Moby Dick; Hoặc Cá Voi

Lượt đọc: 258 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
Tấm chăn ghép vải

❊ ❊ ❊

Khi tỉnh dậy vào khoảng tảng sáng hôm sau, tôi thấy cánh tay Queequeg đang quàng qua người mình một cách hết sức âu yếm và thắm thiết. Tưởng chừng như tôi là vợ hắn vậy. Tấm chăn đắp vốn là loại chăn ghép từ vô số mảnh vải vụn, đầy những hình vuông, hình tam giác kỳ dị đủ sắc màu; còn cánh tay hắn thì xăm trùm kín một hình mê cung xứ Crete bất tận, chẳng có hai phần nào mang cùng một tông màu chính xác—tôi đoán là do ở ngoài biển, hắn lúc thì xắn tay áo, lúc lại thả xuống, để mặc tay phơi ra giữa nắng và râm một cách tùy tiện. Cánh tay ấy, tôi phải nói thực, trông chẳng khác nào một dải vải thuộc đúng tấm chăn ghép kia. Quả thực, vì cánh tay đè lên chăn khi tôi mới mở mắt, tôi khó mà phân biệt được đâu là tay, đâu là chăn bởi màu sắc của chúng hòa lẫn vào nhau; chỉ nhờ cảm nhận được sức nặng và áp lực, tôi mới biết Queequeg đang ôm chặt lấy mình.

Cảm giác của tôi lúc đó rất kỳ lạ. Để tôi cố giải thích xem sao. Tôi nhớ rất rõ hồi còn nhỏ, mình từng trải qua một hoàn cảnh tương tự; nhưng đó là thực thực hay mơ, tôi chưa bao giờ ngã ngũ được. Chuyện là thế này: Tôi đã bày ra trò nghịch dại nào đó—hình như là cố chui lên ống khói, bắt chước một đứa trẻ thợ quét ống khói mà tôi nhìn thấy vài ngày trước. Mẹ kế tôi—người chẳng hiểu sao lúc nào cũng chực đòn roi hoặc phạt tôi nhịn cơm tối rồi tống đi ngủ—đã kéo lê hai chân tôi ra khỏi ống khói và đuổi thẳng lên giường, dù lúc đó mới hai giờ chiều ngày hai mươi mốt tháng Sáu, ngày dài nhất trong năm ở bán cầu chúng ta. Tôi cảm thấy tồi tệ kinh khủng. Nhưng chẳng thể làm gì khác, vậy là tôi lững thững bước lên căn phòng nhỏ ở tầng ba, cởi quần áo thật chậm rãi để giết thời gian, rồi thở dài chua chát chui vào giữa hai lớp ga giường.

Tôi nằm đó, buồn bã tính toán rằng phải trải qua tròn mười sáu tiếng đồng hồ nữa mới mong đến giờ được "hồi sinh". Mười sáu tiếng nằm trên giường! Mới nghĩ đến thôi mà thắt lưng tôi đã nhức mỏi. Trời lại còn sáng chói chang; nắng chiếu qua cửa sổ, tiếng xe ngựa chạy rầm rộ ngoài phố, và tiếng trò chuyện vui vẻ vang khắp nhà. Cảm giác trong tôi càng lúc càng tồi tệ—cuối cùng tôi chồm dậy, mặc đồ, rón rén bước xuống nhà bằng đôi chân chỉ đi tất, tìm đến mẹ kế rồi bất ngờ quỳ gục xuống chân bà, van xin bà dủ lòng thương cho tôi một trận roi vọt ra trò vì tội hư hỏng; làm gì cũng được, miễn là đừng bắt tôi phải nằm chôn chân trên giường suốt một khoảng thời gian vô tận đến thế. Nhưng bà lại là người mẹ kế nghiêm cẩn và nguyên tắc nhất đời, nên tôi đành phải lầm lũi quay về phòng. Suốt mấy tiếng đồng hồ, tôi nằm đó thao thức, cảm thấy tồi tệ hơn bất kỳ bất hạnh lớn lao nào mà tôi gặp phải sau này. Cuối cùng, chắc tôi đã chìm vào một giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị; rồi khi từ từ tỉnh dậy—người vẫn còn mê man nửa tỉnh nửa mơ—tôi mở mắt ra, và căn phòng tràn ngập ánh nắng lúc trước nay đã bị bao phủ trong bóng tối mịt mùng. Ngay lập tức, một luồng điện chạy dọc khắp cơ thể tôi; chẳng thể nhìn thấy gì, cũng chẳng nghe thấy gì, nhưng dường như có một bàn tay siêu nhiên nào đó đang đặt vào tay tôi. Cánh tay tôi buông lơi trên chăn, và một bóng hình hay bóng ma câm lặng, không tên, không thể hình dung nổi—chủ nhân của bàn tay ấy—như đang ngồi ngay sát bên giường tôi. Suốt khoảng thời gian dài như hàng thế kỷ chồng chất, tôi nằm im phăng phắc, chết giếng trong nỗi sợ hãi kinh hoàng nhất, không dũng cảm nhúc nhích tay dù chỉ một phân; nhưng trong đầu luôn nghĩ rằng nếu chỉ cần nhích được một inch thôi, lời nguyền quái ác này sẽ bị giải phóng. Tôi chẳng biết làm sao mà sự nhận thức ấy cuối cùng lại tuột mất khỏi tôi; nhưng khi tỉnh dậy vào buổi sáng, tôi rùng mình nhớ lại toàn bộ sự việc, và trong suốt nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng sau đó, tôi chìm đắm trong những nỗ lực vô vọng nhằm giải thích ẩn số ấy. Thậm chí cho đến tận giờ phút này, tôi vẫn thường tự làm mình băn khoăn vì nó.

Bây giờ, nếu gạt nỗi sợ hãi kinh hoàng kia sang một bên, thì cảm giác kỳ lạ của tôi khi thấy bàn tay siêu nhiên nắm lấy tay mình cũng tương tự như cảm giác lúc tỉnh dậy và thấy cánh tay ngoại đạo của Queequeg đang quàng qua người. Nhưng rồi tất cả những sự việc đêm qua dần trở lại trong trí nhớ một cách rõ ràng, chân thực, và tôi nằm đó, chỉ còn nhận ra tình cảnh dở khóc dở cười của mình. Dù tôi đã cố dịch chuyển cánh tay hắn—gỡ bỏ cái ôm như chú rể ôm cô dâu ấy—nhưng dù đang ngủ, hắn vẫn siết chặt lấy tôi như thể chỉ có cái chết mới chia rẽ được hai chúng tôi. Tôi cố lay hắn thức dậy—“Queequeg!”—nhưng đáp lại tôi chỉ có tiếng ngáy. Tôi liền xoay người, cổ cảm thấy như đang bị kẹp trong cái gông đeo cổ ngựa; và đột nhiên tôi thấy hơi nhói như bị xước. Lật tấm chăn ra, chiếc rìu chiến đang nằm chễm chệ bên hông gã da đen, trông chẳng khác nào một đứa trẻ sơ sinh có khuôn mặt lưỡi rìu. Thật là một tình cảnh quái oăm, tôi thầm nghĩ; nằm trên giường giữa ban ngày ban mặt trong một ngôi nhà xa lạ, bên cạnh một kẻ ăn thịt người và một chiếc rìu chiến! “Queequeg!—lạy trời lạy Phật, Queequeg, dậy đi!” Cuối cùng, sau bao nỗ lực cựa quậy và những lời cằn nhằn xối xả về việc hai gã đàn ông ôm nhau theo kiểu vợ chồng là vô cùng chướng mắt, tôi cũng vắt ra được từ hắn một tiếng ừ hữ; ngay sau đó, hắn rút tay lại, rung người bần bật như chú chó Newfoundland vừa từ dưới nước bước lên, rồi ngồi dậy trên giường, thẳng đột như một cán giáo, nhìn tôi và dụi mắt như thể không hoàn toàn nhớ nổi tại sao tôi lại ở đây, dù trong đầu hắn dường như cũng bắt đầu lờ mờ nhận ra tôi là ai. Trong lúc đó, tôi nằm yên lặng quan sát hắn, không còn lo ngại gì nữa và quyết tâm nhìn kỹ sinh vật kỳ lạ này. Khi hắn đã định hình xong người bạn chung giường của mình và có vẻ như đã chấp nhận thực tế đó, hắn nhảy tót xuống sàn, rồi dùng vài điệu bộ và âm thanh để tôi hiểu rằng, nếu tôi muốn, hắn sẽ mặc đồ trước rồi nhường lại toàn bộ căn phòng cho tôi ăn mặc sau. Tôi thầm nghĩ, Queequeg à, trong hoàn cảnh này thì đây là một thiện chí rất văn minh; nhưng thực ra, dù ai có nói gì đi nữa, những người dã man này luôn có một sự tinh tế bẩm sinh; thật kinh ngạc về sự lịch sự từ trong bản chất của họ. Tôi đặc biệt dành lời khen này cho Queequeg vì hắn đối xử với tôi rất lịch thiệp và chu đáo, trong khi tôi lại phạm phải sự thô lỗ lớn: nằm trên giường chằm chằm nhìn hắn và theo dõi từng cử động thay đồ của hắn; lúc ấy trí tò mò đã lấn át cả sự giáo dục của tôi. Dù sao thì, một người như Queequeg đâu phải ngày nào cũng gặp, hắn và cung cách của hắn rất đáng để để mắt tới.

Hắn bắt đầu mặc đồ từ trên xuống bằng cách đội chiếc mũ lông hải cẩu rất cao của mình, rồi—trong tình trạng vẫn chưa mặc quần—hắn đi tìm giày. Chẳng biết trời xui đất khiến thế nào mà hành động tiếp theo của hắn lại là chui tọt dưới gầm giường—tay cầm giày, đầu vẫn đội mũ; từ những tiếng thở hển và gồng mình dữ dội dưới đó, tôi đoán hắn đang ra sức xỏ giày; dù theo quy chuẩn lịch sự nào mà tôi từng biết thì chẳng ai bắt người ta phải trốn vào chỗ kín chỉ để đi giày cả. Nhưng Queequeg, bạn thấy đấy, là một sinh vật đang ở giai đoạn quá độ—chẳng phải sâu bướm mà cũng chưa thành bướm. Hắn chỉ vừa đủ văn minh để phô ra sự kỳ dị của mình theo những cách quái đản nhất có thể. Sự giáo dục của hắn chưa hoàn thiện. Hắn mới chỉ là một sinh viên chưa tốt nghiệp. Nếu không có một chút văn minh, có lẽ hắn đã chẳng buồn bận tâm đến chuyện đi giày; nhưng nếu không còn là một kẻ dã man, hắn sẽ chẳng bao giờ mơ đến chuyện chui xuống gầm giường để xỏ chúng vào. Cuối cùng, hắn chui ra với chiếc mũ móp xóp móp xẹp sụp xuống tận mắt, rồi bắt đầu bước đi khập khiễng, giày kêu sột soạt khắp phòng, như thể chưa quen đi giày, cộng thêm đôi giày da bò nhăn nhúm, ẩm ướt—chắc cũng chẳng phải đồ đóng riêng—đã làm hắn đau đớn và khó chịu ngay từ bước đầu tiên trong một buổi sáng lạnh giá.

Thấy cửa sổ không có rèm, mà con phố lại quá hẹp khiến ngôi nhà đối diện có thể nhìn thấu vào phòng, lại thêm vóc dáng chướng mắt của Queequeg khi hắn cứ đi qua đi lại trong tình trạng trên người chẳng có gì ngoài chiếc mũ và đôi giày; tôi cố hết sức ra hiệu bảo hắn khẩn trương ăn mặc nhanh lên một chút, đặc biệt là phải mặc ngay cái quần vào. Hắn làm theo, rồi tiến lại rửa máy. Vào giờ đó buổi sáng, bất kỳ người Công giáo nào cũng sẽ rửa mặt; nhưng Queequeg, trước sự kinh ngạc của tôi, lại chỉ bằng lòng với việc kỳ rửa ngực, cánh tay và hai bàn tay. Hắn liền khoác chiếc áo gile vào, lấy một cục xà phòng cứng trên bàn rửa mặt ở giữa phòng, nhúng vào nước rồi bắt đầu xoa bọt lên mặt. Tôi đang dõi mắt xem hắn giấu dao cạo ở đâu thì, kìa xem, hắn lấy chiếc xà beng săn cá voi ở góc giường, tháo phần cán gỗ dài ra, rút lưỡi sắt khỏi vỏ, mài qua mài lại trên chiếc giày một chút, rồi bước tới trước mảnh gương treo trên tường, bắt đầu cạo—hay đúng hơn là phóng xà beng—lên hai bên má mình. Tôi thầm nghĩ, Queequeg ơi, cạo mặt kiểu này thì đến cả dao cạo xịn nhất của hãng Rogers cũng phải chào thua. Về sau, tôi bớt ngạc nhiên trước hành động này khi biết đầu xà beng được làm bằng loại thép tinh luyện đến thế nào, và những lưỡi thẳng dài của nó luôn được giữ sắc bén ra sao.

Phần còn lại trong khâu sửa sang của hắn nhanh chóng hoàn tất, và hắn tự hào bước ra khỏi phòng, quấn chặt trong chiếc áo măng tô ngắn của thủy thủ, tay cầm chiếc xà beng hiên ngang như gậy gậy chỉ huy của một đại nguyên soái.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.