Hiển nhiên qua những điều đã bàn, có vô số loại hình dân chủ và quả đầu chế khác nhau đúng như ta đã liệt kê; bởi lẽ, suy cho cùng, hoặc toàn bộ các tầng lớp nhân dân mà ta vừa kể tên đều phải nắm giữ quyền lực chính phủ, hoặc chỉ một số người được nắm trong khi những kẻ khác thì không. Khi những người làm nông nghiệp và những ai sở hữu gia tài vừa phải nắm quyền tối cao, họ sẽ cai trị theo luật pháp; bởi vì mưu sinh bằng nghề nghiệp của mình, họ có rất ít thời gian rảnh rỗi cho công việc chung của nhà nước. Do đó, họ sẽ ban hành những bộ luật thích hợp và chỉ triệu tập đại hội công dân khi thực sự cần thiết, đồng thời họ sẵn sàng để bất cứ ai cũng được tham gia điều hành công việc chung ngay khi người đó đạt đến mức tài sản mà luật pháp đòi hỏi làm điều kiện. Do đó, bất kỳ ai đủ điều kiện cũng sẽ có phần trong chính phủ, bởi vì việc loại trừ bất kỳ ai sẽ biến chính phủ thành một hình thức quả đầu chế, trong khi việc để tất cả mọi người có thời gian tham gia mà không phải lo kế sinh nhai là điều bất khả thi. Vì những lý do này, hình thức chính phủ này chính là một dạng dân chủ. Một dạng dân chủ khác lại được phân biệt qua phương thức bầu chọn quan tòa, nơi mọi công dân không vướng mắc vấn đề xuất thân đều có thể ứng cử, miễn là họ được cho là có thời gian rảnh rỗi để tham dự. Chính vì thế, trong nền dân chủ kiểu này, quyền lực tối cao sẽ thuộc về luật pháp, bởi chẳng có khoản thù lao nào được chi trả cho những ai đến tham dự các đại hội công dân. Dạng thứ ba là khi mọi người tự do đều có quyền tham gia chính sự nhưng họ lại từ chối vì lý do đã nêu trên, và cũng vì thế mà quyền lực tối cao một lần nữa lại thuộc về luật pháp. Dạng dân chủ thứ tư, cũng là dạng cuối cùng được hình thành theo tiến trình thời gian, xuất hiện khi các thành phố được mở rộng lớn lao so với thuở ban đầu và nguồn thu công quỹ trở nên đáng kể. Khi ấy, nhờ số lượng đông đảo, quần chúng nhân dân được dung nạp vào việc quản lý công việc chung; bấy giờ, ngay cả những người nghèo khổ nhất cũng có thời gian rảnh rỗi để quan tâm đến chúng, bởi họ nhận được tiền công khi làm việc đó. Thậm chí, họ còn rảnh rỗi hơn những người khác vì không bị bận tâm bởi của cải riêng tư như tầng lớp giàu có. Cũng chính vì lý do này, giới nhà giàu thường xuyên vắng mặt tại các đại hội công dân và các phiên tòa xét xử. Cứ thế, quyền lực tối cao rơi vào tay người nghèo chứ không phải luật pháp. Đó là những dạng dân chủ khác nhau, và đó là những nguyên nhân tất yếu sinh ra chúng.
Dạng quả đầu chế đầu tiên là khi phần đông thần dân trong quốc gia sở hữu tài sản vừa phải chứ không quá lớn, điều này mang lại cho họ thời gian rảnh rỗi để quản lý việc chung. Và vì họ là một khối đông đảo, tất yếu quyền lực tối cao phải thuộc về luật pháp chứ không phải con người. Do cách xa chính thể quân chủ, lại không đủ của cải để có thể lơ là công việc riêng, trong khi số lượng lại quá đông để có thể được công quỹ trợ cấp, họ dĩ nhiên sẽ quyết định để cho luật pháp cai trị thay vì chịu sự chi phối của nhau. Thế nhưng, nếu những kẻ có của cải trong quốc gia chỉ đếm trên đầu ngón tay và sở hữu khối tài sản kếch xù, một hình thức quả đầu chế thứ hai sẽ xuất hiện. Những kẻ nắm quyền lực lớn nhất khi ấy sẽ tự cho mình quyền áp đảo những người khác, và để đạt được mục đích đó, chúng liên kết với một số kẻ có tham gia chính sự. Vì chưa đủ mạnh để cai trị ngoài vòng pháp luật, chúng sẽ tự đặt ra một bộ luật phục vụ cho mưu đồ ấy. Trái lại, nếu nhóm thiểu số sở hữu gia tài lớn lao kia thâu tóm được quyền lực ngày càng to lớn hơn nữa, hình thức quả đầu chế sẽ biến đổi thành dạng thứ ba. Bằng một đạo luật quy định con trai được quyền kế vị cha sau khi qua đời, chúng sẽ thâu tóm toàn bộ các chức vụ trong bộ máy nhà nước vào tay mình. Hơn thế nữa, khi khối tài sản ngày một phình to cùng những mối quan hệ đầy quyền thế giúp chúng mở rộng hơn nữa ách áp bức, một vương triều độc tài sẽ trực tiếp mọc lên, nơi con người nắm quyền tối cao chứ không phải luật pháp. Đây chính là dạng thứ tư của quả đầu chế, tương ứng với nhóm dân chủ cuối cùng đã được nhắc đến ở trên.