở đây... – Ông gập sổ tay lại, đứng dậy với dáng điệu cho mọi người hiểu rằng cuộc họp đã kết thúc, rồi nói tiếp. – Vấn đề dùng lực lượng bộ đội lớn còn để ngỏ ở đây, và có thể trong những giờ tới sẽ quyết định và không phải là ở cấp chúng ta...
❀ ❀ ❀
[1] Tức là nhân viên cơ quan an ninh nhà nước và công an thuộc sở nội vụ. (Chú thích của tác giả.)