Moby Dick; Hoặc Cá Voi

Lượt đọc: 258 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 35
Cột Buồm Choòi

❊ ❊ ❊

Ào ạt đi qua những ngày thời tiết êm đềm, rồi cũng đến lượt tôi lên đảm nhận phiên gác đầu tiên trên cột buồm choòi, tuần tự như bao thủy thủ khác.

Trên hầu hết các tàu đánh bắt caa voi của Mỹ, người ta cắn cặn căm cột buồm choòi ngay khi tàu vừa rời cảng; cho dù hành trinh đến vùng ngư trường chính có thể dài tới mười lăm ngàn dặm hay hơn nữa. Và nếu sau ba, bốn hay năm năm chinh chiến, khi tàu đã cận kề bờ cõi quê hương mà trong khoang với bất kỳ thứ gì còn trống—cho dù chỉ là mốt lỏ thuốc nhỏ—thì các cột buồm choòi vẫn được túc trực cho đến phút cuối cùng; chỉ đến khi những ngọn cột buồm cao nhất lướt qua giữa những tháp chuông của cảng nhà, con tàu mới hoàn toàn từ bỏ hy vọng săn thêm đuợc một con cá voi nữa.

Giờ đây, vì chuyện đứng gác trên cột buồm choòi—dù là trên bờ hay giữa đại dương—là mốt tập tục rất cổ xưa và đầy thú vị, nên hãy để tôi làn man đôi điều tại đây. Tôi cho rằng những người đứng cột buồm choòi đầu tiên chính là người Ai Cập cổ đại; bởi qua mọi thực hiện nghiên cứu, tôi không tìm thấy ai có trước họ. Dù cho những tiền nhân của họ—những người xây tháp Babel—chắc chắn đã có ý định dựng nên cột buồm choòi cao nhất toàn Châu Á hay Châu Phi thông qua ng̣n tháp của mình; nhưng (trước khi đỉnh chóp cuối cùng được đặt lên) ng̣n cột buồm bằng đá vĩ đại đó coi như đã gãy gập và rơi xuống biển trong cơn bão thần thịnh nộ của Chúa; vì vậy, ta không thể trao quyền tiên phong cho những người xây tháp Babel trước người Ai Cập. Việc khẳng định người Ai Cập là một dân tộc của những người đứng cột buồm choòi dựa trên niềm tin chung của các nhà khảo cổ học, rằng những kim tự tháp đầu tiên được xây dựng vì mục đích thiên văn: một giả thuyết được côu vũ một cách kỳ lạ bởi cấu trúc giống như cầu thang ở caa bốn mặt của những công trình đó; nhờ đó, với những bước nhấc chân cao phi thường, những nhà thiên văn cổ đại đã quen leo lên đỉnh và hô to khi tìm thấy những ngoài sao mới; giống như những người gác biển trên tàu hợp đại hô to khi thấy một cánh buồm hay một con cá voi vừa xuất hiện trong tầm mắt. Nơi Thánh Stylites, vị tu sĩ ân dật Cơ Đốc giáo nổi tiếng thời xưa, người đã dựng một cột đá cao giữa sa mạc và dành toàn bộ phần đời sau đó trên đỉnh cột, kéo thức ăn từ mắt đắt lên bằng ròng rọc; ở người, ta thấy một ví dụ phi thường về một người đứng cột buồm choòi ngoan cuồng; người không bị đuổi cổ khỏi vị trí của mình bởi sương mù hay băng giá, mưa, mưa đá hay tuyết tan; mà dũng cảm đối mặt với mọi thứ đến phút cuối cùng, trở thành người trút hơi thở cuối cùng ngay tại vị trí gác. Về những người đứng cột buồm choòi hợp đại, ta chỉ có một tập hợp vô hồn; chỉ là những bức tượng đá, sắt và đồng; những kẻ dù có khả năng chống trọi với bão lớn, nhưng hoàn toàn vô năng trong việc hô to khi phát hiện ra kỳ quan lạ. Đó là Napoleon, người đứng khoanh tay trên đỉnh cột Vendôme ở độ cao chừng một trăm năm mươi bộ giữa không trung; chẳng còn băn khoăn ai đang trị vì trên boong tàu bên dưới; dù là Louis Philippe, Louis Blanc, hay Louis Ác Quỷ. Washington Vĩ Đại cũng đứng chót vót trên cột buồm chính cao vớt vợi ở Baltimore, và giống như một trong những cột đền Hercules, cột đá của người đánh dấu điểm cao vĩ đại của con người mà ít người trần nào qua mặt được. Đô đốc Nelson cũng đứng gác trên cột buồm bằng kim loại đầu pháo ở Quảng trường Trafalgar; và mỗi khi bị che khuất bởi khói bụi London, dấu hiệu vẫn cho thấy một anh hùng ân mắt đang ở đó; vì nơi nào có khói, nơi đó phải có lửa. Nhưng caa Washington Vĩ Đại, Napoleon, hay Nelson sẽ không trả lời một tiếng hô nào từ bên dưới, dù có được van xin điên cuồng đến đâu để xin lời khuyên cho những boong tàu đang bối rối mà họ đang dõi theo; dù người ta có đoán rằng linh hồn họ xuyên qua lớp sương mù dày đặc của tương lai để nhận biết những bãi đá ngườm và rặng đá nào cần phải tránh.

Có về như vô lý khi so sánh người đứng cột buồm choòi trên bờ với người trên biển; nhưng thực ra không phải vậy, điều này được chứng minh rõ ràng qua một chi tiết mà Obed Macy, nhà sử học duy nhất của Nantucket, đã ghi lại. Bậc Obed đáng kính kể rằng, vào thời kỳ đầu của ngành săn cá voi, trước khi tàu thuyền được hạ thủy đều đặn để đuổi theo con mồi, người dân trên đảo đó đã dựng những cột gỗ cao Dọc theo bờ biển, những người gác biển trèo lên đó bằng những nấc gỗ đập đanh, giống như gà leo lên chuồng. Một vài năm trước, chính phương pháp này đã được các ngư dân săn cá voi ở vịnh New Zealand áp dụng, khi phát hiện ra con mồi, họ phát tín hiệu cho các thuyền đã sẵn sàng thủy thủ đoàn gần bãi biển. Nhưng hủ tục này giờ đã trở nên lỗi thời; vậy hãy quay lại với cột buồm choòi chính thức, đó là của một tàu săn cá voi trên biển. Ba cột buồm choòi được căm cặn từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn; các thủy thủ luân phiên nhau (giống như gác bánh lái) và thay ca mỗi hai giờ một lần. Trong thời tiết êm đềm của vùng xích đạo, đứng trên cột buồm choòi rất dễ chịu; phải nói là với một người hay mơ mộng và suy tư, đó là một điều tuyệt vời. Bạn đứng đó, cao một trăm bộ phía trên những boong tàu lặng ngắt, sải bước qua đại dương sâu thẳm, như thể những cột buồm là những cây cà kheo khổng lồ, trong khi bên dưới bạn và giữa hai chân bạn, như thể những quái vât lớn nhất của biển caa đang bơi qua, giống như những con tàu từng buồm qua giữa đôi giầy của tượng Thần Mặt Trời Colossus nổi tiếng ở Rhodes cổ đại. Bạn đứng đó, lạc lố trong chuỗi vô tận của biển caa, không có gì xao động ngoài những làn sóng. Con tàu như bị thôi miên lắc lư uể uải; những cơn gió mậu dịch thường ngày thổi ngô khoai; mọi thứ hoàn toàn đưa bạn vào sự uể uải. Phần lớn, trong đời sống săn cá voi vùng xích đạo này, một sự tịnh tiến tráng lệ bao bọc bạn; bạn không nghe tin tức; không đọc báo chí; những bản tin đặc biệt với những câu chuyện giật gân về những điều thường nhật chẳng bao giờ dụ dỗ bạn vào những cơn hưng phấn không cần thiết; bạn không nghe về những tai họa gia đình; nợ nần phá sản; chứng khoán tụt giá; chẳng bao giờ bị quấy rầy bởi suy nghĩ trưa nay sẽ ăn gì—vì mọi bữa ăn của bạn trong ba năm và hơn nữa đã được xếp gọn gàng trong những thùng gỗ, và thực đơn của bạn là bất diễn bất dịch.

Trên một trong những con tàu săn cá voi phương nam đó, trong một hành trinh dài ba hay bốn năm, như thường xảy ra, tổng số giờ bạn dành trên cột buồm choòi sẽ lên tới nhiều tháng trời. Và rất đỗi đáng tiếc là nơi mà bạn dành một phần lớn thời gian của cuộc đời tự nhiên để cống hiến, lại thiếu vắng một cách saầu thẳm bất kỳ điều gì tiến gần đến một không gian chỗ ở ấm cúng, hay phù hợp để nuôi dưỡng một cảm giác thuộc về thư thái, giống như một chiếc giường, một chiếc võng, một chiếc xe tang, một chòi gác, một bục giảng, một chiếc xe ngựa, hay bất kỳ thiết kế nhỏ gọn và ấm cúng nào mà con người tạm thời cô lập chính mình. Nơi đậu quen thuộc nhất của bạn là đỉnh của cột buồm thượng, nơi bạn đứng trên hai thanh gỗ mỏng song song (đặc trưng riêng của người săn cá voi) gọi là xà ngang cột buồm thượng. Tại đây, bị sóng biển quăng quật, người mới bắt đầu cảm thấy ấm cúng giống như đang đứng trên sừng của một con bò gót. Đành rằng, trong thời tiết lạnh bạn có thể mang theo "ngôi nhà" của mình lên cao, dưới hình thức một chiếc áo khoác gác; nhưng nói cho đúng, chiếc áo khoác gác dày nhất cũng chẳng phải là nhà hơn là một thân thể trần truồng; vì giống như linh hồn bị dán chặt bên trong đền thờ bằng thịt da của nó, và không thể tự do di chuyển trong đó, cũng không thể bước ra khỏi đó mà không đối mặt với nguy cơ diệt vong lớn (như một hành hương ngu muối băng qua dãy Alps đầy tuyết vào mùa đông); cho nên chiếc áo khoác gác không phải là một ngôi nhà cho bằng một lớp vỏ bọc, hay một lớp da bổ sung bao bọc bạn. Bạn không thể đặt một chiếc kệ hay tủ ngăn kéo vào trong cơ thể mình, và bạn cũng chẳng thể biến chiếc áo khoác gác thành một buồng chứa đồn tiện lợi.

Liên quan đến tất cả điều này, rất đỗi đáng tiếc là các cột buồm choòi của tàu săn cá voi phương nam không được trang bị những chiếc lều hay bục giảng nhỏ đáng thèm muốn đó, gọi là "tổ quạ", nơi những người gác biển của tàu săn cá voi Greenland được bảo vệ khỏi thời tiết bắc giá của những vùng biển đóng băng. Trong câu chuyện bên bếp lửa của Thuyền trưởng Sleet, mang tên "Chuyến hải trình giữa các băng sơn, tìm kiếm cá voi Greenland, và vô tình phát hiện lại các thuộc địa Iceland đã mất của Greenland cổ"; trong cuốn sách tuyệt vường đó, tất cả người đứng cột buồm choòi đều được cung cấp một mô tả chi tiết đầy mê hoặc về "tổ quạ" mới được sáng chế khi đó của tàu Glacier, đó là tên con tàu tốt của Thuyền trưởng Sleet. Ông gọi nó là tổ quạ của Sleet, để tự tôn vinh mình; ông là người sáng chế gốc và giữ bằng sáng chế, hoàn toàn không có sự khéo léo giả tạo nực cười nào, và giữ quan điểm rằng nếu chúng ta đặt tên con cái theo tên mình (các người cha chúng ta là người sáng chế và giữ bằng sáng chế gốc), thì chúng ta cũng nên đặt tên theo mình cho bất kỳ thiết bị nào khác mà chúng ta tạo ra. Về hình dáng, tổ quạ của Sleet giống như một thùng gỗ lớn hay một chiếc ống; tuy nhiên nó mở ra ở phía trên, nơi được trang bị một tấm che bằng phẳng có thể di chuyển để chắn gió hướng vào đầu bạn khi có bão lớn. Được cố định trên đỉnh cột buồm, bạn leo vào đó qua một nắp sập nhỏ ở đáy. Ở phía sau, tức là phía hướng về đuôi tàu, là một chỗ nồi êm ái, với một hộc tủ bên dưới để ô, áo ấm và áo khoác. Phía trước là một giá bằng da, để giữ loa pin, tẩu thuốc, kính thiên văn và những đồ dùng hàng hải tiện lợi khác. Khi chính Thuyền trưởng Sleet đứng gác cột buồm choòi trong tổ quạ này của ông, ông kể với chúng ta rằng ông luôn mang theo một khẩu súng trường (cũng được cố định trên giá), cùng với một bình thuốc súng và đạn, để bắn gục những con cá voi kỳ lân đi lạc, hay những con kỳ lân biển đi lang thang quấy nhiễu những vùng biển đó; vì bạn không thể bắn chúng thành công từ boong tàu do sức cản của nước, nhưng bắn xuống chúng thì lại là một chuyện hoàn toàn khác. Giờ đây, rõ ràng là một công việc đầy yêu thích đối với Thuyền trưởng Sleet khi mô tả, như ông đã làm, tất cả những tiện nghi chi tiết nhỏ nhặt trong tổ quạ của ông; nhưng dù ông mở rông nhiều về những điều này, và dù ông đãi chúng ta một mô tả rất khoa học về các thí nghiệm của ông trong tổ quạ này, với một chiếc la bàn nhỏ ông giữ ở đó để đề phòng những sai số do "sức hút địa phương" của tất cả các nam châm trên đế la bàn; một sai số có thể quy cho sự gần gần theo chiều ngang của sắt trong các tấm gỗ của tàu, và trong trường hợp của tàu Glacier, có thể là do có quá nhiều thủy thủ là thợ rèn đã giải nghệ; tôi nói rằng, dù Thuyền trưởng rất thận trọng và khoa học ở đây, nhưng với tất cả những "độ lệch la bàn", "quan sát la bàn phương vị", và "sai số xấp xỉ" học thuật của ông, ông biết rất rõ, Thuyền trưởng Sleet à, rằng ông không đằm mình vào những suy tư nam châm sâu sa đó đến mức không thẩm thỉnh thoảng bị thu hút về phía chiếc chai nhỏ đầy ở bên cạnh, được nhét gọn gàng một bên tổ quạ, trong tầm tay với của ông. Dù nói chung, tôi rất khâm phục và chẳng những thế còn yêu mạc vị Thuyền trưởng dũng cảm, trung thực và bác học này; nhưng tôi rất bất bình với ông vì ông đã hoàn toàn ngó lơ chiếc chai đó, khi thấy nó phải là một người bạn trung thành và người an ủi đến nhường nào, trong khi với những ngón tay đeo găng và đầu trùm mũ, ông đang nghiên cứu toán học trên cao đó trong cái tổ chim cần ba hay bốn sào đến cực.

Nhưng nếu những ngư dân săn cá voi Phương Nam chúng tôi không được trú ngụ ấm cúng trên cao như Thuyền trưởng Sleet và những người Greenland của ông; thì nhược điểm đó được bù đắp lớn bởi sự tĩnh lặng tương phản rông lớn của những vùng biển đầy me quyến mà những ngư dân Phương Nam chúng tôi phần lớn trôi dạt. Về phần mình, tôi thường nhông nhơng leo lên dây buồm rất thong thả, nghỉ ngơi ở đỉnh cột để trò chuyện với Queequeg, hay bất kỳ ai khác rảnh rỗi mà tôi có thể tìm thấy ở đó; rồi leo thêm một đoạn nữa, gác một chân lười biếng qua xà buồm thượng, phóng tầm mắt quan sát sơ bộ những đồng cỏ nước, và cuối cùng leo đến đích đến cuối cùng của mình.

Hỗng để tôi trút cần lòng tại đây, và thành thật thừ nhận rằng tôi đã gác giữ chẳng ra sao. Với băn khoăn về vũ trụ xoay vần trong tôi, làm sao tôi—khi được để hoàn toàn một mình ở một độ cao gợi suy tư như vậy—làm sao tôi có thể coi trọng những nghĩa vụ tuân theo mọi mệnh lệnh thường trực của tàu săn cá voi: "Hãy mở to mắt hướng gió, và hô to mỗi lần thấy."

Và hãy để tôi ở nơi này tha thiết nhắc nhở các người, chổ tàu của Nantucket! Hãy cẩn thận đừng chiêu mộ vào ngành ngư nghiệp cảnh giác của các người bất kỳ gã trai nào với trán gầy và mắt sâu; có khuynh hướng suy tư không đúng lúc; và ngỏ ý lên tàu với tác phẩm Phædon thay vì Bowditch trong đầu. Hãy cẩn thận với một kẻ như vậy, tôi nói đấy; cá voi của các người phải được tìm thấy trước khi có thể bị biết đình; và gã thanh niên theo chủ nghĩa Platon mắt sâu này sẽ kéo các người đi mười vòng quanh thế giới mà chẳng bao giờ làm các người giàu thêm đuợc một xị mỡ cá voi nào. Những lời nhắc nhở này cũng chẳng phải là không cần thiết. Vì ngày nay, ngành săn cá voi là nơi trú ẩn cho nhiều gã thanh niên lãng mạn, u sầu và đãng trí, ghê tởm những lo toan phiền muộn của trần thế, và đi tìm tình cảm trong hắc ín và mỡ cá. Childe Harold chẳng hiếm khi tự đậu mình trên cột buồm choòi của một con tàu săn cá voi xui xắn thất vọng nào đó, và trong những câu từ u dột thốt lên:—

Rất thường xuyên các thuyền trưởng của những con tàu như vậy quở trách những nhà triết học trẻ đãng trí đó, trách móc họ không cảm thấy đủ "hứng thú" với chuyến đi; gợi ý một nửa rằng họ đã mất hẳn mọi tham vọng danh dự đến mức trong sâu thẳm tâm hồn họ thà không thấy cá voi còn hơn. Nhưng tất cả đều vô ích; những nhà Platon trẻ đó có một quan điểm rằng thị lực của họ không hoàn haa; họ bị cận thị; vậy thì căng dây thần kinh thị giác để làm gì? Họ đã để kính xem kịch ở nhà rồi.

"Kìa, đồ khỉ kia," một người đâm cá voi nói với một trong những gã trai này, "chúng ta đã đi tuần đại dương gần ba năm nay rồi, và mi vẫn chưa phát hiện ra một con cá voi nào. Cá voi hiếm như răng gà mỗi khi mi ở trên này." Có thể chúng hiếm thật; hoặc có thể có những đàn cá voi ở tận chân trời xa; nhưng bị ru ngủ vào một sự uể uải như xắc thuốc phiện của sự mơ mộng trống rỗng, vô thức, gã thanh niên đãng trí này bởi sự hoà quyện nhịp nhàng của những làn sóng với những suy nghĩ, đến mức cuối cùng gã mất đi bản ngỗ của mình; coi đại dương huyền bí dưới chân mình là hình ảnh hữu hình của tâm hồn xanh thẳm, không đáy đó, lan tỏa khắp nhân loại và tự nhiên; và mọi thứ kỳ lạ, chập chờn, lướt qua, xinh đẹp lẩn tránh gã; mọi vây cá nhô lên được phát hiện mờ nhạt của một hình dáng không thể nhận biết, đều có về với gã là sự hiện thân của những suy nghĩ lẩn tránh đó, những suy nghĩ chỉ làm phồn thịnh tâm hồn bằng cách liên tục lướt qua nó. Trong tâm trạng mê hoặc này, tinh thần của ngươi rút lui về nơi nó đã đến; trở nên lan tỏa qua thời gian và không gian; giống như tro buồn Toàn thần giáo được rắc của Cranmer, cuối cùng trở thành một phần của mọi bờ biển trên khắp quả đất tròn.

Không còn sự sống nào trong ngươi nữa, giờ đây, ngoại trừ sự sống dập dềnh được truyền đến bởi con tàu đang nhắp nhô êm đềm; bởi nó, vay mượn từ biển; bởi biển, từ những thủy triều kỳ diệu của Chúa. Nhưng trong khi cơn ngủ này, giấc mơ này đang ở trên ngươi, hãy di chuyển chân hay tay ngươi một inch; trượt tay buông ra; và bản ngỗ của ngươi quay lại trong sự kinh hoàng. Trên những xoáy nước Descartes ngươi đang bay lượn. Và có thể, vào giữa trưa, trong thời tiết đẹp nhất, với một tiếng thốt nghẹn ngào ngươi rơi qua không khí trong suốt đó xuống biển mùa hạ, không bao giờ trỗi dậy nữa. Hãy ghi nhớ lấy, những người theo Chủ nghĩa Toàn thần!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.