Hai mươi năm sau

Lượt đọc: 671 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 49
Bất hạnh làm sáng tỏ trí nhớ.

❊ ❊ ❊

Anna xứ Áo quay trở lại phòng nguyện với cơn giận dữ ngút trời.

“Thật chứ!” bà kêu lên, đôi bàn tay tuyệt mỹ xiết chặt vào nhau, “Thật chứ! Dân chúng từng chứng kiến Monsieur de Condé, một hoàng thân quốc thích, bị chính mẹ chồng ta là Maria de Médicis bắt giữ; họ từng thấy mẹ chồng ta, cựu nhiếp chính của họ, bị hồng y trục xuất; họ từng thấy Monsieur de Vendôme, tức con trai của Henri IV., bị giam cầm tại Vincennes; thế mà trong lúc những nhân vật lớn lao ấy bị giam hãm, lăng mạ và đe dọa, họ chẳng nói nửa lời; còn bây giờ, chỉ vì một tên Broussel—lạy Chúa! rốt cuộc thì hoàng gia sẽ đi về đâu?”

Vô tình, vương hậu đã chạm đến câu hỏi đầy nhức nhối ấy. Dân chúng từng chẳng hề có một hành động biểu tình nào vì các vương công, nhưng họ đã nổi dậy vì Broussel; họ đang đứng về phía một kẻ bình dân và khi bảo vệ Broussel, bản năng mách bảo họ rằng họ đang tự bảo vệ chính mình.

Trong lúc ấy, Mazarin đi đi lại lại trong phòng làm việc, thỉnh thoảng liếc nhìn chiếc gương Venice đẹp đẽ nay đã rạn nứt khắp nơi. “Chà!” ông ta tự nhủ, “thật đáng buồn, ta thừa nhận, khi buộc phải nhượng bộ thế này; nhưng thôi nào! chúng ta sẽ có ngày báo thù. Broussel là cái thá gì chứ—đó chỉ là một cái tên, chứ không phải bản chất sự việc.”

Mazarin, một chính trị gia cáo già là thế, nhưng lần này đã nhầm; Broussel chính là bản chất sự việc, chứ không chỉ là cái tên.

Bởi vậy, vào sáng hôm sau, khi Broussel tiến vào Paris trên một cỗ xe lớn, với người con trai Louvières ngồi bên cạnh và Friquet ở phía sau, đám đông liềnổ ạt kéo ra cản đường. Tiếng hô “Vạn tuế Broussel!” “Vạn tuế phụ thân của chúng ta!” vang lên từ mọi ngả, tựa những nhát dao đâm vào tai Mazarin; và các mật thám của ngài hồng y mang về những tin tức tồi tệ từ khắp nơi. Điều đó khiến vị bộ trưởng vô cùng bấn loạn, nhưng lại được vương hậu đón nhận với vẻ bình thản. Vương hậu dường như đang ấp ủ trong đầu một đòn quyết định nào đó, thực tế càng làm tăng thêm sự bất an của hồng y—người vốn thừa hiểu tính khí kiêu kỳ của vị công nương và rất e sợ quyết định của Anna xứ Áo.

Phó giám mục trở lại nghị viện với uy quyền tựa một vị vua, lấn át cả nhà vua, vương hậu và hồng y cộng lại. Theo lời khuyên của ông ta, một sắc lệnh từ nghị viện đã kêu gọi người dân hạ vũ khí và dỡ bỏ các chiến lũy. Nhưng giờ đây, họ thừa hiểu rằng chỉ cần một tiếng đồng hồ để cầm lại vũ khí và một đêm để dựng lại các chiến lũy.

Rochefort đã trả lại cho Chevalier d’Humières đội kỵ binh năm mươi người của ông ta, thiếu mất hai kẻ khi điểm danh. Thế nhưng bản thân viên hiệp sĩ trong thâm tâm lại là một người theo phe Frondist nên chẳng muốn nghe nhắc gì đến chuyện đền bù.

Lão ăn mày đã trở lại chốn cũ trên bậc thềm nhà thờ Saint Eustache, một tay lại tiếp tục phân phát nước thánh tay kia chìa ra xin bố thí. Chẳng ai có thể ngờ rằng chính đôi bàn tay ấy đã từng góp sức rút đi hòn đá tảng chống đỡ cả tòa lâu đài hoàng gia.

Louvières đang vô cùng kiêu hãnh và thỏa mãn; hắn đã trả thù được Mazarin và góp phần giải cứu cha mình khỏi ngục tối. Tên tuổi hắn từng vang lên như một sự kinh hoàng tại Palais Royal. Hắn cười phá lên và hỏi người nghị viên vừa được đoàn tụ với gia đình:

“Cha có nghĩ rằng, nếu bây giờ con xin một đại đội thì vương hậu sẽ ban cho con không?”

D’Artagnan tranh thủ khoảng thời gian tĩnh lặng này để tống khứ Raoul đi. Hắn đã rất vất vả mới giữ được Raoul ở yên trong nhà suốt vụ bạo loạn, bởi cậu thiếu niên nhất mực đòi ra trận đánh một trận cho ra trò, dù đứng về phe này hay phe khác. Ban đầu Raoul còn tỏ ý chống đối; nhưng D’Artagnan đã viện đến tên của Comte de la Fère, và sau khi đến thăm Madame de Chevreuse, Raoul liền lên đường tái ngũ.

Chỉ có mình Rochefort là không thỏa mãn với cái kết của vụ việc. Hắn từng viết thư giục Duc de Beaufort đến và vị công tước sắp sửa đặt chân tới nơi, thế nhưng ông ta lại bước vào một Paris hoàn toàn yên bình. Hắn bèn tìm gặp phó giám mục để bàn xem có nên sai người báo công tước dừng chân dọc đường hay không, nhưng Gondy trầm ngâm một lát rồi đáp:

“Hãy cứ để ngài ấy tiếp tục hành trình.”

“Mọi chuyện chưa chấm dứt sao?” Rochefort hỏi.

“Quý ngài bá tước thân mến, chúng ta chỉ vừa mới bắt đầu thôi.”

“Điều gì khiến ngài nghĩ vậy?”

“Sự thấu hiểu của ta về tâm can vương hậu; bà ta sẽ không đời nào chịu ngồi yên khi bị đánh bại.”

“Phải chăng bà ta đang chuẩn bị một đòn hiểm?”

“Ta hy vọng là thế.”

“Thôi nào, hãy cho tôi biết những gì ngài nắm được đi.”

“Ta biết bà ta đã viết thư gọi hoàng thân gấp rút trở về từ mặt trận.”

“À ha!” Rochefort thốt lên, “ngài nói đúng. Chúng ta phải để Monsieur de Beaufort đến.”

Quả thực, vào buổi tối sau cuộc trò chuyện ấy, lời đồn đại hoàng thân de Condé đã về đến nơi bắt đầu lan truyền. Đó là một tình huống rất bình thường, tự nhiên nhưng lại gây ra một chấn động sâu sắc. Người ta đồn rằng Madame de Longueville—người được hoàng thân dành cho tình cảm vượt trên mức tình thân huynh đệ và là người được ông tin tưởng—đã lỡ lời. Sự tin tưởng của ông đã vô tình làm lộ ra kế hoạch đen tối của vương hậu.

Ngay trong đêm hoàng thân trở về, một số công dân gan dạ hơn những người khác, như các quan tòa, các đại úy và sĩ quan quân nhu, đã đi từng nhà trong số bạn bè của họ và bàn tán:

“Tại sao chúng ta không bắt lấy nhà vua và đưa ngài đến Tòa thị chính? Thật hổ thẹn khi để mặc ngài cho kẻ thù nhồi sọ, những kẻ sẽ xui giục ngài làm điều quấy; trong khi nếu được nuôi dưỡng bởi phó giám mục chẳng hạn, ngài sẽ thấm nhuần những nguyên tắc quốc gia và biết yêu thương thần dân của mình.”

Đêm đó, vấn đề ấy đã được bàn tán kín đáo, và vào hôm sau, những chiếc áo choàng màu xám và đen, các đội tuần tra gồm những tiểu thương mang vũ khí, cùng các băng nhóm ăn mày lại xuất hiện trở lại.

Vương hậu đã trải qua cả đêm trong cuộc họp kín với hoàng thân—người đã bước vào phòng nguyện lúc nửa đêm và mãi đến năm giờ sáng mới rời đi.

Đến năm giờ, Anna bước vào phòng của hồng y. Nếu như bà vẫn chưa chợp mắt thì ít ra ông ta cũng đã thức dậy từ lâu. Sáu trong số mười ngày mà ông ta xin Mordaunt đã trôi qua; thế nên ông đang bận rộn xem xét lại bản thảo trả lời Cromwell thì có tiếng gõ nhẹ ở cánh cửa thông sang căn hộ của vương hậu. Chỉ có một mình Anna xứ Áo được phép đi qua cánh cửa đó. Do đó, vị hồng y liền đứng dậy ra mở cửa.

Vương hậu vẫn mặc chiếc áo dài mặc nhà buổi sáng, nhưng nó càng tôn lên vẻ đẹp của bà; bởi vì, giống như Diana de Poictiers và Ninon, Anna xứ Áo có đặc ân mãi mãi giữ được nhan sắc trẻ trung; thế nhưng sáng nay trông bà còn xinh đẹp hơn thường lệ, bởi đôi mắt ngời lên thứ ánh sáng rực rỡ mà sự mãn nguyện thầm kín mang lại cho biểu cảm của con người.

“Có chuyện gì vậy, thưa vương hậu?” Mazarin lo lắng hỏi. “Trông ngài có vẻ vô cùng đắc ý.”

“Phải, Giulio,” bà đáp, “ta tự hào và hạnh phúc; bởi ta đã tìm ra cách bóp chết con quái vật nhiều đầu này.”

“Ngài quả là một nhà chính trị vĩ đại, thưa vương hậu của ta,” Mazarin nói; “xin hãy cho ta nghe cách thức đó.” Và ông ta che giấu những gì mình vừa viết bằng cách trượt bức thư xuống dưới một tập giấy trắng khổ lớn.

“Ngài biết đấy,” vương hậu nói, “họ muốn cướp nhà vua khỏi tay ta?”

“Khốn thay! đúng vậy, và còn muốn treo cổ tôi nữa.”

“Họ sẽ không tài nào cướp được nhà vua.”

“Cũng như không thể treo cổ tôi.”

“Hãy lắng nghe đây. Ta muốn đưa con trai ta trốn khỏi bọn chúng, cùng với chính ngài. Ta muốn sự kiện này—ngay khi được lật tẩy sẽ hoàn toàn đảo lộn cục diện thời cuộc—được thực hiện mà không có bất kỳ ai khác hay biết ngoài ngài, ta và một người thứ ba.”

“Và người thứ ba ấy là ai?”

“Monsieur le Prince.”

“Ngài ấy đã đến rồi sao, như người ta vẫn đồn đại?”

“Tối hôm qua.”

“Và ngài đã gặp ngài ấy rồi chứ?”

“Ngài ấy vừa mới rời khỏi đây.”

“Và ngài ấy sẽ ủng hộ kế hoạch này chứ?”

“Kế hoạch này chính do ngài ấy vạch ra.”

“Còn Paris thì sao?”

“Ngài ấy sẽ bỏ đói nó và buộc nó phải đầu hàng vô điều kiện.”

“Kế hoạch này không thiếu phần vĩ đại; chỉ có điều tôi thấy có một trở ngại.”

“Đó là gì?”

“Sự bất khả thi.”

“Thật là một từ ngớ ngẩn. Chẳng có gì là không thể cả.”

“Trên giấy tờ thì thế.”

“Trong thi hành thực tế. Chúng ta có tiền không?”

“Một ít,” Mazarin run rẩy đáp, sợ rằng Anna sẽ đòi khoắng vào hầu bao của mình.

“Quân đội?”

“Năm hoặc sáu nghìn quân.”

“Lòng dũng cảm?”

“Rất nhiều.”

“Vậy thì mọi chuyện thật dễ dàng. Ồ! ngài hãy hình dung xem, Giulio! Paris, cái thành phố Paris đáng ghét ấy, thức dậy vào một buổi sáng mà chẳng có lấy nổi một bóng vua hay vương hậu, bị bao vây, cô lập, chết đói—với chỗ dựa duy nhất là cái nghị viện ngu ngốc cùng gã phó giám mục chân vòng kiềng của chúng!”

“Quá tuyệt! Quá tuyệt!” Mazarin nói. “Tôi có thể tưởng tượng ra hiệu ứng đó, nhưng lại chẳng thấy phương án thực hiện đâu.”

“Chính ta sẽ tìm ra phương án.”

“Ngài thừa biết đó sẽ là chiến tranh, một cuộc nội chiến tàn khốc, điên cuồng, ăn tươi nuốt sống và không khoan nhượng?”

“Ồ! phải, phải, chiến tranh chứ,” Anna xứ Áo quả quyết. “Phải, ta sẽ biến cái thành phố nổi loạn này thành tro bụi. Ta sẽ dập tắt ngọn lửa ấy bằng máu! Ta sẽ biến tội ác lẫn hình phạt thành một tấm gương rùng rợn để đời. Paris ư!; Ta—ta căm ghét, ta kinh tởm nó!”

“Rất hay, Anna. Giờ thì ngài rất hiếu chiến đấy; nhưng hãy cẩn thận. Chúng ta không còn sống trong thời đại của Malatesta và Castruccio Castracani nữa đâu. Ngài sẽ tự rước họa chém đầu đấy, vương hậu xinh đẹp của tôi ạ, và điều đó thật đáng tiếc biết bao.”

“Ngài đang cười cợt đấy à.”

“Chỉ cười trừ thôi. Thật nguy hiểm khi gây chiến với cả một quốc gia. Hãy nhìn người đồng nghiệp của ngài là Vua Charles I mà xem. Ngài ấy đang có một kết cục tồi tệ, vô cùng tồi tệ.”

“Chúng ta đang ở Pháp, và ta là người Tây Ban Nha.”

“Càng tệ hơn; tôi thà rằng ngài là người Pháp và bản thân tôi cũng thế; khi ấy thiên hạ sẽ bớt căm ghét cả hai chúng ta đi phần nào.”

“Dù sao đi nữa, ngài vẫn đồng ý chứ?”

“Vâng, nếu như điều đó khả thi.”

“Nó hoàn toàn khả thi; chính ta là người bảo đảm với ngài điều đó; hãy chuẩn bị hành lý đi.”

“Tôi ư! Lúc nào tôi cũng sẵn sàng lên đường, chỉ có điều, như ngài biết đấy, tôi chẳng bao giờ đi đâu cả, và có lẽ lần này cũng sẽ đi ít hệt như những lần trước mà thôi.”

“Tóm lại, nếu ta đi, ngài có đi cùng không?”

“Tôi sẽ cố gắng.”

“Ngài cứ làm ta phát bực lên được, Giulio, với những nỗi sợ hãi vẩn vơ của ngài; vậy rốt cuộc ngài đang sợ cái gì chứ?”

“Nhiều thứ lắm.”

“Chúng là gì nào?”

Khuôn mặt Mazarin, dẫu vẫn đang mỉm cười, chợt tối sầm lại.

“Anna,” ông ta nói, “ngài suy cho cùng cũng chỉ là một người phụ nữ, và dưới danh nghĩa một người phụ nữ, ngài có thể thỏa sức lăng mạ đàn ông khi biết chắc mình sẽ nhởn nhơ vô sự. Ngài buộc tội tôi là kẻ hèn nhát; nhưng tôi chẳng đến nỗi hèn nhát như ngài đâu, bởi tôi có bỏ trốn hèn nhát như ngài làm đâu. Thiên hạ đang hò hét chống lại ai? Là chống lại ngài hay chống lại tôi? Bọn chúng muốn treo cổ ai, ngài hay tôi? Chà, tôi có thể vượt qua cơn bão này—tôi, kẻ mà bất chấp điều đó, vẫn bị ngài quy chụp là nhèn nhát—không phải bằng cách khoác lác, đó không phải phong cách của tôi; nhưng tôi kiên định. Hãy bắt chước tôi đi. Bớt làm ầm ĩ lên và suy nghĩ sâu sắc vào. Ngài la hét rất to, nhưng rốt cuộc chẳng làm được gì; ngài cứ mở miệng là đòi trốn chạy—”

Mazarin nhún vai, đoạn cầm lấy tay vương hậu kéo ra bên cửa sổ.

“Nhìn kìa!” ông ta nói.

“Sao nào?” vương hậu đáp, sự cố chấp đã che mờ cả tầm nhìn của bà.

“Được rồi, ngài nhìn thấy gì từ khung cửa sổ này? Nếu tôi nhầm thì đó chính là những tên dân quân, đội mũ sắt giáp trụ đàng hoàng, tay lăm lăm những khẩu súng hỏa mai xịn chẳng khác gì thời Liên minh thánh chiến, và ánh mắt chúng đang dán chặt vào khung cửa sổ này đến mức chúng sẽ trông thấy ngài nếu ngài vén tấm rèm đó lên quá cao đấy; và giờ hãy sang phía bên kia—ngài thấy gì nào? Lũ dân đen cầm mã tấu đang canh gác các cửa ra vào của ngài. Ngài sẽ thấy cảnh tượng y hệt ở mọi lối đi từ cung điện này ra mà tôi có thể dẫn ngài tới. Các cửa ra vào của ngài đã bị canh gác, các lỗ thông gió dưới hầm của ngài cũng bị canh gác, và tôi có thể nói với ngài y như lời gã La Ramee tốt bụng từng nói với tôi về Duc de Beaufort, rằng ngài buộc phải hóa thành chim hoặc chuột mới mong thoát thân được.”

“Dù vậy, hắn vẫn tẩu thoát được đấy thôi.”

“Ngài tính trốn thoát theo cách tương tự sao?”

“Vậy ra ta là một tù nhân ư?”

“Parbleu!” Mazarin thốt lên, “suốt cả tiếng đồng hồ qua tôi vẫn đang chứng minh điều đó cho ngài thấy đấy thôi.”

Và ông ta điềm tĩnh quay trở lại với bản công văn dang dở chỗ bị ngắt quãng.

Anna, run rẩy vì giận dữ và mặt đỏ bừng vì tủi nhục, bước ra khỏi phòng, đóng sầm cửa lại một cách bạo lực. Mazarin thậm chí còn chẳng buồn quay đầu nhìn lại. Khi đã trở về căn phòng riêng của mình, Anna ngã gục xuống ghế và khóc nức nở; rồi chợt bừng tỉnh bởi một ý nghĩ lóe lên trong đầu:

“Ta được cứu rồi!” bà kêu lên, đứng phắt dậy; “Ồ, phải! phải chứ! ta biết một kẻ sẽ tìm ra cách đưa ta rời khỏi Paris, một kẻ mà ta đã lãng quên quá lâu.” Rồi chìm đắm vào dòng suy tưởng, bà lại lẩm bẩm với vẻ mặt ngập tràn niềm vui, “Đúng là một kẻ vô ơn bội nghĩa, suốt hai mươi năm qua ta lại đi quên mất con người này—người mà lẽ ra ta phải phong hàm Thống soái nước Pháp. Mẹ chồng ta từng vung tiền bạc, ân sủng và tước vị cho Concini, kẻ đã đẩy bà ấy đến chỗ hủy diệt; nhà vua từng ban chức Thống soái nước Pháp cho Vitry chỉ vì một vụ mưu sát: thế mà ta lại để cho một người cao quý như D’Artagnan—ân nhân đã cứu mạng ta—phải chịu cảnh tối tăm, nghèo khó!”

Và bà chạy hộc tốc đến chiếc bàn đặt giấy bút mực, vội vã đặt bút viết.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.