Hai mươi năm sau

Lượt đọc: 692 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 79
Con đường đi tới Picardy.

❊ ❊ ❊

Khi rời khỏi Paris, Athos và Aramis thừa biết rằng họ sẽ phải đối mặt với vô vàn hiểm nguy; nhưng đối với những con người như họ, hiểm nguy chưa bao giờ là điều phải bận tâm. Hơn thế nữa, họ cảm nhận được rằng hồi kết của cuộc hành trình phong ba thứ hai này đã cận kề, và chỉ cần thêm một nỗ lực cuối cùng nữa mà thôi.

Mặt khác, ngay tại Paris cũng chẳng có lấy một phút bình yên. Lương thực bắt đầu cạn kiệt, và bất cứ khi nào một vị tướng của Hoàng tử xứ Conti muốn gia tăng thế lực, kẻ đó lại kích động một cuộc bạo loạn nhỏ trong dân chúng, rồi sau đó dẹp bỏ nó, nhờ vậy mà tạm thời chiếm được ưu thế trước các đồng minh của mình.

Trong một lần bạo loạn như thế, Công tước de Beaufort đã cướp phá dinh thự và thư viện của Mazarin, cốt để ban cho dân chúng, theo cách nói của ông ta, một thứ gì đó để gặm nhấm. Athos và Aramis rời Paris sau cuộc đảo chính này, diễn ra ngay vào buổi tối ngày mà người dân Paris thảm bại ở Charenton.

Họ rời Paris trong cảnh thành phố bị bỏ mặc cho sự túng quẫn cùng cực, gần kề bờ vực nạn đói; xao động vì sợ hãi, xé tơi vì các phe phái. Dù vốn là người Paris và là đảng viên phe Fronde, hai người bạn vẫn đinh ninh rằng mình sẽ tìm thấy nỗi khốn cùng, sự sợ hãi và những mưu mô tương tự trong trại của kẻ thù; nhưng lạ lùng thay, sau khi qua Saint Denis, họ nghe tin ở Saint Germain mọi người vẫn đang ca hát, cười đùa và tận hưởng một cuộc sống vô cùng vui tươi. Hai vị quý tộc chọn đi bằng những con đường tắt để tránh chạm trán với đám quân lính của Mazarin đang rải rác khắp vùng Ile de France, đồng thời cũng để né phe Fronde – những kẻ đang kiểm soát vùng Normandy và luôn sẵn sàng giải tù nhân tới gặp Công tước de Longueville để phân định xem họ là bạn hay thù. Thoát khỏi những hiểm nguy đó, họ quay lại tuyến đường chính dẫn tới Boulogne, đoạn qua Abbeville, rồi dò dẫm từng bước một, quan sát kỹ lưỡng mọi dấu vết.

Tuy vậy, lòng họ vẫn ngập tràn hoài nghi. Họ ghé qua mấy quán trọ, gặng hỏi dăm ba chủ quán, thế nhưng chẳng thu lại được chút manh mối nào dẫn đường chỉ lối. Tới Montreuil, những ngón tay nhạy cảm của Athos bỗng chạm phải một bề mặt sần sùi trên mặt bàn. Anh lật tấm khăn trải bàn lên và phát hiện những ký hiệu tượng hình này được khắc lên gỗ bằng mũi dao:

“Port.... D’Art.... Ngày 2 tháng Hai.”

“Tuyệt quá!” Athos nói với Aramis, “lẽ ra chúng ta đã nghỉ lại đây, nhưng không thể được – phải đi tiếp thôi.” Họ thúc ngựa lên đường và tới Abbeville. Tại đó, quá nhiều quán trọ khiến họ phân vân; họ không thể ghé vào tất cả mọi nơi được; làm sao có thể đoán ra những người họ đang tìm đã trọ lại quán nào chứ?

“Tin tôi đi,” Aramis nói, “đừng mong tìm thấy gì ở Abbeville cả. Nếu chúng ta chỉ đi tìm một mình Porthos, thì gã đã tạt vào một trong những khách sạn trang hoàng lừng lẫy nhất rồi, và chúng ta thừa sức lần ra dấu vết. Nhưng D’Artagnan lại chẳng hề có những điểm yếu đó. Porthos có lẽ còn chẳng tài nào khiến cậu ta nhận ra rằng mình sắp chết đói; cậu ta cứ thế tiến bước bất chấp số mệnh lạnh lùng, và chúng ta buộc phải tìm cậu ta ở một nơi khác.”

Họ tiếp tục hành trình. Giờ đây, đó đã trở thành một công việc mệt mỏi và gần như vô vọng; và nếu không vì ba thứ động lực thiêng liêng là danh dự, tình bạn và lòng biết ơn hằn sâu trong lồng ngực, hai người lữ khách của chúng ta hẳn đã từ bỏ từ lâu những chuyến dò dẫm trên cát, những cuộc gặng hỏi dân làng và những cái nheo mắt săm soi từng gương mặt qua đường.

Họ cứ thế tiến về phía Péronne.

Athos bắt đầu thấy tuyệt vọng. Bản chất cao quý của anh cảm thấy sự mù mịt này chẳng khác nào một vết nhơ đối với họ. Họ đã không tìm kiếm những người bạn thất lạc một cách kỹ càng. Họ đã không đủ kiên quyết trong những câu hỏi của mình. Họ đang sẵn lòng quay gót trở lại, thì khi vượt qua khu ngoại ô dẫn đến cổng thành, trên một bức tường trắng ở góc phố uốn lượn quanh chiến lũy, Athos tình cờ bắt gặp một bức vẽ bằng than đen. Với nét vẽ vụng về của một kẻ lần đầu cầm bút, nó mô tả hai kỵ sĩ đang phi nước đại như bay; một trong số họ cầm trên tay một cuộn giấy ghi dòng chữ: “Chúng đang bám theo chúng ta.”

“Ồ!” Athos thốt lên, “rõ mười mươi thế này rồi; nếu bị truy đuổi gắt gao đến mức không thể nhúc nhích, hẳn D’Artagnan đã chẳng có thời gian dừng lại đây lấy năm phút, điều đó thắp lên hy vọng rằng cậu ấy có thể đã trốn thoát.”

Aramis lắc đầu.

“Nếu cậu ấy trốn thoát thì chúng ta đã nhìn thấy hoặc nghe ngóng được tin tức rồi.”

“Cậu nói đúng, Aramis, đi thôi.”

Thật không thể tả hết sự nôn nóng và lo âu của hai người bạn. Sự bất an bao trùm lấy trái tim dịu dàng, kiên định của Athos, còn những dự cảm hãi hùng lại là nỗi dằn vặt đối với một kẻ bốc đồng như Aramis. Họ phi nước đại suốt hai hoặc ba tiếng đồng hồ dữ dội không kém gì những kỵ sĩ trên vách tường. Bỗng nhiên, tại một khúc cua hẹp, họ nhận thấy con đường bị chặn một phần bởi một hòn đá khổng lồ. Rõ ràng nó đã được một cánh tay có sức mạnh phi thường lăn ngang qua đường.

Aramis dừng lại.

“Ồ!” anh nói, nhìn chằm chằm vào hòn đá, “đây là tác phẩm của Hercules hoặc Porthos rồi. Xuống ngựa thôi, chúng ta hãy lại gần kiểm tra hòn đá này.”

Cả hai cùng xuống ngựa. Hòn đá rõ ràng được mang đến với dụng ý chặn đứng con đường, nhưng có ai đó nhận ra chướng ngại vật nên đã đẩy xê dịch nó đi một phần.

Với sự trợ giúp của Blaisois và Grimaud, hai người bạn cuối cùng đã lật được hòn đá lại. Ở mặt tiếp giáp với mặt đất có khắc những dòng chữ sau:

“Tám tên lính kỵ mã nhẹ đang truy đuổi chúng tôi. Nếu tới được Compiègne, chúng tôi sẽ dừng chân ở quán Con Công. Chủ quán là bạn của chúng ta.”

“Cuối cùng chúng ta cũng có được một manh mối xác thực,” Athos nói; “đến quán Con Công thôi.”

“Được chứ,” Aramis đáp, “nhưng muốn đến đó thì chúng ta phải để cho lũ ngựa nghỉ ngơi cái đã, chúng sắp hộc cả phổi ra rồi kìa.”

Aramis nói rất phải; họ dừng chân ở quán trọ đầu tiên, cho mỗi con ngựa nuốt trọn một lượng lúa mạch trộn rượu vang gấp đôi bình thường; họ để chúng nghỉ ngơi ba tiếng đồng hồ rồi mới lên đường. Bản thân hai người đàn ông cũng kiệt sức gần chết, nhưng hy vọng đã nâng đỡ họ.

Sáu tiếng sau, họ tới Compiègne và xuống ngựa tại quán Con Công. Chủ quán là một người đáng kính, đầu trọc lóc như một người Trung Hoa. Họ hỏi hắn xem cách đây không lâu hắn có tiếp đón hai vị quý tộc bị kỵ binh truy đuổi trọ lại trong nhà hay không; không trả lời, hắn bước ra ngoài và mang vào một lưỡi gươm.

“Các ngài có nhận ra cái này không?” hắn hỏi.

Athos chỉ liếc nhìn qua.

“Đó là thanh kiếm của D’Artagnan,” anh nói.

“Nó thuộc về người thấp hay người cao trong số hai vị khách đó?” chủ quán hỏi.

“Người thấp hơn.”

“Thế thì tôi biết các ngài là bạn của hai vị đó rồi.”

“Nào, chuyện gì đã xảy ra với họ thế?”

“Họ bị tám tên lính kỵ mã nhẹ truy đuổi, chúng xông thẳng vào sân trước khi họ kịp đóng cổng lại.”

“Tám tên!” Aramis thốt lên; “tôi ngạc nhiên là hai anh hùng như Porthos và D’Artagnan lại để cho tám tên gã tóm cổ.”

“Tám gã đó chắc chắn đã thất bại nếu không có sự tiếp viện của hai mươi binh sĩ thuộc trung đoàn lính Ý phục vụ trong quân đội nhà vua đang đóng quân tại thị trấn này – thế nên các bạn của các ngài đã bị áp đảo về số lượng.”

“Họ bị bắt rồi sao?” Athos gặng hỏi; “có ai biết lý do vì sao không?”

“Thưa ngài, họ bị áp giải đi ngay lập tức, thậm chí còn chẳng kịp nói cho tôi biết nguyên do; nhưng ngay khi họ vừa đi khỏi, tôi nhặt được mảnh gươm gãy này trong lúc phụ giúp khiêng hai xác chết và năm, sáu người bị thương.”

“Vẫn còn an ủi chán khi họ không bị thương,” Aramis nói.

“Họ bị dẫn đi đâu?” Athos hỏi.

“Hướng về thị trấn Louvres,” câu trả lời vang lên.

Sau khi thống nhất để lại Blaisois và Grimaud ở Compiègne cùng lũ ngựa, hai người bạn quyết định thuê ngựa trạm; và sau một bữa ăn trưa vội vã, họ tiếp tục hành trình tới Louvres. Tại đây, họ chỉ tìm thấy một quán trọ duy nhất, nơi bán một loại rượu mùi vẫn giữ được tiếng tăm cho đến tận thời đại chúng ta và vẫn được sản xuất tại thị trấn đó.

“Chúng ta ghé vào đây thôi,” Athos nói. “D’Artagnan sẽ không đời nào bỏ lỡ cơ hội uống một ly rượu mùi này, đồng thời để lại chút dấu tích của cậu ấy.”

Họ bước vào thị trấn và gọi hai ly rượu mùi tại quầy bar – y hệt như những người bạn của họ đã từng làm trước đó. Quầy bar được bọc một tấm hợp kim thiếc; trên mặt tấm thiếc đó có khắc dòng chữ bằng đầu nhọn của một chiếc ghim lớn: “Rueil... D..”

“Họ đã đến Rueil,” Aramis kêu lên.

“Đi đến Rueil thôi,” Athos nói.

“Chẳng khác nào tự sát vào hang hùm,” Aramis ngậm ngùi.

“Nếu tôi là bạn thân của nhà tiên tri Jonah như đối với D’Artagnan, tôi đã theo hắn vào tận trong bụng cá voi; và cậu cũng sẽ làm thế thôi, Aramis.”

“Tất nhiên rồi – nhưng ngài đang đánh giá tôi tốt hơn thực tế đấy, bá tước thân mến ạ. Nếu đi một mình, chắc chắn tôi sẽ chẳng đời nào dám bén mảng đến Rueil mà không cẩn trọng hết mức. Nhưng cậu đi đâu, tôi theo đó.”

Thế là họ khởi hành đi Rueil. Tại đây, các nghị viên quốc hội vừa mới đến để tham gia vào những cuộc họp hội nghị nổi tiếng kéo dài tới ba tuần, và cuối cùng đẻ ra thứ hòa ước nhục nhã mà kết quả là hoàng tử đã bị bắt giữ. Rueil đông nghịt những luật sư, chủ tọa và hội đồng từ phía Paris kéo đến, còn phía triều đình thì có các sĩ quan và cận vệ; do đó, giữa chốn hỗn loạn này, việc lẩn trốn sao cho không ai để ý là chuyện vô cùng dễ dàng; vả lại, các cuộc hội nghị ngầm hiểu là có lệnh hưu chiến, và việc bắt giữ hai vị quý tộc, dù có là đảng viên phe Fronde đi nữa, vào thời điểm này cũng sẽ bị coi là hành vi xâm phạm các quyền lợi của nhân dân.

Hai hòa chung vào dòng người đông đúc và ngỡ rằng ai nấy cũng đang bận tâm đến cùng một nỗi niềm dằn vặt họ. Họ chờ đợi được nghe ai đó nhắc đến D’Artagnan hay Porthos, nhưng mọi người đều cắm cổ bàn về các điều khoản và cải cách. Athos đưa ra lời khuyên là hãy đến thẳng chỗ vị bộ trưởng.

“Bạn tôi ơi,” Aramis bảo, “hãy cẩn trọng; sự an toàn của chúng ta nằm ở chỗ chúng ta vô danh tiểu tốt. Nếu để lộ danh tính, chúng ta sẽ được tống vào giam chung với bạn mình ở một cái hào sâu thẳm nào đó, nơi mà quỷ sứ cũng chẳng thể cứu ra nổi. Chúng ta hãy cố gắng tìm họ không phải bằng sự ngẫu nhiên, mà bằng suy luận của mình. Bị bắt ở Compiègne, họ đã bị giải về Rueil; tới Rueil, họ bị Hồng y thẩm vấn, ngài ta hoặc giữ họ ở cạnh mình hoặc đã tống họ đi Saint Germain. Còn về nhà tù Bastile, họ không ở đó đâu, dù Bastile sinh ra là dành riêng cho phe Fronde. Họ chưa chết, bởi cái chết của D’Artagnan sẽ gây ra một tiếng vang lớn. Riêng Porthos, tôi tin gã trường tồn như Chúa trời, dẫu có kém kiên nhẫn hơn một chút. Đừng có nản lòng, hãy cứ đợi ở Rueil, vì trực giác mách bảo tôi rằng họ đang ở đây. Nhưng cậu bị làm sao thế? Trông cậu tái mét kìa.”

“Là vì chuyện này,” Athos đáp với giọng run run.

“Tôi nhớ rằng tại lâu đài Rueil, Hồng y Richelieu đã cho xây dựng một số ngục tối ‘oubliettes’ vô cùng rùng rợn.”

“Ồ! Đừng sợ,” Aramis trấn an. “Richelieu là một nhà quý tộc, vai vế ngang hàng với chúng ta, và vượt trội chúng ta về chức vị. Ông ta có thể, giống như nhà vua, chạm tay vào đầu những kẻ lớn lao nhất trong số chúng ta, và cái chạm đó đủ khiến những chiếc đầu ấy phải rung lắc trên cổ. Nhưng Mazarin chỉ là một tên tiểu nhân hèn mus, giỏi lắm thì cũng chỉ túm cổ áo chúng ta giống như một tên lính canh mà thôi. Cứ bình tĩnh – vì tôi chắc chắn rằng D’Artagnan và Porthos đang ở Rueil, vẫn bình an vô sự.”

“Nhưng,” Athos tiếp lời, “tôi vẫn giữ nguyên đề xuất ban đầu của mình. Tôi chẳng thấy cách nào tốt hơn là hành động đường hoàng cởi mở. Tôi sẽ đi tìm, không phải Mazarin, mà là hoàng hậu, và nói với ngài rằng: ‘Thưa hoàng hậu, xin hãy trả lại cho chúng tôi hai bộc nhân và cũng là hai người bạn của chúng tôi.’”

Aramis lắc đầu.

“Đó là kế sách cuối cùng, nhưng đừng vội dùng đến khi chưa thực sự bắt buộc; thà chúng ta kiên trì dò dẫm tìm kiếm còn hơn.”

Họ tiếp tục cuộc tìm kiếm và cuối cùng cũng chạm trán một tên lính kỵ mã nhẹ từng thuộc lực lượng hộ vệ áp giải D’Artagnan tới Rueil.

Tuy vậy, Athos vẫn cứ khăng khăng quay lại ý định xin diện kiến hoàng hậu.

“Muốn gặp hoàng hậu,” Aramis nói, “trước tiên chúng ta phải gặp hồng y cái đã; và khi chúng ta đã gặp hồng y rồi – hãy nhớ lời tôi nói đây, Athos – chúng ta sẽ được đoàn tụ với bạn mình, nhưng không phải theo cách mà cậu muốn đâu. Thú thật là cách đoàn tụ đó chẳng hấp dẫn gì với tôi sất. Hãy cứ hành động trong sự tự do, để chúng ta có thể làm việc thật hiệu quả và nhanh chóng.”

“Tôi sẽ đi,” anh quả quyết, “tôi sẽ gặp hoàng hậu.”

“Vậy thì,” Aramis đáp, “làm ơn báo trước cho tôi hay trước một hai ngày, để tôi tranh thủ dịp đó mà cao chạy xa bay về Paris.”

“Gặp ai cơ chứ?”

“Chúa quỷ! Làm sao mà tôi biết được? Chắc là đến gặp Công tước phu nhân de Longueville. Mụ ta quyền lực tột đỉnh ở ngoài đó; mụ sẽ giúp tôi. Nhưng nhớ gửi tin báo cho tôi nếu cậu bị bắt đấy, vì khi ấy tôi sẽ quay lại ngay lập tức.”

“Sao cậu không thử vận may để bị bắt cùng tôi luôn đi?”

“Không, xin cảm ơn.”

“Nếu bị bắt, cả bốn chúng ta lại được đoàn tụ với nhau, tôi dám cá là chúng ta chẳng mất đến hai mươi tư tiếng đồng hồ trong tù để tẩu thoát đâu.”

“Bạn tôi ơi, kể từ khi tôi tiễn Châtillon về chầu trời – kẻ được bao quý cô ở Saint Germain sủng ái, tôi đã trở thành một nhân vật quá nổi tiếng để mà không phải dè chừng nhà tù gấp bội. Hoàng hậu rất có khả năng sẽ nghe theo lời khuyên của Mazarin mà đem tôi ra xử tử hình đấy.”

“Cậu nghĩ bà ta yêu tên người Ý đó nhiều như thiên hạ đồn đại sao?”

“Chẳng phải mụ từng yêu một gã người Anh đó sao?”

“Bạn tôi ơi, mụ ấy là một phụ nữ mà.”

“Không, không, cậu lầm rồi – mụ ta là một nữ hoàng.”

“Bạn hiền ạ, tôi sẽ hy sinh thân mình và đi gặp Anne xứ Austria.”

“Vĩnh biệt Athos, tôi đi triệu tập một đội quân đây.”

“Để làm gì?”

“Quay lại vây hãm Rueil.”

“Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở đâu?”

“Dưới chân giá treo cổ của tên hồng y.”

Hai người bạn chia tay nhau – Aramis quay về Paris, còn Athos tiến hành các bước chuẩn bị cho cuộc diện kiến hoàng hậu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.