Hai mươi năm sau

Lượt đọc: 560 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Bàn về những tác động kỳ lạ mà nửa đồng pistole có thể mang lại

❊ ❊ ❊

Khi bước qua cầu Pont Neuf, D’Artagnan không khỏi tự chúc mừng mình vì đã tìm lại được Planchet, bởi ở thời điểm đó, một gã người làm thông minh là vô cùng cần thiết đối với chàng. Chàng cũng rất hài lòng vì nhờ Planchet và vị trí của hắn ở phố Rue des Lombards, một mối liên hệ với tầng lớp tư sản có thể được bắt đầu, ngay trong giai đoạn then chốt khi tầng lớp này đang chuẩn bị tuyên chiến với phe triều đình. Điều đó chẳng khác nào cài được một kẻ do thám vào phe địch. Với tâm trạng ấy, vừa biết ơn cuộc gặp gỡ tình cờ với Planchet vừa hài lòng về bản thân, D’Artagnan đã đến nhà thờ Notre Dame. Chàng rảo bước lên các bậc giáo đường, đi vào bên trong rồi đến gần một người gác cửa đang quét dọn nhà nguyện để hỏi xem người này có biết ông Bazin không.

“Ông Bazin, người coi nhà thờ ấy à?” Người gác cửa nói. “Có chứ. Ông ấy đang dự lễ Mễ-sa ở nhà nguyện Đức Mẹ kìa.”

D’Artagnan suýt nữa thì nhảy cẫng lên vì sung sướng. Chàng vốn đã tuyệt vọng trong việc tìm Bazin, nhưng giờ đây, chàng nghĩ bụng, một khi đã nắm được một đầu dây thì chắc chắn sẽ tìm ra đầu dây còn lại.

Chàng quỳ xuống ngay đối diện nhà nguyện để không mất dấu người cần tìm; và vì gần như đã quên sạch các bài kinh nguyện lại không mang theo sách, chàng tranh thủ thời gian đó để quan sát Bazin.

Có thể thấy Bazin khoác trên mình bộ trang phục với một thái độ vô cùng trang nghiêm và chuẩn mực đạo hạnh. Chẳng khó để nhận ra rằng hắn đã đạt đến đỉnh cao ước vọng, và cây gậy nạm bạc hắn cầm trên tay, đối với hắn, cũng là một biểu trưng danh giá chẳng kém gì cây gậy thống chế mà Condé đã ném — hoặc không ném — vào dòng quân địch trong trận Fribourg. Thân hình hắn cũng biến chuyển tương ứng với trang phục; vóc dáng trở nên tròn trặn và mang đậm nét chức sắc. Những đường nét góc cạnh trên gương mặt đã bị xóa hòa; hắn vẫn còn cái mũi, nhưng hai gò má béo múp đã lấn át mất phần nào; cằm dính liền với cổ, mắt sưng phồng lên vì đôi má phính; mái tóc cắt ngắn theo phong cách thánh thiện che phủ trán xuống tận lông mày.

Vị linh mục hành lễ vừa kết thúc buổi lễ Mễ-sa trong lúc D’Artagnan mải nhìn Bazin; ngài xướng lên những lời ban Bí tích rồi lui vào sau khi ban phép lành. Những người xưng tội đang quỳ tiếp nhận phép lành trong sự ngạc nhiên của D’Artagnan, vì chàng nhận ra vị linh mục chính là Đức phó Giám mục Jean Francois Gondy nổi tiếng. Vào thời điểm đó, do linh cảm được vai trò mình sắp đảm nhận, ông bắt đầu lấy lòng quần chúng bằng cách phát chẩn. Chính vì mục đích này mà thỉnh thoảng ông lại tự tay cử hành những buổi lễ Mễ-sa sớm vốn thường chỉ có tầng lớp bình dân tham dự.

D’Artagnan quỳ xuống như mọi người, nhận phần phép lành và làm dấu thánh giá; nhưng khi Bazin bước qua, mắt ngước lên trời và khiêm nhường đi ở cuối hàng, D’Artagnan liền kéo gấu áo hắn.

Bazin nhìn xuống và giật mình nảy người như thể vừa nhìn thấy một con rắn.

“Quan bác D’Artagnan!” Hắn kêu lên. “Vade retro Satanas! (Lui ra, hỡi Quỷ Sa-tăng!)”

“Sao thế, Bazin anh bạn?” Chàng sĩ quan cười nói. “Anh đón tiếp một người bạn cũ như thế đấy ư?”

“Thưa ông,” Bazin đáp, “những người bạn thực sự của một tín đồ Đấng Christ là những người giúp ông ấy cứu rỗi linh hồn, chứ không phải những kẻ cản trở ông ấy.”

“Ta không hiểu anh nói gì, Bazin; ta cũng chẳng thấy mình làm chướng ngại vật trên con đường cứu rỗi của anh ở chỗ nào,” D’Artagnan nói.

“Ông quên rồi sao, thưa ông, rằng chính ông đã suýt nữa làm hỏng vĩnh viễn sự cứu rỗi của chủ tôi; và cũng tại ông mà ông ấy suýt bị đày xuống địa ngục vĩnh viễn vì tiếp tục làm lính cận vệ, trong khi thiên chức thực sự của ông ấy là dành cho giáo hội.”

“Bazin anh bạn,” D’Artagnan nói, “từ nơi anh gặp ta lúc này, đáng lẽ anh phải nhận ra rằng ta đã thay đổi rất nhiều về mọi mặt chứ. Tuổi tác mang lại sự khôn ngoan, và vì ta không ngờ vực gì việc chủ anh đang trên đường cứu rỗi, ta muốn anh chỉ cho ta biết ông ấy ở đâu, để ông ấy có thể giúp ta tìm thấy sự cứu rỗi của chính mình.”

“Đúng hơn là để lôi ông ấy trở lại với cõi đời trần tục thì có. Mắn thay, tôi không biết ông ấy ở đâu.”

“Cái gì!” D’Artagnan kêu lên. “Anh không biết Aramis ở đâu sao?”

“Ngày trước,” Bazin đáp, “Aramis là cái tên đưa ông ấy đến chốn đọa lạc. Aramis có nghĩa là Simara, tên của một con quỷ. May mắn cho ông ấy là ông ấy đã không còn mang cái tên đó nữa.”

“Vậy nên,” D’Artagnan kiên nhẫn đến cùng, “người ta tìm không phải là Aramis, mà là Chủng sinh d’Herblay. Nào, Bazin anh bạn, nói cho ta biết ông ấy ở đâu đi.”

“Ông không nghe tôi nói gì sao, quan bác D’Artagnan, rằng tôi không biết ông ấy ở đâu?”

“Có chứ, ta nghe chứ; nhưng ta trả lời rằng điều đó là không thể nào.”

“Dù vậy, đó vẫn là sự thật, thưa ông — sự thật thuần túy, sự thật của Chúa lòng lành.”

D’Artagnan thấy rõ mình sẽ chẳng xơ múi được gì từ gã này, kẻ rõ ràng đang dối trá khi vờ như không biết nơi ở của Aramis, nhưng lại nói dối một cách trơ tráo và quyết liệt.

“Được rồi, Bazin,” D’Artagnan nói, “vì anh không biết chủ mình sống ở đâu, chúng ta sẽ không nói về chuyện đó nữa; hãy chia tay nhau như những người bạn tốt. Hãy nhận lấy nửa đồng pistole này để uống mừng sức khỏe của ta.”

“Tôi không uống” — Bazin trang trọng gạt tay chàng sĩ quan ra — “thứ đó chỉ dành cho người trần mắt thịt.”

“Thật là ngai vàng không lay chuyển!” D’Artagnan lẩm bẩm. “Mình xui xẻo thật.” Và trong khi chàng còn mải suy nghĩ, Bazin đã rút lui về phía phòng thánh, và ngay cả khi ở đó, hắn vẫn chưa thấy an toàn cho đến khi đã đóng chặt và khóa cửa lại.

D’Artagnan vẫn còn đang chìm trong suy nghĩ thì có ai đó vỗ vào vai chàng. Chàng quay lại và định thốt lên một tiếng ngạc nhiên thì người kia đã ra hiệu bảo chàng giữ im lặng.

“Anh ở đây ư, Rochefort?” Chàng nói nhỏ.

“Suỵt!” Rochefort đáp. “Anh đã biết tôi được tự do chưa?”

“Tôi biết từ nguồn tin cậy nhất — từ Planchet. Mà điều gì đưa anh đến đây vậy?”

“Tôi đến để cảm tạ Chúa vì đã giải thoát cho tôi,” Rochefort nói.

“Và không còn gì khác nữa sao? Tôi đoán đó không phải là tất cả.”

“Để nhận lệnh từ Đức phó Giám mục và xem chúng ta có thể làm Mazarin thức giấc một chút không.”

“Một kế hoạch tồi; anh sẽ lại bị tống giam vào ngục Bastille thôi.”

“Ồ, về chuyện đó thì tôi sẽ cẩn trọng, tôi bảo đảm với anh đấy. Bầu không khí, bầu không khí trong lành và tự do mới tuyệt làm sao; hơn nữa,” Rochefort vừa nói vừa hít một hơi thật sâu, “tôi sắp về quê làm một chuyến du ngoạn đây.”

“Khoan đã,” D’Artagnan kêu lên; “tôi cũng sắp đi đây.”

“Và nếu tôi có thể mạn phép hỏi — anh đi đâu?”

“Đi tìm bạn bè của tôi.”

“Những người bạn nào?”

“Những người mà anh đã hỏi ngày hôm qua.”

“Athos, Porthos và Aramis — anh đang tìm họ sao?”

“Đúng vậy.”

“Nói danh dự đấy chứ?”

“Có gì đáng kinh ngạc trong chuyện đó đâu?”

“Chẳng có gì. Nhưng kỳ lạ thật đấy. Mà anh tìm họ vì ai?”

“Anh còn phải nghi ngờ về điều đó sao.”

“Đúng thế thật.”

“Bất hạnh thay, tôi lại chẳng có manh mối nào về nơi ở của họ.”

“Và anh không có cách nào lấy được tin tức của họ sao? Hãy đợi một tuần đi, chính tôi sẽ cung cấp tin tức cho anh.”

“Một tuần thì lâu quá. Tôi phải tìm thấy họ trong vòng ba ngày.”

“Ba ngày là quá ngắn mà nước Pháp thì rộng lớn lắm.”

“Không sao; anh biết từ ‘phải’ rồi đấy; với từ đó, người ta có thể làm nên những việc lớn lao.”

“Vậy khi nào anh khởi hành?”

“Bây giờ tôi đang trên đường đi đây.”

“Chúc anh may mắn.”

“Và chúc anh — một chuyến đi tốt đẹp.”

“Có lẽ chúng ta sẽ gặp nhau trên đường đấy.”

“Điều đó không có khả năng lắm.”

“Ai biết được? Sự ngẫu nhiên vốn dĩ rất thất thường. Tạm biệt, hẹn gặp lại! Nhân tiện, nếu Mazarin có nói với anh về tôi, hãy nhắn với ông ta rằng tôi đã nhờ anh báo cho ông ta biết rằng chẳng mấy chúa ông ta sẽ thấy liệu tôi có quá già để hành động như ông ta nói hay không.”

Và Rochefort bỏ đi với một trong những nụ cười quỷ quái từng khiến D’Artagnan phải rùng mình ngày trước, nhưng giờ đây D’Artagnan đã có thể nhìn nụ cười đó mà không hề sợ hãi. Chàng mỉm cười lại, với một vẻ u buồn mà có lẽ chỉ những ký ức gợi lên bởi nụ cười ấy mới có thể hiện lên trên khuôn mặt chàng, rồi nói:

“Đi đi, ác quỷ, cứ làm gì ngươi muốn! Giờ đây chuyện đó chẳng còn quan trọng với ta nữa. Trên đời này sẽ chẳng có Constance thứ hai đâu.”

Khi trở lại nhà thờ lớn, D’Artagnan thấy Bazin đang trò chuyện với người trông nom đồ thánh. Bazin đang dùng đôi tay ngắn ngủi, gầy gò của mình để thực hiện những điệu bộ buồn cười. D’Artagnan nhận ra rằng hắn đang dặn dò người kia phải cẩn trọng đối với chàng.

D'Artagnan lẻn ra khỏi nhà thờ lớn và phục kích ở góc phố Rue des Canettes; Bazin không thể nào đi ra khỏi nhà thờ mà chàng không nhìn thấy.

Năm phút sau, Bazin xuất hiện, ngó nghiêng khắp phía xem có ai theo dõi mình không, nhưng hắn chẳng thấy ai. Yên tâm trước tình hình đó, hắn đánh liều bước tiếp qua phố Rue Notre Dame. Lúc này, D’Artagnan lao ra khỏi chỗ nấp và kịp nhìn thấy Bazin rẽ vào phố Rue de la Juiverie rồi đi vào một ngôi nhà trông có vẻ đàng hoàng ở phố Rue de la Calandre; D’Artagnan không chút nghi ngờ đây chính là nơi ở của gã người coi nhà thờ đáng kính. Sợ hãi việc do thám ở ngôi nhà này, D’Artagnan đi vào một quán rượu nhỏ ở góc phố và gọi một cúp rượu hypocras. Thứ đồ uống này mất tốt một nửa thời gian nửa giờ mới pha chế xong. Và D’Artagnan nhờ đó có thời gian để theo dõi Bazin mà không bị nghi ngờ.

Chàng nhận ra trong quán rượu một cậu bé lém lỉnh khoảng từ mười hai đến mười lăm tuổi mà chàng tưởng như mình vừa nhìn thấy chưa đầy hai mươi phút trước trong bộ dạng một chú bé hát xướng. Chàng hỏi gã, và vì cậu bé chẳng có lợi ích gì khi dối trá, D’Artagnan biết được rằng cậu làm công việc hát xướng từ sáu giờ sáng đến chín giờ, và từ chín giờ sáng đến nửa đêm làm bồi bàn trong quán rượu.

Trong khi chàng đang trò chuyện với đứa trẻ này, một con ngựa được dắt đến trước cửa nhà Bazin. Nó đã được đóng yên và gắn dây cương. Ngay sau đó, Bazin đi xuống cầu thang.

“Nhìn kìa!” Cậu bé nói, “gã người coi nhà thờ của chúng ta sắp đi xa đấy.”

“Và ông ta đi đâu?” D’Artagnan hỏi.

“Thật tình, cháu không biết.”

“Nửa đồng pistole nếu cháu có thể tìm ra,” D’Artagnan nói.

“Cho cháu sao?” Cậu bé kêu lên, mắt sáng rực lên vì sung sướng, “nếu cháu tìm ra Bazin đi đâu ư? Chuyện đó đâu có khó. Ông không đùa đấy chứ?”

“Không, trên danh dự của một sĩ quan; nửa đồng pistole đây;” và chàng cho cậu bé xem đồng tiền đầy quyến rũ, nhưng không đưa cho cậu.

“Cháu sẽ đi hỏi ông ấy.”

“Đó chính là cách để không biết đấy. Hãy đợi cho đến khi ông ta khởi hành rồi, quỷ bắt bắt lấy, hãy đến hỏi và tìm hiểu. Nửa đồng pistole đã sẵn sàng rồi,” và chàng nhét nó trở lại vào túi.

“Cháu hiểu rồi,” đứa trẻ nói, với nụ cười chế giễu vốn là đặc trưng của những “gamin de Paris” (đứa trẻ đường phố Paris). “Được rồi, chúng ta phải đợi thôi.”

Họ không phải đợi lâu. Năm phút sau, Bazin phi ngựa nước đại ra đi, thúc con ngựa bằng những cú đập của chiếc ô mà hắn có thói quen dùng thay cho roi cưỡi ngựa.

Vừa mới rẽ qua góc phố Rue de la Juiverie, cậu bé đã lao theo hắn như một con chó săn theo đánh hơi chuẩn xác.

Chưa đầy mười phút sau, đứa trẻ đã quay lại.

“Sao rồi!” D’Artagnan nói.

“Chà!” Cậu bé đáp, “việc đã xong rồi.”

“Ông ta đi đâu?”

“Nửa đồng pistole là của cháu chứ?”

“Chắc chắn rồi, trả lời ta đi.”

“Cháu muốn xem nó. Đưa cháu xem để biết nó không phải giả.”

“Đây.”

Đứa trẻ nhét đồng tiền vào túi.

“Và bây giờ, ông ta đi đâu?” D’Artagnan hỏi.

“Ông ấy đi Noisy.”

“Làm sao cháu biết?”

“A, thật ra! Đâu cần phải tinh khôn lắm đâu. Cháu biết con ngựa ông ấy cưỡi; nó thuộc về ông đồ tể, người thỉnh thoại lại cho ông Bazin thuê. Cháu nghĩ ông đồ tể sẽ không cho thuê ngựa như thế mà không biết nó đi đâu. Và ông ấy trả lời ‘ông Bazin đi Noisy.’ Đó là thói quen của ông ấy. Ông ấy đi hai hoặc ba lần một tuần.”

“Cháu có biết rõ Noisy không?”

“Cháu nghĩ là có chứ, thật đấy; vú nuôi của cháu sống ở đó.”

“Có một tu viện ở Noisy phải không?”

“Chẳng lẽ không có một tu viện lớn và uy nghi — tu viện của Dòng Tên sao?”

“Cháu tên gì?”

“Friquet.”

D’Artagnan viết tên đứa trẻ vào sổ tay.

“Xin lỗi, thưa ông,” cậu bé nói, “ông có nghĩ cháu có thể kiếm thêm nửa đồng pistole nào bằng cách nào khác không?”

“Có lẽ,” D’Artagnan đáp.

Và khi đã có được tất cả những gì mình muốn, chàng trả tiền cho ly rượu hypocras mà chàng không uống, rồi nhanh chóng trở lại phố Rue Tiquetonne.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.